lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa - Lich Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thần Việt Điện Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Trang Trúc-Lâm Nguyễn-Việt Phúc-Lộc và Trúc-Lâm Lê-An-Bình

Hội Sử-Học Việt-Nam
Vietnamese historical Association
http://vietnamdefence.info

- Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà -

Lời Kêu Gọi Thứ  3

1, 2, 3

Trúc Lâm Nguyễn Việt Phúc Lộc

...

III. Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà Năm 1010:

Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà đã được vua Lê Đại Hành cùng ngài Pháp Thuận thiền sư sắp xếp một cách chu đáo, và cho xuất hiện trước sau một cách cẩn thận. Do đó đã là nền tảng vững chắc cho độc lập tự chủ của tộc bách Việt. Cho dù vua Lê Đại Hành chỉ trị vì được 24 năm và băng hà vào năm 1005, nhưng với nền tảng vững chắc này đã mở ra một thời đại huy hoàng cho lịch sử tộc Việt. Đồng thời đã mở đường cho một nhân vật lớn của lịch sử Việt Nam xuất hiện để tiếp nối di chí của nhà tiền Lê.

Như trên đã nêu sau khi vua Lê Đại Hành băng hà, trong nước xảy ra nhiều biến loạn, vì nhà vua theo triều trước (triều Đinh), phế trưởng lập ấu. Điều này khiến các vị hoàng tử tranh giành ngôi vị, tàn sát lẫn nhau, đưa đến kết quả Lê Long Đĩnh (hay Lê Ngọa Triều) lên làm vua sau khi giết vua Lê Trung Tông.

Khi vua Lê Trung Tông bị giết chết, triều đình bị xáo trộn, mọi người hoảng sợ bỏ chạy, chỉ còn Điện tiền quan Lý Công Uẩn ở lại ôm xác vua mà khóc. Lê Ngọa Triều vì muốn lấy lòng quan viên trong triều nên đã phong cho Lý Công Uẩn là Tứ xương quân phó chỉ huy sứ.

Trong bốn năm trị vì của Lê Ngọa Triều, nhà vua này chỉ lo hoang dâm tửu sắc lại tàn bạo độc ác, đã khiến đất nước bi đát, nhân dân lầm than. Do đó ảnh hưởng trầm trọng đến vận mạng đất nước khiến nhà Tống lăm le muốn trở lại xâm chiếm nước ta, nhưng họ vẫn còn chờ cơ hội tốt hơn. Và điều này là động lực xảy ra cuộc chính biến năm 1009 để nhà Lý thay thế nhà Tiền Lê cai trị xứ sở đối phó với ngoại xâm. Một trong những người chủ trương cuộc chính biến đó, không ai khác hơn là Vạn Hạnh thiền sư. Cũng nên biết thêm là thời vua Lê Đại Hành, Vạn Hạnh thiền sư là vị cố vấn quân sự cho nhà vua.

Do nhận thấy Lê Ngọa Triều đã không còn là mẫu người lãnh đạo lý tưởng của đất nước, một tiêu chuẩn mà Pháp Thuận thiền sư đưa ra trong bài thơ Vận Nước "...nhàn nhã trên điện các, cõi cõi hết đao binh" thực tế chỉ thấy ông vua này biểu hiện "...hung bạo trên điện các, cõi cõi khởi đao binh". Một trong những hành động hung bạo đó là Lê Ngọa Triều ngang nhiên róc mía trên đầu Tăng thống Quách Mão (Đại Việt Sử Ký Toàn Thư gọi là sư Quách Ngang), làm bộ như lỡ tay làm đầu ngài Quách Mão bị thương chảy máu rồi cả cười. Hơn nữa sau hai năm cầm quyền Lê Ngọa Triều lại đổi tất cả vương phục của triều đình cũng như tăng đạo Đại Cồ Việt giống như triều đình nhà Tống.

Lý tưởng quân tử và lý tưởng bồ tát đã được lồng vào hai bài thơ Vận Nước Ý Dân và Nam Quốc Sơn Hà qua đó nêu bật đức tính cần phải có của một người lãnh đạo chính trị tài đức song toàn cho dân tộc. Đến ngày hôm nay, năm 2010, đức tính này vẫn còn có giá trị một cách tuyệt đối.

Lý tưởng quân tử được thầy Mạnh Tử định nghĩa như sau: Phú quý bất năng dâm. Khi người quân tử được giàu sang thì không nên say mê danh vọng, địa vị, sắc đẹp, bài bạc, hút sách ở cuộc đời; Bần cùng bất năng di. Người quân tử cho dù gặp nhiều khó khăn trở ngại hay bần cùng trong lý tưởng hay trên cuộc đời cũng không nên nản chí mà bỏ đi lý tưởng mình đã và đang theo đuổi; Uy vũ bất năng khuất. Người quân tử không bao giờ bị khuất phục bởi sức mạnh, cường quyền.

Lý tưởng bồ tát là lòng Nhân bao trùm trời đất. Cũng như thà bỏ mình chứ không bỏ hạnh. Đó là những điều tinh yếu được kết tập trong quyển Lục Độ Tập Kinh của bồ tát Khương Tăng Hội. Nhờ đâu có sự kết tập để tạo nên lòng nhân bao trủm trời đất đó? Chính là nhờ nền tảng tư tưởng thời vua Hùng là hai nền văn minh Đông Sơn, Lạch Trường kết hợp với tư tưởng Phật giáo mà hình thành nên. Chính nhờ lòng Nhân này, dân tộc Việt, văn hóa Việt mới còn hiện diện cho đến ngày hôm nay (thế kỷ thứ 21).

Lý tưởng quân tử và lý tưởng bồ tát đã là nền móng vững chắc để hình thành nền Tam giáo đồng nguyên tức là Phật giáo, Khổng giáo và Nho giáo. Mà người có công lớn nhất để thể hiện tư tưởng này thành một thực tế, người đó không ai khác hơn là Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn.

Do những sự kiện nêu trên, cuộc chính biến năm 1009 đương nhiên phải xảy ra và đã đưa Điện Tiền Chỉ Huy Sứ Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế.

Để tạo động lực và lý cớ chính đáng cho cuộc chính biến này, ngài Vạn Hạnh thiền sư đã chủ động sáng tác bài thơ nói về vận hạn của các triều Tiền Lê, Lý, Trần cũng như Hậu Lê. Bài thơ này là một bài sấm được Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng như Việt Sử Tiêu Án nhận định như sau: "Xét một sơn sét đánh thành văn chỉ 40 chữ, mà khoảnh 1100 năm, sự phế hưng của các đời, tên họ đều bao gồm gần hết. Trời có nói gì đâu. Đó là bởi Vạn Hạnh giỏi việc xét đoán, nhân sét đánh cây bông gạo, thác văn vào đấy, để tỏ ra thần dị...".

Nguyên âm:

Thụ căn diễu diễu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông a nhập địa
Dị mộc tái sinh
Chấn cung hiện nhật
Đoài cung ẩn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình

Nghĩa:

Gốc cây công thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Hòa đao mộc rụng
Thập bát tử thành
Thời Trần giặc đến
Họ Lê tái sinh
Cung chấn trời hiện
Cung đoài sao chênh
Khoảng sáu bảy ngày
Thiên hạ thái bình

Ngài Vạn Hạnh thiền sư đã đem ý nghĩa bài sấm này bàn với Điện tiền thị vệ Lý Công Uẩn về việc lòng dân ý trời nhà tiền Lê phải ra đi, nhường chỗ cho nhà Lý lên tiếp nối di chí Vận Nước Ý Dân Nam Quốc Sơn Hà; đồng thời Đào Cam Mộc cũng đã khuyên Công Uẩn: "Hồi trước đức vua tối tăm bạc ác, trời chán ghét ngài mà con ngài thì còn nhỏ tuổi chưa thể đảm đương buổi đa nạn này, dân chúng đang khao khát chân chúa ra đời như đại hạn mong mưa. Vậy Thân vệ nên thừa cơ hội cương quyết theo dấu vua Thang, vua Võ. Xem việc của họ Lê (chỉ việc vua Lê Đại Hành chấm dứt nhà Đinh) trước đây cũng là chính đáng, thuận lòng trời và lòng dân, sao lại khư khư giữ cái tiết mọn? ..."

Ngày hôm sau, Đào Cam Mộc lại nói: "Lời sấm trên cây bông gạo đã rõ, người trong nước ai cũng tin họ Lý sẽ chổi dậy, việc đổi họa ra phúc cho đất nước chỉ ở đầu hôm sớm mai, Thân Vệ còn ngại ngùng gì nữa?"

Thực ra việc lên ngôi vua của Điện tiền thị vệ Lý Công Uẩn đã được chuẩn bị trước đó trên cả trăm năm, từ các vị thiền sư La Quí, Định Không. Quan điểm của các ngài là vùng đất Cổ Pháp trong tương lai sẽ sản sinh bậc đế vương của nước Việt. Người có trách nhiệm tiếp nối và trực tiếp để hoàn thành sứ mạng đối với dân tộc và Phật giáo đó là Vạn Hạnh thiền sư.

Thế rồi cuộc chính biến đã xảy ra như những người chủ trương mong đợi. Mùa đông tháng 10 ngày tân Hợi năm 1009, vua Lê Ngọc Triều băng hà. Điện tiền thị vệ Lý Công Uẩn chính thức nhận trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, bước lên ngai vua xưng là Lý Thái Tổ vào ngày Ất mão (ba ngày sau khi vua Lê Ngọc Triều giá băng), nhằm ngày 2 tháng 11 năm Kỷ Dậu, tức ngày 21 tháng 11 năm 1009.

Năm 1010 vua Lý Thái Tổ lấy niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất.

Tiểu sử Lý Công Uẩn được các quyển sử xưa ghi như ngài họ Lý, tên húy là Công Uẩn, người châu Cổ Pháp Bắc Giang, thân mẫu họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn mộng cùng người thần kết hợp rồi hoài thai. Đức vua sinh ngày 12 tháng 2 năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 [974] thời Đinh. Ngài được nhà sư Lý Khánh Vân chùa Cổ Pháp nuôi dưỡng và giáo dục từ lúc 3 tuổi, do đó mới đổi là họ Lý. Sau đó theo học với thiền sư Vạn Hạnh, rồi thiền sư Đa Bảo. Khi trưởng thành, làm quan triều nhà Lê thăng đến chức Điện tiền chỉ huy sứ.

Vua Lý Thái Tổ nhận thấy thành Hoa Lư chật hẹp không đủ nơi để điều hành một triều đình cũng như phong thổ không thuận tiện cho việc phát triển đất nước, nên quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Ngoài ra nhà vua còn đích tay viết bản Thiên đô chiếu. Trong đó nhận xét phong thủy thành Đại La là nơi vùng đất ở giữa, vùng đất linh thiêng sản sinh ra nhân tài hào kiệt.

Vào tháng 7 mùa thu năm 1010, vua Lý Thái Tổ dùng thuyền để dời đô từ thành Hoa Lư ra thành Đại La, thuyền dừng dưới bờ thành, bổng có rồng vàng (Toàn Thư) hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long.

Một trong những nền tảng tư tưởng quan trọng cho việc nhà Lý xây dựng và củng cố đất nước, đó là bài chiếu thiên đô do chính Lý Thái Tổ ngự soạn. Đây là một văn bản tiếp nối hai bài thơ Vận nước ý dân và Nam quốc sơn hà. Bài chiếu thiên đô này có ý nghĩa rất sâu xa, đã ảnh hưởng đến vận mạng đất nước cả ngàn năm nay.

Sau khi lên ngôi cửu ngũ, vua Lý Thái Tổ đã thực hiện hàng loạt cải cách quan trọng cho đất nước sau nhiều năm đau thương thống khổ dưới triều vua Lê Ngọa Triều.

Việc làm đầu tiên của ngài là phóng thích các loài chim muông thú vật và còn công bố trong dân nếu ai có sự gì oan ức muốn kiện tụng thì đến thẳng hoàng cung đưa đơn và đích thân nhà vua sẽ giải quyết.

Một năm sau, 1011 vua Lý Thái Tổ ban lịnh đại xá trong toàn quốc, đồng thời cấp phát quần áo thuốc men và cho về quê cũ làm ăn sinh sống những người đã bị Lê Ngọa Triều bắt giữ. Song song ông đã xóa nợ thuế trong 3 năm cho cả nước. Và 3 năm sau, vua lại xuống chiếu miễn thuế ruộng cho người dân. Năm 1014 trong lúc mở hội La Hán ở Long Trì, vua Thái Tổ đã xuống chiếu tha tội cho những người bị đày và bị tội đồng thời tha phân nữa thuế cho cả nước. Năm 1017 tha thuế ruộng cho nông dân, năm 1018 tha phân nữa thuế ruộng cho cả nước. Nhất là những năm mất mùa, hạn hán, đói kém đều được triều đình chú ý giúp đỡ hoặc mở kho phân phát tiền gạo cho dân v.v…

Vua Lý Thái Tổ đặt nặng vấn đề giáo dục, nên sau khi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, ngài đã cho xây tám ngôi chùa ở phủ Thiên Đức, đồng thời trùng tu nhiều chùa khác ở các lộ và độ hơn ngàn người xuất gia làm tăng sĩ ở kinh thành.

Vua Lý Thái Tổ chưa xây tông miếu, nhưng dựng chùa cốt để làm nơi đào tạo nhân tài cho xứ sở. Ở đây cho chúng ta thấy tấm lòng vị tha vô ngã của ngài chỉ nghĩ đến tương lai đất nước hơn là chăm lo cho dòng họ của mình.

Ngài độ cho người cho xuất gia đầu Phật, không phải chỉ một lần vào năm 1010, mà còn nhiều lần khác. Năm 1014 chuẩn y lập đàn truyền giới theo yêu cầu của Hữu nhai tăng thống Thẩm Văn Uyển; Năm 1016 cấp độ điệp cho hơn 1000 người làm tăng ở kinh thành; Năm 1019 xuống chiếu cấp độ điệp cho người dân trong nước được xuất gia làm tăng.

Vua Lý Thái Tổ khi lên ngôi vua đã ban bố nhân nghĩa đến cả nước. Ngay cả những loài chim muông thú vật cũng được lợi ích; Ngài còn đặt nền tảng lâu dài cho giáo dục qua việc xây cũng như trùng tu nhiều chùa chiền là trung tâm văn hóa, giáo dục vào thời đó. Song song ngài độ người xuất gia đã có lợi ích lớn về mặt kinh tế và xã hội. Một mặt hạn chế đà tăng trưởng dân số mặt khác bớt đi những tiêu cực ở một xã hội trong buổi giao thời, đồng thời đã cung ứng đầy đủ nhân tài phục vụ đất nước.

Các chính sách nhân nghĩa, văn hóa, giáo dục, kinh tế đã xây dựng một nền tảng vững chắc cho nhà Lý và nhà Lý đã tồn tại trong tự chủ, hùng cường và giàu mạnh trong hơn hai thế kỷ (216 năm).

Bây giờ chúng ta cùng nhau xem vận nước ý dân của Thăng Long ngàn năm sau mà tên gọi là Hà Nội. Từ đó có thể rút được kinh nghiệm nào cho dân tộc trong thời gian sắp tới. Là thời gian quan trọng quyết định cho sự sinh tồn của nòi giống.

1, 2, 3

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter