lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2015...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2015

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

 

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam 

Lịch-Sử Việt-Nam Cộng-Hòa (1946-2015...)

tem thư việt nam cộng hòa

***

Tổng Thống Ngô-đình-Diệm: Đi Như Ri Là Mất Nước !

tổng thống ngô đình diệm, cố vấn ngô đình nhu

Tổng thống Ngô-đình-Diệm; Cố vấn Ngô-đình-Nhu 

1, 2, 3

“Viết với

Tổng Thống Ngô Đình Diệm

...

nói nhiều lần, theo báo cáo của CIA, chủ trương của nhóm Phật Giáo đấu tranh là tiến tới thành lập một chính quyền Phật Giáo do giáo quyền lãnh đạo (theocracy). Cuộc đấu tranh đã lên đến cao điểm vào năm 1966, khi Phật Giáo cướp chính quyền thất bại ở Đà Nẵng và Huế. Người chủ trương và lãnh đạo cuộc đấu tranh cướp chính quyền là Thích Trí Quang và lý thuyết gia về Phật giáo là “đạo dân tộc” và Phật giáo phải nắm chính quyền là Lê Mạnh Thát.

Khi đấu tranh, các tăng sĩ lãnh đạo đã dùng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ làm động lực. Tuy nhiên, sau khi thất bại, nhóm Phật Giáo đấu tranh vẫn tiếp tục xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa giáo và vọng ngữ để chạy tội, biện minh cho những sai lầm nghiêm trọng của mìnhLòng thù hận Thiên Chúa giáo và vọng ngữ đã trở thành “con đường giải thoát” của Phật Giáo đấu tranh!

LÒNG HẬN THÙ BIỂU TƯỢNG SỰ TUYỆT VỌNG

Sách báo được viết để kích động lòng hận thù Thiên Chúa Giáo từ 1963 đến nay khó mà đếm hết được. Vào các nhà sách trong và ngoài nước đều thấy tràn ngập. Hiện nay trên Internet, có hai websites đã chính thức xử dụng lòng hận thù Thiên Chúa Giáo và vọng ngữ như “con đường giải thoát” của Phật Giáo, đó là sachhiem.net vàchuyenluan.org. Hầu hết các websites của Phật Giáo đều có tham gia vào trận chiến này. Hàng ngày, số bài chống Thiên Chúa Giáo được chuyển đi trên các diễn đàn Internet Việt ngữ không phải chỉ hàng chục mà có lúc đến hàng trăm lần: Công Giáo hắc sử, Tội ác của Công Giáo La Mã, Phải tiêu diệt Thiên Chúa Giáo, Nói về 7 núi tội ác của Công Giáo, Sự thật về Tội ác Nhân Loại của Đạo Công Giáo và tội ác Diệt Chủng Nhân loại của Tòa Thánh VATICAN, Công Giáo La Mã là một đặc sản văn hóa phi nhân tính, v.v. Dĩ nhiên, đó chỉ là tiếng chó sủa trăng, chẳng làm rụng được sợi chân lông của ai, nhưng nó biểu tượng cho sự tuyệt vọng của những kẻ bị dồn vào đường cùng.

CHỈ LÀ NHỔ RA LIẾM LẠI!

Phương pháp thông dụng được nhóm Phật giáo đấu tranh xử dụng là nhổ ra liếm lại và coi đó là bằng chứng lịch sử”! Chúng đã biến wikipedia.org thành một công cụ, đưa lên những bài xuyên tạc lịch sử rồi trích dẫn lại và coi đó là tài liệu lịch sử đáng tin cậy! Chúng tôi đã đưa một thí dụ cụ thể:

Đọc bài nói về Ngô Đình Diệm trên wikiprdia.org, chỉ vài hàng đầu đã thấy sai bét rồi. Nhiều người tin người viết thuộc nhóm Giao Điểm hay Ấn Quang. Tác giả viết:“Ngô Đình Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại làng Đại Phong, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình trong một gia đình quan lại có truyền thống theo đạo Công giáo lâu đời ở Việt Nam.”

(xem: Ngô Đình Diệm – Wikipedia tiếng Việt)

Có người thấy bài viết bậy quá đã vào thử sửa lại một đoạn đầu xem sao: “Ngô Đình Diệm sinh ngày 3.1.1901 tại làng Phước Quả, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên...”

Nhưng một tuần sau mở ra xem lại, bọn lưu manh đã sửa lại như cũ! Chúng vừa lưu manh vừa dốt! Ông Ngô Đình Khả sinh tại Quảng Bình, còn anh em ông Diệm đều sinh ở Huế (còn sổ rửa tội).

Những phịa sử của Đỗ Mậu, Cửu Long Lê Trọng Văn (tức Lê Văn Thông, cán bộ ở Lào), Chu Bằng Lĩnh (Mạc Thu, tên thật là Lưu Đức Sinh, ghiền thuốc phiện)... được coi như là “kinh nhật tụng” của Phật Giáo đấu tranh, cứ đem ra tụng đi tụng lại hết ngày này qua ngày khác trên các diễn đàn.

Không phải chỉ “bọn lau nhau” tích cực phát động chiến dịch này, mà một số cao tăng cũng đã đứng ra lãnh đạo. Người hung hăng nhất là Thích Trí Quang. Từ 1963 đến nay, ông đã liên tục dùng “hồi ký” để phổ biến phịa sử chống Thiên Chúa Giáo. Trước tiên là cuốn “Tiểu truyện tự ghi”. Chúng tôi biết rất rõ quê quán, gia đình và bổn sư của ông, thế mà ông tưởng không ai biết, cứ “múa gậy vườn hoang”.

Tập “Từ Rạch Cát tới Tòa Đại Sứ Mỹ được ông viết gióng truyện Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân, còn ông là Tôn Ngộ Không! Bị chúng tôi lật tẩy, năm 2011 ông viết lại với một văn phong ôn hòa hơn, lấy tên là “Trí Quang Tự Truyện được Nhà xuất bản Tổng Hợp ở Sài Gòn ấn hành. Cuốn này được viết và trình bày chuyên nghiệp hơn, có lẽ có người giúp, nhưng lại mâu thuẫn với nhiều điều ông nói trong các cuốn trước và phịa sử vẫn còn nhiều (chúng tôi sẽ nói sau), vì thế có người cho rằng “Trí Quang đã tự lột mặt nạ của chính mình”! Ông vẫn còn nói lẩm cẩm về Dụ số 10, một văn kiện mà ông chẳng hiểu gì hết. Ông loạn ngôn: Rõ ràng, Dụ số 10 cho Thiên Chúa Giáo là độc tôn, là “tôn giáo”, cho các tôn giáo khác, kể cả Phật Giáo, chỉ là tín ngưỡng lặt vặt. Vậy mà Dụ nầy, thủ tướng Diệm mới cầm quyền, đã ban hành tục Dụ duy trì, ‘ký thay Quốc trưởng’.” Thật ra Dụ số 10 được Bảo Đại ban hành từ năm 1950 vẫn tồn tại đến 30.4.1975, ông Diệm và các chính phủ tiếp theo không hề ban hành một văn kiện nào để duy trì hay hủy bỏ Dụ số 10, vì nội dung  của Dụ này không khác gì Luật về hiệp hội 1901 (Association loi 1901) của Pháp đã được ban hành ở Việt Nam trước đó và còn tồn tại ở Pháp đến ngày nay. Nhưng ông có trình độ văn hóa khá thấp, thấp nhất trong các tăng sĩ lãnh đạo Ấn Quang, nên nói chuyện pháp lý với ông rất khó. Ông vẫn ôm chặt lòng thù hận Thiên Chúa Giáo!

ĐIỆP VIÊN HAI MANG?

Hôm nay chúng tôi nói đến một nhân vật quan trọng khác đối với cuộc chính biến 1963, đó là Thích Đức Nghiệp. Chúng tôi gọi ông là một nhân vật quan trọng vì ông và Trần Quang Thuận đã được CIA xử dụng để tổ chức vụ thiêu Thích Quảng Đức, khởi đầu cho kế hoạch lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Tài liệu cho biết William Kohlmann, một nhân viên tình báo Mỹ đang làm việc ở Anh quen biết với Trần Quang Thuận đã được điều động qua Sài Gòn để hướng dẫn Trần Quang Thuận và Đại Đức Thích Đức Nghiệp thực hiện vụ thiêu Thích Quảng Đức. Lúc Đó Đại Đức Thích Đức Nghiệp đang là giáo sư Anh ngữ tại trường Vạn Thắng. Ông đã từng làm thông dịch viên cho Mỹ từ cuộc di cư 1954. Thích Quảng Độ làm thông dịch viên cho USIS.

Bill Kohlmann kể lại rằng ban tổ chức định dùng xăng để thiêu Thầy Quảng Đức, nhưng được cho ý kiến là xăng sẽ cháy rất nhanh, không đủ thời gian để chụp hình và làm các nghi thức trước khi lửa tắt, và thời gian cháy chưa đủ để làm Thầy Quảng Đức tắt thở, do đó phải đổ thêm Diesel vào cho cháy chậm lại. Thích Đức Nghiệp có nhiệm vụ liên lạc với ký giả Malcolm Browne của AP, một nhân viên CIA khác, có nhiệm vụ báo tin cho các ký giả đến đúng lúc để quay phim, chụp hình và gởi đi khắp thế giới. Ba mươi vụ tự thiêu tiếp theo không có CIA dính vào, đã trở thành con số không!

Trong vụ này, Trần Quang Thuận đã phạm một lỗi lầm rất lớn là dùng chiếc xe Austin mang số DBA 599 của ông già vợ là Tôn Thất Hối, chở Thích Quảng Đức đến hiện trường nên cơ quan tình báo của ông Diệm phát hiện ra đường dây tổ chức. Trần Quang Thuận bị CIA sa thải ngay vì lý do “làm gián điệp cho Pháp”. William Kohlmann nói ông ta đã biện hộ cho Thuận nhưng CIA cứ sa thải. Vì hồ sơ này, khi Trần Quang Thuận qua Mỹ xin vào làm cho sở xã hội đã bị từ chối.

Lý lịch của Thích Đức Nghiệp vẫn được giấu kín. Thích Quảng Độ sinh năm 1928. Thích Đức Nghiệp đồng tuổi hay chỉ nhỏ hơn Thích Quảng Độ một hai tuổi. Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, ông được Mỹ cho đi học tại Đại Học Yale ở Connecticut và được cấp bằng tiến sĩ triết học. Nhưng ông hiện là Phó Pháp Chủ Hội Đồng Chứng Minh GHPG Nhà Nước và làm mưa làm gió ở chùa Giác Minh. Nhiều bài trong nước tố ông là tay sai của Giáo Hội quốc doanh và coi ông là một thành phần hai mang, vừa làm tay sai cho Mỹ vừa làm tay sai cho Cộng Sản.

ĐỈNH CAO CỦA LÒNG HẬN THÙ VÀ VỌNG NGỮ

Thích Đức Nghiệp có viết cuốn Đạo Phật Việt Nam” được Thành Hội Phật Giáo Sài Gòn xuất bản năm 1995, trong đó có rất nhiều phịa sử. Hôm nay chúng tôi chỉ trích một đoạn ông nói về nguyên nhân đưa đến biến cố tối 8.5.1963 trước đài phát thanh Huế, để đọc giả thấy ông phịa tài tình không thua gì Đặng Văn Nhâm viết cuốn “Giặc thầy chùa”. Ở trang 192 ông viết:

 «Xuyên qua những dữ kiện lịch sử, việc cố tình kỳ thị tôn giáo của chế độ ông Diệm đã tiềm phục từ lâu, cụ thể từ 1957 tới 1963 qua những bản phúc trình của Phật giáo Trung Việt. Ðặc biệt vào lễ khánh thành nhà thờ Ðức Mẹ La Vang tại Quảng Trị, trùng hợp với đại lễ Phật Ðản hằng năm, từ ngày 8-4 đến 15-4 âm lịch trên toàn quốc. Vào dịp lễ khánh thành này, ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ. Trên đường tới nhà thờ tại Quảng Trị, phải đi qua thành phố Huế,thấy trang hoàng cổng chào và cờ Phật giáo rợp trời, ông Diệm mới hỏi người tùy tùng và được trả lời: "Ðây là cờ Phật giáo. » Do đó, ông Diệm liền hạ lệnh cho Quách Tòng Ðức, Ðổng lý văn phòng phủ Tổng thống, cùng đi theo: "Hãy gửi gấp công điện, khắp nơi phải hạ cờ Phật giáo xuống!". Ðó là nguyên nhân chính xảy ra cuộc tranh đấu Phật giáo chống chính quyền ông Diệm vào mùa Phật Ðản năm 1963.»

(Thích Đức Nghiệp, “Đạo Phật Việt Nam”, Thành hội Phật Giáo TP Hồ Chí Minh, 1995, tr. 192.)

Đây là một sự bịa đặt quá trắng trợn! Hàng năm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đều làm lễ «khánh thành» nhà thờ Đức Mẹ La Vang? Chẳng ai tin được chuyện này.

Đền thờ Đức Mẹ La Vang do Linh Mục René Toussaint Morineau khởi xây từ năm 1924 và khánh thành ngày 22.8.1928. Năm 1901, Đức Giám mục Gaspar Lộc quyết định tổ chức 3 ngày lễ thánh hiến Ðền Thánh La Vang và cuộc cung nghinh tượng Ðức Mẹ La Vang từ 6 đến 8.8.1901. Giáo dân giáo phận Huế thuộc ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên đã tham dự rất đông đảo. Từ đó, Đại Hội Thánh Mẫu La Vang được tổ chức 3 năm một lần vào giữa tháng 8, tức vào dịp lễ Đức Mẹ Lên Trời vào ngày 15 tháng 8Lễ này không hề trùng với lễ Phật Đản như Thích Đức Nghiệp đã nói, vì trước 1963 lễ Phật Đản được tổ chức vào ngày 4 tháng tư âm lịch, sau đó đổi lại ngày 15 tháng 4, tức trước Đại Hội Thánh Mẫu La Vang khoảng 2 tháng.

Đại Hội LangVang lần thứ 14 được tổ chức năm 1958, lần thứ 15 năm 1961 và lần thứ 16 năm 1964. Năm 1963 không có Đại Hội La Vang và cũng không có chuyện «ông Diệm, ông Nhu, ông Cẩn, Giám Mục Ngô Ðình Thục cùng đi dự lễ» ở La Vang năm này.

Do lời thỉnh cầu của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngày 22.8.1960 Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã long trọng ban sắc chỉ nâng đền thờ La Vang lên bậc Vương Cung Thánh Ðường dâng kính Ðức Mẹ La Vang. HĐGMVN họp tại Huế ngày 13.4.1961 đã quyết định chọn đền thờ Ðức Mẹ Lavang làm "Ðền Thờ toàn quốc dâng kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Ðức Mẹ", và nhận linh địa Lavang làm "Trung Tâm Thánh Mẫu Toàn Quốc". Do đó, Đại Hội Thành Mẫu La Vang năm 1961được tổ chức rất trọng thể, có 10 vị Giám mục, 300 Linh mục, gần 1000 tu sĩ nam nữ và khoảng 300.000 giáo dân đến dự. Nhân dịp này, hai phái đoàn cao cấp của chính phủ VNCH cũng có mặt, một do Tổng Thống Ngô Đình Diệm dẫn đầu đến La Vang ngày 16.8.1961 và một do Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ đến ngày La Vang ngày 21. Tướng Perakiraly của Hungari cũng tham dự.

Hòa Thượng Đức Nghiệp đã lấy biến cố 1961 ghép vào năm 1963 và coi đó là nguyên nhân đưa tới biến cố tối 8.5.1963 tại đài phát thanh Huế. Vọng ngữ như thế, thật khó tưởng tượng nổi!

Một người đậu tiến sĩ triết học ở Đại Học Yale, Hoa Kỳ, không thể viết một sự kiện lịch sử sai lầm nghiêm trọng như vậy. Nhưng ông đã bịa đặt ra những chuyện nói trên với hai mục tiêu: Mục tiêu thứ nhất là kích động lòng hận thù Thiên Chúa Giáo làm động lực đấu tranh, và mục tiêu thứ hai là biện minh cho những sai lầm của Giáo Hội Ấn Quang, vì những tham vọng chính trị hão huyền, đã bị Mỹ rồi Cộng Sản biến thành công cụ, xài xong rồi đập bể ra từng mảnh!

Trong bài "Buddhism and Politics”, Hòa Thượng Sri Dhammananda có nhận định như sau:

Khi tôn giáo bị sử dụng để thỏa mãn các ý đồ chính trị thì tôn giáo sẽ phải hy sinh các lý tưởng đạo đức cao quí của mình và trở nên bị hạ thấp giá trị do những nhu cầu chính trị trần tục.”

(When religion is used to pander to political whims, it has to forego its high moral ideals and become debased by worldly political demands.)

(Trích: “Lòng Hận Thù Thiên Chúa Giáo” của Lữ Giang)

CHUYỆN KẺ PHẢN BỘI.

1.- Làm tay sai cho CIA gây thảm họa hoạ cho đất nước.

 a) Sự thật đã rõ ràng

Trong cuộc phỏng vấn được phổ biến trên đài BBC ngày 31.10.2009, Hồ Quang Phương, nạn nhân của tệ trạng bạo hành của Cảnh Sát Mỹ ở San José, đã phát biểu như sau:

Khi vụ đó xẩy ra mà không có băng video, không có gì chứng minh là mình đúng, có thể bị xử có tội. Bây giờ có băng video rồi, công lý đứng về phía mình.”

Trong vụ đảo chánh và giết ông Diệm cũng vậy.

Trong một cuốn băng dài 30 tiếng đồng hồ do thư viện Johson Library ở Austin, Texas, công bố ngày 28.2.2003, cho biết vào ngày 1.2.1966, Tổng Thống Lyndon B. Johnson đã nói chuyện bằng điện thoại với Thượng Nghị Sĩ Eugene McCathy như sau:

Johnson:

- ... Nhưng ngài nhớ, lúc đầu họ nói với tôi về ông Diệm.

MacCarthy:
- Có chứ.

 Johnson:
(Rằng) ông ta tham nhũng và ông ta phải bị giết. Vì thế, chúng ta đã giết ông ta. Tất cả chúng ta đã họp lại với nhau VÀ XỬ DỤNG MỘT BỌN ÁC ÔN CÔN ĐỒ ĐÁNG NGUYỀN RỦAđể hạ sát ông taBây giờ, chúng ta thật sự không có sự ổn định chính trị (ở Miền Nam Việt Nam) từ lúc đó.”

Khi cuốn băng này chưa được công bố, một số viên chức Mỹ có trách nhiệm và một số sử gia cố gắng cãi chày cãi cối để kết luận rằng vụ đảo chánh năm 1963 là do một nhóm sĩ quan VNCH thực hiện, người Mỹ không hề nhúng tay vào. Còn các Tướng Tá Việt Nam làm đảo chánh tự tôn là “nhà cách mạng” và ngày 1.11.1963 được biến thành Ngày Quốc Khánh. Nhưng khi cuốn băng nói trên được công bố, lịch sử đã được làm sáng tỏ.

b) Tên chỉ đạo hống hách

Trưa ngày đảo chánh 1.11.1963, Lucien Conein, người được nói là có nhiệm vụ theo dõi cuộc đảo chánh nhưng thật sự là người chỉ đạo cuộc đảo chánh, đã đến Bộ Tổng Tham Mưu VNCH mang theo một cái túi đựng 3 triệu đồng Việt Nam (42.000 USD) mà ông đã rút ra trước từ ngân khoản của Trạm CIA. Ngoài số tiền này, Lucien Conein còn mang một khẩu súng lục, một cái radio đặc biệt để thông báo tin tức về cuộc đảo chánh cho Trạm CIA và các viên chức CIA khác nằm trong mạng lưới của ông ta.

Lucien Conein đã tự ý leo lên ngồi ở ghế bành của của Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng VNCH, gác chân lên bàn, bên cạnh là khẩu Magnum 44, dưới chân bàn là hai xách tay bạc Việt Nam...

(Hoàng Lạc và Hà Mai Việt, “Việt Nam năm 1954 – 1975, những sự thật chưa hề nhắc tới”, tr. 247).

Tướng Trần Văn Đôn cho biết, khi hay tin ông Diệm và ông Nhu đã rời khỏi dinh Gia Long, Lucien Conein đã nói một cách hống hách:

Hai ông ấy đi đâu? Phải bắt lại cho kỳ được vì rất quan trọng.

Ông ta nói bằng tiếng Pháp: 

On ne fait pas d'omelette sans casser les oeufs.”

(Người ta không thể làm món trứng rán mà không đập bể những cái trứng).
(Trần Văn Đôn, Việt Nam nhân chứng, tr. 228)

Tên “thủ trưởng” này quả thật quá hống hách!

c) Phản bội tổ quốc

Nhà cầm quyền Mỹ ra lệnh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm để có thể đổ quân vào miền Nam. Họ hành động như vậy vì quyền lợi của nước Mỹ. Còn nhóm sĩ quan VNCH nhận chỉ thị và tiền của Mỹ làm đảo chánh lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đưa VNCH vào những ngày đen tối và sau đó làm mất miền Nam Việt Nam, họ chỉ là những tên lính đánh thuê không hơn không kém. Họ không hành động vì quyền lợi của tổ quốc.

Trong trường hợp này, tội của những kẻ làm lính đánh thuê chắc chắn nặng hơn tội của kẻ chủ mưu, vì họ đã phản bội tồ quốc.

2.- Hiệp định Paris: Bán đứng VNCH

Một số người cho rằng Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu là người có công khi buộc Hoa Kỳ và Việt Cộng phải thay đổi một số điều khoản có hại cho VNCH trong dự thảo hiệp định Paris. Nhưng nói như thế là hoàn toàn sai lầm.

Ngày 18.10.1972 Kissinger đã đến Saigon để làm áp lực buộc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải đồng ý nội dung bản dự thảo hiệp định Paris với hy vọng sẽ mang bản dự thảo đó ra Hà Nội ngày 24.10.1972 để Thủ Tướng Phạm Văn Đồng ký tắt vào. Nhưng Kissinger đã thất bại. Chỉ trong một thời gian ngắn, Bộ Ngoại Giao, Bộ Tư Pháp và Bộ Dân Vận - Chiêu Hồi đã phát hiện ra đến 23 điểm cần phải điều chỉnh. Kissinger chỉ đồng ý điều chỉnh 16 điểm không quan trọng mà thôi. Số còn lại phải để nguyên, trong đó có điều khoản quan trọng nhất là chỉ buộc Mỹ rút khỏi miền Nam chứ không buộc quân đội Bắc Việt.

Chúng ta nhớ lại, khi Hội Nghị Genève 1954 sắp kết thúc, thừa lệnh của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, ngày 19.7.1954 Ngoại Trưởng Trần Văn Đỗ tuyên bố tại Genève rằng chính phủ quốc gia Việt Nam không chấp nhận chia cắt Việt Nam và yêu cầu đặt Việt Nam dưới quyền kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Chính phủ Ngô Đình Diệm đã cương quyết không ký tên vào hiệp định này.

Ngày 21.7.1954 khi đại diện Pháp và Việt Minh ký hiệp định Genève chia cắt đất nước làm đôi, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rũ và đọc một bài diễn văn chống lại sự bất công của Hiệp Định này đã trao cả miền Bắc cho Cộng Sản và thêm 4 tỉnh miền Trung. Thủ Tướng nói: “Chúng tôi không thể đặt vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào trung thành với chủ nghĩa quốc gia...”

Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã không hành động như vậy. Ông thừa biết Bắc Việt cố giữ lại điều khoản không rút quân trong hiệp định Paris là để khi Hoa Kỳ rút hết, họ sẽ mở cuộc tấn công trở lại, nhưng bị ám ảnh bởi cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm khi Mỹ muốn đem quân vào Việt Nam mà ông là một trong những thủ phạm, Tổng Thống Thiệu đã tự trấn an bằng những lời cam kết của Tổng Thống Nixon mà Tướng Haig mới chuyển đến, đã ra lệnh cho Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm ký tên vào Hiệp Định Paris ngày 27.1.1973. Trong trường hợp nầy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã đặt sinh mạng và địa vị của mình lên trên quyền lợi quốc gia. Đây là lỗi lầm trọng đại căn bản dẫn tới mất miền Nam.

CẦN LÀM SÁNG TỎ LỊCH SỬ

Trong thời chính phủ Ngô Đình Diệm, tôi còn là sinh viên nên không đính líu gì đến chế độ này, nhưng ít ra tôi cũng được chứng kiến tận mắt nhiều biến cố đã xẩy ra. Tôi cảm thấy kinh hoàng khi khảo cứu hồ sơ vụ án Ngô Đình Cẩn và vụ án Đặng Sỹ. Sau này tôi cảm nhận rằng lời nguyền rủa của Tổng Thống Johnson dành cho những kẻ tay sai của CIA không có gì quá đáng.

Khi ra hải ngoại, tôi lại cảm thấy kinh hoàng hơn khi đọc các cuốn phịa sử không phải chỉ của Đỗ Mậu hay Lê Trọng Văn mà cả của Thiền Sư Nhất Hạnh! Tôi không thể ngờ được người ta đã cố tình viết lịch sử một cách bố láo bố lếu như vậy.

Tôi bắt đầu đọc lại bản phúc trình của phái đoàn điều tra Liên Hiệp Quốc về vụ Phật Giáo, các tài liệu chính thức được giải mật trong các bộ Foreign Relations of the United States liên quan đến vấn đề Việt Nam của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ công bố, v.v., tôi quyết định phải đem lại sự thật cho lịch sử. Bài “Kẻ phản bội” cũng nằm trong loạt bài đó.

(Trích: “Chuyện  Kẻ  Phản Bội” của Lữ Giang)

Sau cuộc cách mạng Bolshevik ngày 17 tháng Mười năm 1917 tại Nga thành công, đưa Cộng Sản lên nắm chính quyền; ông Vladimir Lenin gọi bọn người chạy theo liếm gót Cộng Sản để tâng bốc là “polezniye duraki”, tiếng Anh gọi là “useful idiots” (những thứ người ngu xuẩn nhưng có ích cho Cộng Sản).

Tại Việt Nam bọn “polezniye duraki” quả thực chỉ mong được ngoại bang hay Cộng Sản ban cho “bơ thừa, canh cặn”, vì thế bọn chúng quay ra tiếp tay chống đối và đạp đổ tất cả những cái tử tế, tốt đẹp của xã hội đang cưu mang và thi ân cho chúng. Tưởng rằng, bọn “useful idiots” này sẽ tỉnh ngộ sau khi cái mặt nạ Cộng Sản thực sự rơi xuống, nhất là bọn tài phiệt buôn bán chiến tranh trên xương máu người Việt, họ dùng bọn người này như: cây mã tấu, khẩu Rouleau, khẩu Thompson, khẩu Aka. v.v. được tẩm thuốc độc dưới lớp áo màu vàng hay màu nâu, rồi khi xong việc, bọn chúng liền bị bọn tài phiệt buôn chiến tranh quăng vào đống rác, thì bọn chúng phải tỉnh ngộ chứ! Ai ngờ bọn ngu xuẩn này vẫn tiếp tục u muội mãi. Thế rồi, những tên ngu xuẩn đó từ từ chết dần, người ta hy vọng bọn đàn em của bọn chúng sẽ tỉnh ngộ tránh được những vết xe đổ vỡ trước đây. Nhưng than ôi! Vậy bọn ngưới này là loại người ăn cái gì nhỉ?

Thế rồi đã nửa thế kỷ năm trôi qua, và nhất là giáo lý của nhà Phật mà Đức Thế Tôn luôn dạy các Phật tử và chúng sanh: từ bi, hỷ xả, để đạt đến chân, thiện, mỹ. Đức Phật thường khuyên bảo đệ tử của ngài rằng: “Hận thù không nên giữ trong đầu quá một đêm”. Phật cũng dạy “Lấy ân báo oán, oán tiêu tan, lấy thù báo oán,oán chập chồng như núi Thái Sơn… không đời kiếp nào hết…”

1, 2, 3

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter