lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

 

 

Đang xem báo lichsuvietnam - lichsuvietnam

Sáp-nhập trang nhà Quân Sự Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa cùng trang nhà Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam.

Thưa quý độc giả và thân hữu,

Kể từ ngày 27 tháng 11 năm 2017, trang nhà Quân Sự Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa cùng trang nhà Hoàng Sa Trường Sa Việt Nam phối hợp phổ biến thông tin đến qúy vị.

Địa chỉ mới của vietnamdefence.info sẽ là

https://www.vietnamparacels.org/vietnamdefence.info/index.html

Và từ ngày 16 tháng 01 năm 2018, trang vietnamdefence.info sẽ xóa hẳn.

Chân thành cám ơn sự ủng hộ của qúy độc giả từ nhiều năm qua.

Chân thành kính mời qúy vị tiếp tục đọc và cổ động https://www.vietnamparacels.org/vietnamdefence.info/index.html

Trân trọng kính chào.

Ngày 27-11-2017

Thư Viện Hoàng Sa Trường Sa - Thư Viện Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

***

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Thơ Ngàn Năm Thăng Long

http://www.vietnamparacels.org/vietnamdefence.info/thongannamthanglong.htm

Vĩnh Nhất Tâm

(trích Thi sử Phá Tống Bình Chiêm)

Kế Hoạch Nhà Tống Xâm Lược
Vương An Thạch181 với ý đồ vùng vẫy,
Tâu Thần Tôn182 về chiến lược: Nam chinh.
Đại Việt ta, triều Lý chẳng để yên,
Lý Thường Kiệt liền ra quân, phá địch.
Ngài chinh Bắc và đã từng tung hịch183
Kể tội rằng: -Vương An Thạch hại dân.
Đại Việt ta mượn cớ: “Phải cứu nhân!”
Sau một trận, phá mưu đồ xâm lược.

Mưu Chước Của Vương An Thạch
Vương An Thạch cứ bày ra mưu chước184,
Dân Tống nghèo vì triều cống185 hàng năm,
Cho Bắc Liêu, Tây Hạ.  Nén hờn căm,
Nuôi tham vọng thành bá quyền đế quốc.
Mộng bành trướng, lo tìm phương cướp nước,
Quả hồ đồ, nào đâu khác thời Chu.
Trong sử Tầu từng khuếch đại “chư hầu”:
Những bộ lạc186, tự xưng mình “thiên tử”.

Phá Kế Hoạch Xâm Lăng Của  Nhà Tống
   (18-1-1076 -1-3-1076)
Triều nhà Lý đã tính đường sinh tử,
Dẫu thế nào cũng dứt khoát một phen.
Không để cho bọn giặc Tống chen chân,
Theo kế hoạch Nam chinh hòng xâm lấn.
Lý Thường Kiệt và Tướng quân Tôn Đản,
Liền xuất binh thủy, bộ đánh ba Châu:
Khâm, Liêm, Ung bao quân địch rơi đầu,
Bày thế trận, Nhị Tướng hùng đại náo.

Đánh Ung Châu
Quân đường bộ chia ra làm ba ngã187:
Từ Quảng Nguyên tiến vào trại Thái Bình.
Mặt Quảng Lăng dùng đến cả đại binh,
Phần còn lại tiến sâu vào Tô, Mậu188.
Quân Đại Việt tiến nhanh như vũ bão,
Tướng điều quân do Tôn Đản cầm đầu.
Trong bảy ngày đã vây hãm Ung Châu,
Khiến quân giặc, cả thành Ung nao núng.

Thái Úy Lý‎ Thường Kiệt
Mặt đường thủy, đánh tiền phương nhà Tống,
Từ Đồ-Sơn189, Lý Thường Kiệt tiến công.
Theo hoạch trù, phá căn cứ Quảng Đông,
Là cứ điểm sẽ dàn quân xâm lược.
Nên triều Lý đã liệu bề tính trước,
Tấn công thành, thì  Lưỡng Quảng190 mới hay.
Khâm, Liêm, Ung: quân Lý sẳn trận bày.
Vương An Thạch đã hết thời thao túng.

Tống Triều Viện Binh
Tin cấp báo khiến Lưu Di191 lúng túng,
Liền viện quân sang trấn giữ Ung Châu.
Đến Côn Luân, Lý Thường Kiệt chận đầu,
Trương Thủ Tiết192 phải liều thân, bỏ mạng.
Tướng Tôn Đản, bốn mươi (40) ngày vây hãm,
Thành Ung Châu, giặc không thể thoát thân.
Khiến Tô Giam193 can đảm chết theo thành…
Cờ điếu phạt: Lý triều reo chiến thắng.

Quân Tống Thất Bại
Tống đại bại:  Sử xưa ghi rõ lắm,
Khâm, Liêm, Ung đều tan vỡ thành trì.
Tống Thần Tôn mê sảng đến vô tri,
Qua một trận tung hoành y khiếp chí.
Lý Thường Kiệt với ngón đòn tâm lý,
Khiến Tống triều thêm rối trí, phân tâm.
Đã chận ngay, giặc Tống vốn hung hăng,
Cùng hai nước194, mặt Tây Nam tiến đánh…

Lý Triều Đánh Nhà Tống
Việc đánh Tống, nhằm ngăn ngừa quốc biến,
Nên Lý triều ra tay trước là hơn.
Phá cho tan cuồng vọng, Tống Thần Tôn,
Nuôi mộng tưởng: Nam chinh làm bá chủ.
Việc Bắc tiến viết lên trang đại sử
Rất oai hùng, chận đứng bước xâm lăng.
Khiến Tống vương, sau trước cũng tan tành,
Mộng thống trị, đã hoàn toàn tay bó.

Triều Lý Phòng Bị
Xong trận mạc, lui quân195 về thế thủ,
Cần phòng xa - tránh cuộc chiến lâu dài.
Việc phục thù của giặc Tống nay mai,
Tránh mối họa, phải trường kỳ chống giặc.
Lý Thái Úy196, bậc tài ba lỗi lạc,
Lúc sơn hà nguy biến giữa rừng gươm.
Bọn Quách Quỳ197, hàng danh tướng Bắc phương
Sang trả đũa, quyết một phen hơn thiệt.

Trận Như Nguyệt
Trận kịch chiến bên bờ sông Như Nguyệt198,
Tống quân thua, thây bỏ mạng hơn nghìn.
Nên Quách Quỳ bèn lập tức lui binh,
Điểm quân số, đến Phú Lương chống cự.
Lý Thường Kiệt đã điều binh án ngữ199.
Cả đôi bên ngang ngửa, chửa hơn thua
Thuyền quân Nam tổn thất cũng không vừa,
Lý “Tể Phụ” phải bày mưu, tính kế.

Thuật Tâm Lý
Bọn giặc Tống tìm trăm phương ngàn kế,
Nhưng không sao phá nổi cách điều binh.
Dù, Quách Quỳ đang thống lĩnh đại quân,
Cũng không dễ phá hùng binh Đại Việt.
Lý Thường Kiệt, bậc mưu thần quán triệt,
Đem biệt tài tâm lý thúc ba quân.
Bốn câu thơ ĐỘC LẬP quả như thần,
Chờ đêm xuống bước vào đền Trương Hát200:

Tuyên Ngôn Độc Lập
Quân Đại Việt nghe vang lời thanh thoát,
Tiếng thơ ngâm; gây nhuệ khí như cồn.
Không cách nào, quân Tống vượt qua sông,
Đành cố thủ, chưa phân đường thắng bại:

 “Nam-quốc sơn-hà, Nam đế cư,
Tiệt-nhiên định phận tại thiên thư.
Như-hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!” 

Dịch Nôm:

(Sông núi nước Nam Nam đế ở,
Rõ ràng phân định tại sách trời.
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?
Cứ thử làm xem, chuốc bại nhơ!)

Chân Lạp Và Chiêm Thành
Quân hai nước, mặt Tây Nam khựng lại,
Cả Chiêm Thành lẫn Chân Lạp chìm sâu.
Để cuối cùng phải chuốc lấy… bể dâu,
Sao địch nổi tài mưu cao, tướng dũng?
Lý Thường Kiệt đã dự trù rất đúng,
Chiến sách tuyệt vời: Bắc phạt, Nam chinh .
Tay vung gươm vì sông núi tri hành:
Trừ giặc Tống, bình Chiêm, yên vận nước.

......
Chú thích:

181 Vương An Thạch: Từ nhà Đinh, nhà Lê trở đi, tuy Tầu không sang cai trị nước ta nữa, nhưng vẫn cứ lăm le có ý muốn xâm lược. Đến khi vua Thần Tôn nhà Tống (1068-1078) có quan tể tướng là Vương An Thạch. Đặt ra phép mới để cải tổ chính trị nước Tầu…Vương An Thạch làm một sớ tâu rằng: nếu không đánh lấy Giao Châu thì về sau thành ra một điều lo cho nước Tầu.

(Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý của Trần Trọng Kim. Quyển I, trang 102 & 103).

182 Thần Tôn: Chỉ Tống Thần Tôn, vua nhà Tống.

183 Hịch: Trước đó, Lý Thường Kiệt đem quân sang đánh nhà Tống, có làm bài lộ bố (bài hịch kể rõ tội ác của biên dịch và nêu nghĩa vụ mình phải đi đánh dẹp để cứu dân). (xin xem ở phần phụ lục trích dẫn #178).

184 Mưu chước: Trầm Khởi nhận lĩnh ý chí Vương An Thạch dặn bảo, chuyên để  ý tấn công  quấy rối nước ta.  Khi  Trầm Khởi bị bãi,  Lưu Di lên thay, biên xét  hộ tịch các dân ở khê động, sửa qua thuyền, để mưu sang lấn cướp. Nhà Tống lại nghiêm cấm các châu, các huyện không được trao đổi mua bán với ta. Nhà vua đưa thư sang Tống, thì Lưu Di lại dìm đi. Ngài giận lắm, sai Lý Thường, Tôn Đản thống lãnh 10 vạn quân, chia đường sang đánh Tống. (Theo Khâm  Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.Chính Biên – Quyển Thứ III.Tập I, trang 351) (Xin xem thêm ở phần phụ lục, chú thích # 184)

185 Triều cống: Triều cống: Nguyên nhà Tống bấy giờ bị nước Bắc Liêu  và nước Tây Hạ ức hiếp, hằng năm phải đem vàng bạc lụa vải sang cống hai nước ấy. Mà trong nước thì không có đủ tiền để chi dụng. Vua Thần Tông (nhà Tống) mới dùng ông Vương an Thạch làm Tể tướng để lo mọi việc. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý của Trần Trọng Kim. Q.I, trang 102)

186 Bộ lạc: Nhà Chu nguyên là chư hầu ở phía Tây của nhà Thương. Tuy vua cuối của Thương là Trụ  tàn ác, chư  hầu phân  tán, một số  chư  hầu Chu Văn vương,  nhưng  Văn vương  vẫn trung thành với Trụ.  Đến khi  Văn vương chết, con là Chu Võ vương  quy tu được  800 bộ lạc (mà sử Tàu khuếch đại là 800 chư hầu – VNSNVMPD)  đánh  thắng vua Trụ  diệt nhà Thương lập  nên  nhà Chu và  đóng đô ở đất Cảo  (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây).  (Trích từ  Việt Nam Suối Nguồn Văn Minh Phương Đông của tác giả Du Mên Lê Thanh Hoa) (Xin xem thêm ở phần phụ lục của chú thích #186)

187 Ba Ngã:
1)      Từ Quảng Nguyên theo bờ sông Tả tiền đánh trại Thái Bình.
2)       Từ hai châu Tô, Mậu vượt núi qua Lộc Châu, Cổ Vạn, Tư
Lăng, Thượng Tứ.
3)       Từ châu Quảng Lăng tiến qua Thái Bình, BằngTrường, Tư
Minh và trại Vĩnh Bình. Đại binh đi đường này. (xin xem ở phần phụ lục theo chú thích #187)

188 Tô, Mậu: Tức Tô Châu và Mậu Châu. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mực)

189 Đồ Sơn: Lý Thường Kiệt liền tập trung quân Đại Việt ở Đồ Sơn (Vịnh Hạ Long) theo phía sau các núi đá mà tiến vào Khâm Châu (thuộc căn cứ quân sự của Tống tại Quảng Đông). (Theo  Việt Sử Tân Biên – Nhà Lý của Phạm Văn Sơn. Tập I, trang 374).

190 Lương Quảng: Chỉ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây.

191 Lưu Di: Lưu Di là quan của nhà Tống được Tống Thần Tôn thay thế Thẩm Khởi. (Xin xem ở
phần phụ lục vể việc Tống Thần Tôn cất chức  Thẩm Khởi, và đưa Lưu Di lên thay thế, ở chú thích #181).

192 Trương: Chỉ Trương Thủ Tiết, quan Đô-giám Quảng-tây đem binh lại cứu Ung-châu, bị Lý thường Kiệt đón đánh ở Côn-lôn quan (gần Nam-ninh) chém Trương thủ Tiết ở trận tiền. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của sử gia Trần Trọng Kim. Q.I trang 104)

193 Tô Giam: Đản vây thành Ung-châu hơn 40 ngày, quan tri-châu  là Tô Giam kiên cố giữ mãi. Đến khi quân nhà Lý hạ được thành thì Tô Giam bắt người nhà tất cả là 36 người chết trước, rồi tự đốt mà chết. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của Trần Trọng Kim. Q.I trang 103).

194 Hai nước: Tống triều được tin quân nhà Lý sang đánh phá ở châu Khâm, châu Liêm và châu
Ung, lấy làm tức giận  lắm,  bèn sai  Quách Quỳ làm Chiêu-thảo-sứ. Triệu Tiết làm phó, đem 9 tướng quân cùng hội với nước Chiêm-thành và Chân-lạp chia đường sang đánh nước ta. (Theo Việt Nam Sử Lược – Nhà Lý  của sử gia Trần Trọng Kim. Q.I trang 104).

195 Lui quân: Tháng 3 năm Bính Thìn (1076) quân nhà Lý rút ra khỏi đất Tống vì cần đề phòng sự phục thù của Tống triều có thể đánh lén hậu phương của mình. Và theo Hoàng Xuân Hãn
trong tác phẩm của ông là cuốn Lý Thương Kiệt. Chính Vương An Thạch có ý này, nhưng khi đem ra bàn y gặp nhiều  chính kiến bất đồng, khi  đó Vương lại  lâm vào thế cô nên việc  này bỏ
lại cho tới khi họ Vương chán nản xin từ chức. (Theo Việt Sử Tân Biên – Nhà Lý của Phạm Văn Sơn. Tập I, trang 379).

196 Lý Thái Úy: Chỉ Lý Thường Kiệt. (Xin xem ở phần phụlục về Thái úy Lý Thường Kiêt,chú thích # 196)

197 Quách Quỳ: Đối với các tướng lãnh bấy giờ, Quách Quỳ vào hạng có giá trị như Địch Thanh. Quỳ được đem các bộ thuộc tướng quen dùng của mình ở các châu Phú Điền tại Hà Đông, Thiểm Tây đi theo trong đó có tới 12 tướng đã lừng danh ở các chiến trường Tây Bắc. Trong số 12 tướng của Quách Quỳ, ba tướng được ở lại coi miền Bắc. (Theo Việt Sử Tân Biên- Nhà Lý của Phạm Văn Sơn.Q.I, trang 380). Xin xem thêm ở phần phụ lục #197

198 Như Nguyệt: Nhà vua sai Lý Thường Kiệt đón đánh đến sông Như Nguyệt.Thường Kiệt cả
phá được địch: quân Tống chết đến hơn nghìn người, phải rút lui. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Chính Biên – Quyển Thứ III. Tập I, trang 353) Xin xem thêm ở phần phụ lục về trận Như Nguyệt theo chú thích #198

200 Trương Hát: Đền thờ, hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em là Hát, đều là tương giỏi của Triệu Việt Vương. (Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) Mời xem thêm ở phần phụ lục về Nhị Tướng quân theo chú thích #200.