lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Bí Mật Hội Nghị Thành Đô Tứ Xuyên Trung Cộng 1990: 

- Tiến trình đàm phán bí mật Hội Nghị Thành Đô 1990 - Kỳ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 (Huỳnh Tâm); Hồ Chí Minh, một gián điệp hoàn hảo Kỳ 6-6 (Huỳnh-Tâm) 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Giặc Hán Đốt Phá Nhà Nam (Huỳnh-Tâm) 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2015...)

Quân Sử Việt Nam

Southeast Asia Sea

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2015

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

 

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Southeast Asia Sea be long to the Républic of Vietnam

Thư Viện Quân Sự Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa 

cờ việt nam bay, quốc kỳ việt nam tung bay phất phới

southeast asia sea, biển đông việt nam, south china sea, biển nam trung hoa

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

Tin liên quan: Hội Nghị Sát Nhập Việt Nam vào China : Tỉnh hay Khu Tự Trị ? (Ninh Cơ ghi lại. Trích tài liệu chép lại từ băng ghi âm cuộc họp mật giữa đại diện Tổng Cục Tình Báo Hoa Nam và Tổng Cục 2 Việt Nam để lưu trữ, được bảo quản theo chế độ tuyệt mật).

*

Vấn đề lãnh thổ biên giới Việt Nam - Trung cộng

Đặng Vũ Chính

Các cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung và vấn đề lãnh thổ luôn có mối liên quan mật thiết với nhau từ trong lịch sử cũng như cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 hoặc sau đó. Các quan điểm cho rằng Việt Nam đã mất lãnh thổ sau cuộc chiến tranh xâm lược bành trướng bá quyền 1979 của Trung Quốc dựa trên Công Ước Về Hoạch Ðịnh Biên Giới Giữa Việt Nam và Trung Quốc ký giữa Pháp và Nhà Thanh của Trung Hoa ký năm 1885 và ký vào ngày 26 tháng 6 năm 1887 vẫn còn hiệu lực và phù hợp với Hiến chương Liên Hiệp Quốc. 

Quan điểm mất lãnh thổ

Có hai quan điểm chính về vấn đề tranh chấp lãnh thổ Việt Nam - Trung Quốc.

Có quan điểm cho rằng Việt Nam đã mất một số lãnh thổ trong cuộc chiến này như Lê Chí Quang thì Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc 720 cây số vuông, cũng như một bộ phận người Việt ở hải ngoại thì cho rằng chính phủ Việt Nam theo chế độ cộng sản đã nhường đất cho Trung Quốc (cũng là một nước theo chế độ cộng sản) bằng Hiệp định về Biên giới trên Đất liền ngày 30/12/1999 và cần đòi lại bằng vũ lực hoặc bằng công pháp quốc tế.

Mặt khác, phía Việt Nam khẳng định chiều dài dọc biên giới là 1350 cây số trong khi đó thì phía Trung Quốc lại cho rằng chiều dài này chỉ có 1200 cây số, theo tin từ những nhà ngoại giao ở Hà Nội là Việt Nam đã phải nhượng cho Trung Quốc hầu hết những cao điểm chiến lược mà Trung Quốc đã chiếm được trong cuộc chiến năm 1979.

Ải Nam Quan

Cho đến năm 1954 người Pháp còn quản lý ải Nam Quan.

Hồng Ðức Bản Ðồ, được thiết lập vào năm 1490 đã tả Ải Nam Quan của Đại Việt. Tâm Quang-Langlet trong bài "La perception des frontières dans l'Ancien Vietnam à travers quelques cartes vietnamiennes et occidentales" (Quan niệm biên giới ở Việt Nam thời trước qua vài bàn đồ Việt Nam và Tây Phương) trong quyển "Les frontières du Vietnam, Histoire des frontières de la péninsule indochinoise (Các biên giới của Việt Nam, Lịch sử các biên giới trên bán đảo Ðông Dương), nhà xuất bản L'Harmattan, 1989, cho biết rằng trên bản đồ Hồng Ðức có vẽ hình một cái đồn để tượng trưng cho ải Nam Quan và có ghi chú là Ải Nam Quan nằm ở huyện Văn Uyên và tại đấy có hai đài, đài Chiêu Ðức và đài Ngưỡng Ðức.

Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan: "Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là Ðại Nam Quan, phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề "Trấn Nam Quan", dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ "Trung ngoại nhất gia", dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có Chiêu đức đài, đằng sau đài có "Ðình tham đường" (Nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có "Ngưỡng đức đài" của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ."

Năm 1774, Ðốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu sửa, xây lại Ải Nam Quan bằng gạch. Về việc sửa sang đài Ngưỡng Ðức, văn bia của Nguyễn Trọng Ðang ghi khắc có đoạn như sau: "... Ðài [Ngưỡng-Ðức] không biết dựng từ năm nào; hình như mới có từ khoảng niên hiệu Gia-Tĩnh nhà Minh, ngang với niên-hiệu Nguyên-Hòa, đời vua Lê Trang Tông ở nước ta. Ðài không có quán, hai bên tả hữu lợp bằng cỏ; sửa chữa qua loa, vẫn theo như cũ. Nhà Lê ta trung hưng, đời thứ 14, vua ta kỷ-nguyên thứ 41, là năm Canh tý, ngang với năm thứ 44 niên hiệu Càn-Long nhà Thanh; Ðang tôi làm chức Ðốc-trấn (Lạng-Sơn), trải qua 5 năm là năm Giáp-thìn; sửa chữa lại, xây dựng bằng gạch ngói, đài mới có vẻ hoành tráng...".

Theo "Ðịa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ" của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Ðỗ Ðình-Nghiêm (Nhà in Lê Văn Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926): "Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là Tam-Lung; đến cây-số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng-Ðăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km."

Theo "Ði thăm Ðất Nước" của Hoàng Ðạo-Thúy (Nhà Xuất-bản Văn-hoá, Hà-Nội, 1976), "Ðồng-Ðăng cách biên-giới Trung-quốc 4 km. Nơi đây có Hữu-Nghị Quan của Trung-quốc" và quyển "Phương Ðình Dư địa chí" của Nguyễn Văn Siêu (bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh, Tự-Do xuất-bản, Saigon, 1960): "Cửa hay ải Nam-Quan, đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy (hay Pha-Dữ), ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường (tỉnh Quảng-Tây) bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam phải qua cửa quan này".
Qua các tài liệu sử Việt Nam trên ải Nam Quan là biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa. Tại cửa ải này bên phiá Trung Hoa có một cửa ải do Nhà Minh xây dựng là Trấn Nam Quan.

Ngày nay có tài liệu cho rằng đường phân giới hai nước cách Ải Nam Quan 200 m và Việt Nam đã bị mất Ải Nam Quan vào tay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sau cuộc chiến 1979.

Thác Bản Giốc

Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao, người trục tiếp thương lượng và ký kết hiệp ước biên giới trên đất liền cho rằng Việt Nam chỉ có 1/3 thác, nhưng nhờ thương thuyết cho nên Trung Hoa nhượng bộ, thành ra Việt Nam được ½ thác. Ông trưởng ban phân giới Lê Công Phụng cũng cho rằng các tin chung quanh vấn đề nhượng đất nhượng biển chỉ là tin đồn. Riêng vấn đề thác Bản Giốc, trả lời phái viên BBC đặt câu hỏi là người ta cho rằng Việt Nam nhượng ½ thác thi ông Phụng trả lời rằng tin đó cũng chỉ là tin đồn, không xác thực vì hiện nay khu vực thác Bản Giốc chưa cắm mốc.

Ngoài ra, sau cuộc chiến 1979, Chính phủ Việt Nam liên tục tố cáo Trung Quốc bành trướng còn chiếm đóng một số điểm của Việt Nam. Việc tố cáo này tùy thuộc vào tình hình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai Đảng Cộng sản. 

Quan điểm không mất lãnh thổ

Một quan điểm khác của chính phủ Việt Nam luôn nhắc tới tình hữu nghị[1] truyền thống giữa hai nước và hai Đảng anh em mà giải quyết vấn đề biên giới và lãnh thổ bằng thương lượng ngoại giao, từng bước giải quyết trên tinh thần hữu nghị, anh em[2]. Ngày 19 tháng 6 năm 2000, Quốc Hội Việt Nam đã công bố nghị quyết về "Hiệp Ước Biên Giới Trên Ðất Liền Giữa Việt Nam và Trung Quốc" được thông qua tại kỳ họp thứ 7, quốc hội khóa X họp từ ngày 9 tháng 5 năm đến ngày 9 tháng 6. Theo Từ Công Phụng Trưởng đoàn đàm phán biên giới "Việc có mất đất hay không là phụ thuộc vào việc cắm mốc, chỉ cắm mốc chệch đi vài trăm mét là mất nhiều đất lắm"[3] rằng Việt Nam "chỉ nhượng" 114 cây số cho Trung Hoa và "được nhượng" 113 cây số từ Trung Hoa. Và việc ký kết được một hiệp định phân định biên giới với Trung Quốc vốn là một nước bá quyền, bành trướng thâm căn cố đế là một sự cần thiết và thắng lợi.

Đến nay, năm 2007, quan hệ giữa hai Đảng được nâng lên tầm cao mới sau Đại hội Đảng cộng sản Trung Quốc lần thứ 17, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương thực hiện theo phương châm "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần 4 tốt " láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" [4]và các vấn đề lãnh thổ bị mất bởi Trung Quốc đã không được công khai đề cập đến trên báo chí như thập niên 1980.

Việc lập lại và đóng mốc biên giới giữa hai nước:

Ngày 30 tháng 12 năm 1999, chính phủ hai nước ký Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc. Thực hiện Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc ký ngày 30 tháng 12 năm 1999, Việt Nam và Trung Quốc đã tổ chức Lễ cắm mốc quốc giới đầu tiên trên biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc vào tháng 12 năm 2001 tại cửa khẩu Móng Cái (Việt Nam) và Đông Hưng (Trung Quốc). Theo đó, hai bên phấn đấu hoàn thành việc cắm trên 1.500 mốc giới trên biên giới đất liền trong vòng ba năm, đặt nền móng vững chắc cho việc xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị và ổn định giữa hai nước, góp phần tăng cường giao lưu, hợp tác giữa các địa phưng biên giới hai nước, thúc đẩy quan hệ giữa hai nước phát triển theo khuôn khổ đã được xác định là "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai", đóng góp tích cực cho hoà bình, ổn định và hợp tác trong khu vực." [5]

Kết thúc Vòng XII đàm phán thường niên cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, hai bên đã thống nhất xây dựng lộ trình chung nhằm thúc đẩy và hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc trên biên giới đất liền vào cuối năm 2008. Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam tham dự vòng đàm phán, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 10/12 tại Hà Nội, do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao-Trưởng ban Ban biên giới Vũ Dũng dẫn đầu và đoàn đại biểu Chính phủ Trung Quốc do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Vũ Đại Vĩ dẫn đầu.

Hai bên cũng thỏa thuận tiếp tục ưu tiên phân giới cắm mốc tại các khu vực cửa khẩu, trong quý 1/2006 thực hiện thí điểm tại một số cửa khẩu, thúc đẩy phân giới cắm mốc tại các khu vực sông suối biên giới, hỗ trợ địa phương hai bên thống nhất phương án hợp tác cùng phát triển du lịch tại khu vực thác Bản Giốc của Việt Nam.[6]

Quan điểm lịch sử

Triều đình Việt Nam quan tâm chỉ đạo vấn đề biên giới - lãnh thổ từ khoảng thế kỷ thứ 10 sau khi giành lại quyền độc lập tự chủ với chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất năm 938 và ngày càng củng cố nền độc lập tự chủ cùng với biên cương của tổ quốc.

Trong các cuộc đàm phán về biên giới năm 1078 do Đào Tòng Nguyên dẫn đầu và cuộc đàm phán năm 1084 do Trạng nguyên khai khoa Lê Văn Thịnh dẫn đầu. Vua Lý Nhân Tông viết thư gửi cho vua nhà Tống đòi đất: "Mặc dầu những đất ấy nhỏ bé nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng."

Thế kỷ 15 Vua Lê Thái Tổ đã cho khắc vào vách núi đá ở Hoà Bình:

Biên phòng hảo vị trù phương lược
Xã tắc ưng tư kế cửu an

Ý nói việc biên phòng cần có phương lược phòng thủ; đất nước phải lo kế lâu dài.

Năm 1473, vua Lê Thánh Tông chỉ thị cho những người đi giải quyết vấn đề biên giới với nhà Minh: "Chớ để họ lấn dần, nếu các ngươi dám lấy một thước núi, một tấc sông tổ tiên để lại mà đút mồi cho giặc thì tội phải tru di".
Luật Hồng Đức công bố năm 1483 có điều khoản 74, 88 về bảo vệ đất đai ở biên giới như sau: "Những người bán ruộng đất ở biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém. Quan phường xã biết mà không phát giác cũng bị tội. Những người đẵn tre, chặt gỗ ở nơi quan ải thì bị xử tội đồ" (đồ là đầy đi làm khổ sai).

Quan điểm của Liên Hiệp quốc

Cấm dùng vũ lực:

Sau chiến tranh thế gìới thứ hai, Hiến chương Liên Hợp Quốc được thông qua năm 1945 có điều 2, khoản 4 cấm sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn lãnh thổ của một Quốc gia.

Nghị quyết 26/25 năm 1970 [7]của Liên Hơp Quốc lại viết: "Các quốc gia có nghĩa vụ không được dùng đe doạ hoặc dùng vũ lực để xâm phạm các đường biên giới quốc tế hiện có của một quốc gia khác hoặc như biện pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế kể cả các tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến các biên giới của các Quốc gia".

Không công nhận lãnh thổ cướp đoạt bằng vũ lực: "Mọi hành động thụ đắc lãnh thổ bằng đe doạ hoặc bằng sử dụng vũ lực không được thừa nhận là hợp pháp".

Lưu trữ và công khai hóa: Các hiệp định giữa các nước thành viên về lãnh thổ, biên giới phải nộp[8] về Liên Hiệp quốc lưu trữ và công khai hóa.

Chú thích

  1. ^ Hiệp ước Biên giới trên đất liền, HĐ phân định Vịnh Bắc Bộ VN-TQ
  2. ^ [http://vietnamnet.vn/tinnoibat/2005/07/469099/ "Trung Quốc mạnh mẽ ủng hộ VN sớm gia nhập WTO" 01:16' 16/07/2005 (GMT+7)]
  3. ^ [1]
  4. ^ Ðiện mừng Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVII Ðảng Cộng sản Trung Quốc Ngày 15/10/2007. Cập nhật lúc 8h 16'
  5. ^ Lễ cắm mốc biên giới Lào Cai-Hà Khẩu
  6. ^ Hoàn thành cắm mốc biên giới đất liền Việt-Trung vào 2008 Thứ tư, ngày 24 tháng 10 năm 2007
  7. ^ Cơ sở pháp lý xác lập chủ quyền VN tại Hoàng Sa 11:38' 07/12/2007 (GMT+7)
  8. ^ Điều 102 Quy ước

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter