lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Bí Mật Hội Nghị Thành Đô Tứ Xuyên Trung Cộng 1990: 

- Tiến trình đàm phán bí mật Hội Nghị Thành Đô 1990 - Kỳ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13 (Huỳnh Tâm); Hồ Chí Minh, một gián điệp hoàn hảo Kỳ 6-6 (Huỳnh-Tâm) 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7

Giặc Hán Đốt Phá Nhà Nam (Huỳnh-Tâm) 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2015...)

Quân Sử Việt Nam

Southeast Asia Sea

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2015

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

 

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

 

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Southeast Asia Sea be long to the Républic of Vietnam

Thư Viện Quân Sự Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa 

cờ việt nam bay, quốc kỳ việt nam tung bay phất phới

southeast asia sea, biển đông việt nam, south china sea, biển nam trung hoa

Chuyên mục Southeast Asia Sea được thành lập nhằm khẳng định chủ quyền biển Đông từ hơn 10 ngàn năm của dân tộc Việt-Nam.

Hơn 10 ngàn năm qua, dân tộc Việt-Nam đã sống với biển, gần biển. Đây là nền văn minh chói sáng của tộc Việt.

Tình cảm gắn bó giữa biển và con người Việt Nam đã có chiều dài hàng 10 ngàn năm và tình cảm này vĩnh viễn không thể nào chia cắt được cho dù trải qua nhiều sự thay đổi của lịch sử.

***

- Cuộc Chiến Hồ Chí Minh Chống Dân Tộc Việt Nam -

lịch sử việt nam

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65

Nhóm Tâm Việt Úc Châu biên khảo

(tái bản có sửa chữa)

Khối 8406 Tự do Dân chủ cho Việt Nam
07-2010

MỤC LỤC
      CHƯƠNG 1
CUỘC CHIẾN TRANH CỦA HỒ CHÍ MINH..       tr. 05
      CHƯƠNG 2
LỄ TẾ CỜ CỦA HỒ CHÍ MINH                                 36
      CHƯƠNG 3
HỒ CHÍ MINH, KẺ MANG TÊN GIẢ                         75
      CHƯƠNG 4
CÁI BÁNH VẼ CỦA HỒ CHÍ MINH                           97

++++++++++++++++++++++

      Lời giới thiệu của Khối 8406
        Năm 2007, Tủ sách Khối 8406 đã hân hạnh mở đầu với tập tài liệu “Cuộc chiến tranh của Hồ Chí Minh đánh Dân tộc” do Nhóm Tâm Việt, Sydney, Úc châu, biên soạn, gồm có 5 chương. Với thời gian, Nhóm tác giả đã sửa chữa rồi bổ túc thêm cho phong phú (đặc biệt bằng cách trích dẫn vô số chứng từ) và đã hoàn thành đầu năm 2010 với 10 chương cả thảy. Nay được phép các tác giả, chúng tôi ấn hành tài liệu này thành 3 tập (theo khuôn khổ bình thường của Tủ sách), tập nhất 3 chương rưỡi, tập nhì 3 chương rưỡi và tập cuối 3 chương.

Mở đầu với chương “Cuộc chiến tranh của HCM đánh dân tộc” (vốn trở thành nhan đề của tác phẩm), tác giả cho thấy ngay từ khởi thủy, Hồ Chí Minh, một nhân viên của Đệ tam Quốc tế Cộng sản, không bao giờ có ý định đấu tranh giành độc lập cho Tổ quốc, đem tự do cho Dân tộc, nhưng chỉ muốn mở rộng đảng Cộng sản và Đế quốc đỏ ở vùng Đông Nam Á, theo lệnh của Stalin. Với mục tiêu này, HCM chỉ coi dân Việt là phương tiện. Vì thế, ai cản trở ông và đảng ông trên con đường mở rộng chủ nghĩa và chế độ CS thì phải bị tiêu diệt. Lễ tế cờ của ông (chương 2), mở đầu cuộc chiến tranh này, do đó đã làm đổ máu 20 ngàn nạn nhân (cuối 1945 đầu 1946).

Tiếp theo đó, tác giả cho thấy những phương cách mà HCM đã tiến hành cuộc chiến tranh đánh Dân tộc: dùng nhiều tên giả để che giấu tung tích (chương 3), đưa ra cái bánh vẽ tự do, độc lập, hạnh phúc để lường gạt người Việt (chương 4), đào tạo nhân viên, cài cắm cán bộ vào trong lòng mọi tổ chức quốc gia, mọi tầng lớp xã hội để theo dõi, kiểm soát, khống chế, lũng đoạn và tiêu diệt (chương 5).
        (xin vui lòng xem tiếp tập 2)

...

Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành

Như một thám tử tài ba điều tra và tìm ra thủ phạm của một vụ án giết người mà từ lâu đã bị lấp khuất, kẻ sát nhân bị lôi ra trước công lý để đền tội, và người thám tử được vinh danh. Việc tìm ra lá đơn xin nhập học trường Thuộc địa sai lỗi chính tả của Hồ Chí Minh viết hồi năm 1911 cũng được ví von như vậy. Đó là do công khảo cứu của 2 nhà sử học Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu ngày 2-2-1983, và 2 người đã viết chung trong quyển Một ngôi trường khác cho Nguyễn Tất Thành.

Trong thời gian thật dài là 72 năm (từ 1911 đến 1983), lá đơn sai lỗi chính tả ấy đã nằm yên trong Văn khố của Bộ Hải ngoại Pháp quốc mà không ai biết. Tưởng rằng không ai biết, nên Bác mới tha hồ khoác lác tự đề cao rằng mình “xuất dương để tìm đường cứu nước”. Đảng cũng không biết vị Chủ tịch Đảng của mình đã từng nạp đơn để xin học trường Thuộc địa, nên mới tha hồ chưởi bới bôi lọ rằng “trường chỉ là nơi đào tạo những tên Việt gian phản động, những tên chuyên làm tay sai cho Thực dân Pháp”. Thật đúng là Chủ tịch thì gian xảo, còn Đảng thì giỏi nghề chưởi bới. Chủ nào, Đảng nấy! Thật rất đúng!

Tên Paul Thành và Paul Tatthanh

Ông vẫn làm việc dưới tàu, rày đây mai đó, khi đi Anh lúc sang Mỹ. Sau đó không lâu, ông viết thư cho Khâm sứ ở Trung kỳ để xin ban cho cha ông một việc làm như thừa biện ở các bộ hay chức huấn đạo và một thư khác xin Khâm sứ chuyển mandat 15 đồng bạc Đông Dương cho cha mình vì cha ông không thể nhận mandat trực tiếp được. Những bức thơ nầy ông đề tên Paul ThànhPaul Tatthanh. Lần nầy, ông lại ghép thêm tên Paul vào tên khai sanh của mình cho có vẻ giống Pháp, vì đấy là mốt rất thời thượng vào thuở đó. Và ông lại viết 2 chữ Tất và Thành dính lại thành 1 chữ Tatthanh theo kiểu ngôn ngữ đa âm của tiếng Pháp.

Bút danh Nguyễn Ái Quốc của ai?

Về tên Nguyễn Ái Quốc thì có nhiều nghi vấn. Trong quyển Nhà Cách mạng Tạ Thu Thâu 1906-1945 của tác giả Phương Lan Bùi Thế Mỹ (trang 87) thì tờ báo viết bằng chữ Pháp Le Paria có nghĩa là Người cùng đinh do đảng Cộng sản Pháp xuất vốn và do Nguyễn Thế Truyền hợp tác trông nom. Nguyễn Thế Truyền, người tỉnh Nam Định, có bằng kỹ sư hóa học, ở Pháp rất lâu, có vợ đầm, có hai cô con gái đặt tên là Trưng Trắc và Trưng Nhị để kỷ niệm tên hai vị nữ anh hùng Việt Nam. Ông là một đảng viên kỳ cựu trong đảng Cộng sản Pháp (trang 89 sđd). Dù là kỹ sư hóa học, nhưng không dùng bằng cấp sống với nghề nầy, trái lại Truyền lại đi theo con đường chính trị, viết báo hô hào binh vực quyền lợi người dân Việt Nam bị Pháp áp chế. Theo bà Phương Lan Bùi Thế Mỹ (bà viết lại theo lời kể của Tạ Thu Thâu, vì bà cùng nhà cách mạng Tạ Thu Thâu là người đồng hương ở tỉnh Long Xuyên và giữa hai người có giao tình nghĩa huynh nghĩa muội rất đậm đà) thì ban biên tập tờ Le Paria như sau:

“Trong nhóm của Truyền, có nhiều cây viết mạnh như Truyền, đồng ký tên chung trong mục xã thuyết là Nguyen Le Patriote tức là Nguyễn Ái Quốc, mà nhiều người cho đó là của một mình Nguyễn Tất Thành, tức là Hồ Chí Minh sau nầy. Nhưng sự thật do nhiều người đảm nhận, thay nhau viết, như Hoàng Quang Giụ, một chiến sĩ làm phụ tá cho Truyền, Hoàng Quang Bích, Văn Thu, Nguyễn Như Phong, Nguyễn Văn Tự v.v... Nhiều người viết cho một mục chung, chớ chẳng phải bút tự riêng cho một cá nhơn nào cả”.

Tác giả Phạm Quang Trình, trong quyển Chiến đấu (tr. 275), cũng đặt nghi vấn tương tự: “Có điều lạ là trong thời kỳ này, nhiều bút tích ký tên là Nguyễn Ái Quấc (lối nói của người miền Nam) chứ không phải là Quốc như lối nói của người miền Bắc và miền Trung (bản in ghi là Quốc khác với bút tích là Quấc), vậy phải chăng có hai hay một nhóm người dùng tên Nguyễn Ái Quốc mà sau này ông Hồ cố ý cầm nhầm chăng?”

Theo Phương Lan Bùi Thế Mỹ, thì quyển Kết án Thực dân Pháp (Le Procès de la Colonisation Française) do Nguyễn Thế Truyền là tác giả bán rất chạy ở Việt Nam cũng như ở Pháp (trang 90 sđd). Phạm Quang Trình cũng đặt nghi vấn về tác giả của bản văn đó như sau: “Bản án Chế độ Thực dân Pháp là tập tài liệu tố cáo chính sách đàn áp bóc lột của Thực dân Pháp đối với các Dân tộc thuộc địa ở châu Phi và ở Đông Dương, trong đó có xứ An Nam. HCMTT/Tập 2 (tức là quyển Hồ Chí Minh Toàn tập) viết rằng Bản án Chế độ Thực dân Pháp được in lần đầu năm 1925 ở Paris bằng Pháp ngữ, do Nguyễn Thế Truyền đề tựa”.Tác giả Phạm Quang Trình cho rằng trong thời gian này ông Hồ đang hoạt động ở Nga, và từ lâu, nhiều nhân vật hoạt động cũng như dư luận đều cho rằng tài liệu này do một nhóm người hoạt động ở Pháp, chủ chốt là Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền cùng một số nhân vật khác ký tên chung là Nguyễn Ái Quấc hay Nguyễn Ái Quốc. Khi sang Nga làm việc cho ban Phương Đông, ông Hồ đã lấy tên Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của mình và sau này cầm nhầm luôn tài liệu đó, tự cho mình làtác giả. Dư luận này đã được nhiều người chú ý và cho là khả tín.

Trong tác phẩm Chân tướng Hồ Chí Minh (trang 47), Giáo sư Cao Thế Dung cũng nhận xét về sự việc mạo nhận bút danh Nguyễn Ái Quốc như sau: “Nhóm Nguyễn Ái Quốc với cái tên chung xuất hiện trên một số báo như L’Humanité, Le Libertaire, La Vie Ouvrière cũng đều do Phan Văn Trường hay Nguyễn Thế Truyền viết. Ông Hồ cũng nhìn nhận khả năng tiếng Pháp học trò của ông, nhưng Hồ đã lanh tay lấy tên Nguyễn Ái Quốc lúc bấy giờ đã nổi tiếng trên báo L‘Humanité của đảng Cộng sản Pháp và với tên này, Hồ đi vào cộng đồng Cộng sản và Thiên tả Pháp. Hồ được Nguyễn Thế Truyền giới thiệu với các đồng chí của ông trong đảng Xã hội và từ đảng Xã hội, Hồ qua đảng Cộng sản Pháp. Sự kiện minh chính rất rõ rệt, không có Luật sư Phan Văn Trường và Kỹ sư Nguyễn Thế Truyền thì không có Nguyễn Ái Quốc. Cái danh Nguyễn Ái Quốc và Bản án Thực dân Pháp là sản phẩm của Phan và Nguyễn. Ông Hồ chỉ là một thứ chầu rìa văn chương”.

Vào thời gian đó, cũng có những bài mang bút danh Nguyễn Ố Pháp, nhưng tính quá khích nầy bị Jacques Doriot của đảng Cộng sản Pháp trách cứ.       

Hồ Chí Minh mang giả danh Nguyễn Ái Quốc cũng giống y như trong thơ ngụ ngôn có chuyện cáo đội lốt hùm để vay mượn oai vệ của chúa tể sơn lâm. Cho đến ngày 19-8-1945, khi đảng Cộng sản cướp chính quyền ở Hà Nội, thì toàn quốc không ai biết nhân vật Hồ Chí Minh là ai! Chính Cựu hoàng Bảo Đại lúc đó ở Huế cũng không biết, ngài bèn hỏi Phạm Khắc Hoè. Hoè cũng không biết, bèn đi hỏi Tôn Quang Phiệt và Đào Duy Anh, thì cả 2 vị nầy cũng không biết. Vào lúc đó, Vũ Văn Hiền vừa mới từ Hà Nội về mới cho biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc. Khi Cựu hoàng biết Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc thì Cựu hoàng mới nói: “Nếu quả người cầm đầu Việt Minh là Thánh Nguyễn Ái Quốc, thì trẫm sẵn sàng thoái vị ngay”. Đó là lời thuật của Phạm Khắc Hòe (Bài viết chung trong quyển Chín Chúa mười ba Vua, tác giả Tôn Thất Bình, trang 158).

Một nhân chứng ở Hà Nội là bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ cũng nhận xét về ý đồ dùng tên giả của Hồ Chí Minh như sau (Trích Hồi ký Nguyễn Xuân Chữ, tr. 327): “Tuy nhiên, xét kỹ thì một người đã mượn họ tên khác đặt vào mình trong một địa vị cao quý nhất của một nước, người ấy ắt có một tâm địa tráo trở. Vì lẽ gì đã phải giấu tên thực với quốc dân, với quốc tế? Những ngày đầu của chính quyền Việt Minh, trên mặt các báo có thấy nói đến tên Nguyễn Ái Quốc. Nhưng dụng ý là úp mở cho biết Hồ Chí Minh ngày nay tức là Nguyễn Ái Quốc trước”

Cụ Hồ Chí Minh thật là ai ?

Nhưng biệt danh Hồ Chí Minh lại cũng không phải là tên cúng cơm của Bác. Trong quyển Anh thư nước Việt từ lập quốc đến hiện đại, tác giả Phương Lan viết về một vị anh thư tham gia cách mạng vào đầu thế kỷ 20 là bà Ngô Thị Khôn Nghi như sau (tr. 238 sđd): “Bà Ngô Thị Khôn Nghi, con gái cụ Ngô Quảng, một nhà Tiền bối cách mạng, một tướng lãnh xuất sắc trong nghĩa quân Cần Vương và Quang Phục ở làng Tam Đa, tổng Vạn Trình, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Bao phen vào sanh ra tử, qua nhiều lần thất bại, cụ Ngô Quảng phải bôn tẩu qua Xiêm rồi thất lộc ở đó. Cụ qua Xiêm đặng một năm, thì cụ có được hai người con, một trai một gái. Chị gái tức là Khôn Nghi, em trai tên Ngô Chính Học, được đoàn thể cách mạng đem sang Tàu cả hai”.

Trong cái chương của sách đã dẫn, tác giả Phương Lan cẩn thận đặt phụ đề là Ngô Thị Khôn Nghi, vợ cụ Hồ Chí Minh thật và viết tiếp: “Bà Khôn Nghi qua Tàu cũng vào trường học, sau đó kết duyên cùng cụ Hồ Học Lãm. Bao nhiêu năm cụ Lãm hoạt động cách mạng VN, ở Tàu bao nhiêu năm thì bà Khôn Nghi cùng hoạt động cách mạng ở bên cạnh chồng và nhiều đồng chí khác. Nhóm làm cách mạng VN ở Tàu, không ai không biết gia đình này, từ người quốc gia cho tới người Cộng sản.”

Cụ Hồ Chí Minh thật đó, tức là Hồ Học Lãm, là con của Án sát Hồ Bá Ôn, người đã hy sinh như một Liệt sĩ Dân tộc vì đã chiến đấu đến cùng khi Pháp đánh thành Nam Định năm 1883. Hồ Học Lãm tham gia phong trào Đông Du và Duy Tân do Phan Bội Châu lãnh đạo, sang Nhật du học rồi trở về Tàu, gia nhập Quân đội Trung Hoa QDĐ, mang quân hàm trung tá, là thành viên sáng lập VNCMĐMH năm 1936. Khi Hồ Học Lãm qua đời, thì nhân vật Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc xử dụng ba chứng minh thư của Hồ Học Lãm mang tên Hồ Chí Minh để che giấu tông tích Cộng sản của mình, để tiện việc di chuyển trên đất Tàu, và chiếm luôn tên Hồ Chí Minh (vì vào lúc đó, Trung Hoa Dân quốc dưới quyền Tổng thống Tưởng Giới Thạch đã từ bỏ chính sách Liên Nga Dung Cộng nên không chấp nhận Cộng sản).

Đến bây giờ, chúng ta đã biết Hồ Chí Minh thật là Hồ Học Lãm, con của Án sát Hồ Bá Ôn, còn Hồ Chí Minh giả là con của Phó Bảng Nguyễn Sinh Huy tên Nguyễn Sinh Cung, sau đổi lại là Nguyễn Tất Thành. Biết là biết vậy thôi, nhưng giả đã biến thành thật quá lâu rồi, cho nên ta cứ đọc và hiểu rằng Nguyễn Sinh Cung là Nguyễn Tất Thành, là Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chí Minh, là là là... biết bao giả danh khác nữa! Nhưng biết là biết vậy thôi, cũng chưa đủ. Khi biết có hai Hồ Chí Minh, thì phải biết thêm một án mạng, nạn nhân là con gái Hồ Học Lãm, tức con của cụ Hồ Chí Minh thật. Chuyện do tác giả Nguyễn Thái Hoàng ghi chép trong bài Chân dung Hồ Chí Minh qua bài vè dân gian (Bài viết tại Hà Nội tháng 3-2006, Bán tuần báo Việt Luận đăng tải trong số 2052 ngày 17-3-2006), nguyên văn như sau: “Khi con gái ông Lãm phát hiện ra, làm ầm ĩ trước cửa Phủ Chủ tịch (Hà Nội) vào năm 1946, thì không biết Bác sai bảo ra sao mà trên đường bà này về thăm quê ở Thanh Hóa đã bị thủ tiêu bí mật”!

Bây giờ ta cứ xem những tên giả của Hồ Chí Minh như là những phép biến hóa thất thập nhị huyền công của Tôn Ngộ Không để tạo Hồ Chí Minh thành một con người muôn mặt, khi ẩn khi hiện, với hành tung kỳ bí như một nhân vật trong thần thoại. Vì thế cho nên, vào năm 1967 khi Oliver Todd, nhà văn và nhà báo Pháp, gặp Nguyễn Khắc Viện ở Hà Nội, thì Viện khoe với Oliver Todd rằng: “Bác Hồ của chúng tôi là huyền thoại sáng lập huyền thoại”. Khi nói như vậy, thì Viện chỉ làm bổn phận như một con vẹt lặp lại lời chủ, bởi vì trước đó 5 năm, vào tháng 7 năm 1962, trong cuộc phỏng vấn của Bernard Fall, chính Hồ Chí Minh đã thú nhận rằng mình là “một ông già thường thích thêu dệt một chút huyền thoại cho cuộc đời mình”.

Vào giữa năm 1923, với tư cách đảng viên đảng Cộng sản Pháp và mang tên Nguyễn Ái Quốc, ông Hồ được đảng cử đi dự Đại hội V của Đệ tam Quốc tế (Komintern) và được cấp 1000 quan làm lộ phí (vào thời đó là một số tiền lớn, một sinh viên có thể sống trong 5 tháng). Sau một thời gian ngắn tạm trú ở Đức, Hồ Chí Minh được tổ chức làm cho một giấy thông hành để đi Mạc Tư Khoa với tên Chen Vang, trong giấy ghi ngày sinh là 15-2-1895.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62, 63, 64, 65

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter