lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

Việt Nam thời kỳ báo động: hằng ngàn nhân công Trung Quốc đổ bộ sang Việt Nam & sự nguy hiểm của Bô-xít

Bs Nguyễn Thùy Trang 30-03-2009

Bản tin của hãng thông tấn AFP từ Hà Nội ngày 29-03-2009 đưa tin hằng ngàn nhân công Trung Quốc đã tới Việt Nam để làm việc. Tờ Tuổi Trẻ thì cho biết có khoảng 2 nghìn nhân công Trung Quốc đã tới Quảng Ninh. Các nhân công nầy sẽ làm việc ở nhà máy điện và xi măng tại đây, trong khi đó hằng ngàn công nhân Trung Quốc khác đã đến làm việc cho các nhà máy bô-xít (bauxite) tại Đà Lạt, Tây Nguyên.

Vietland xin phỏng vấn Bs Nguyễn Thùy Trang hiện đang giúp Liên Hiệp Quốc trong công tác bảo vệ môi trường tại Châu Phi về sự nguy hại của sự khai thác bô-xít (bauxite) tại Việt Nam cũng như tình trạng nhân công Trung Quốc hồ ạt đổ bộ sang Việt Nam trong lúc nầy.

Xuân Nhi: Xin Bs Thùy Trang cho biết suy nghĩ của chị về tình trạng hằng nghìn công nhân Trung Quốc ồ ạt đổ bộ sang VN.

Bs Thùy Trang : Việc chính phủ VN cho hằng nghìn dân Trung Quốc sang làm việc tại VN sẽ ảnh hưởng rất nhiều tới kinh tế, dân sinh. Đó là chưa nói tới sự nguy hại về An ninh lãnh thổ.

Về kinh tế thì thấy người dân VN trong lúc nầy chưa ổn định, tỉ lệ thất nghiệp tại VN đang tăng cao, TQ đưa người sang VN sẽ làm cho người VN bị mất việc. Theo một bản tin của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA), một bản tin của DPA trích lời bà Nguyễn Thị Hải Vân, phó cục trưởng Cục Việc làm, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, nói rằng theo dự đoán của Bộ Lao động thì khoảng 300,000 công nhân có phần chắc sẽ mất việc trong nửa đầu năm 2009, và khoảng hơn 100,000 công nhân nữa sẽ bị giảm biên chế trong nửa cuối năm 2009. Theo cục trưởng Nguyễn Đại Đồng thì con số này cao gấp 5 lần so với con số 80 ngàn công nhân mất việc làm trong năm 2008. Những con số này chỉ phản ánh tình trạng thất nghiệp của công nhân ở khu vực chính thức chứ chưa tính đến khu vực phi chính thức như những người buôn bán trên đường phố và nông dân.

Về vấn đề dân sinh thì người Trung Quốc sang làm việc tại VN hiện nay con số chính thức là 4-5 nghìn, không chính thức có thể cao hơn nhiều và trong tương lai theo tôi dự đoán là sẽ tăng chứ không giảm. Trung Quốc với chủ trương bành trướng, có thể dùng quân sự để chiếm các vùng biên giới VN như sau cuộc chiến năm 1979, họ đã tìm cách lấn sâu hơn vào lãnh thổ VN.

Vấn đề quân sự tuy nguy hiểm cho VN nhưng không nguy hiểm bằng vấn đề dân sinh. Khi người TQ sang VN làm việc, họ có thể tìm cách ở luôn tại VN như dựng vợ gả chồng hay lập ra nhiều ngôi làng TQ mới trên lãnh thổ VN. Qua một thời gian dài như vậy thì dần dần đất của người VN sẽ về tay người TQ mà không hay biết.

Xuân Nhi: Việc nhà nước CSVN cho TQ khai thác bô-xít (bauxite) tại Đà Lạt và Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng như thế nào về môi trường ?

Bs Thùy Trang : Vấn đề cho TQ khai thác bô-xít tại Tây Nguyên VN, cựu đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng nhiều khoa học gia VN đã lên tiếng phản đối. Tuy nhiên trong nhiều bài viết do các khoa học gia VN đưa ra, họ quan ngại về sự nguy hại của bô-xít trên môi trường sinh thái nhưng chưa có bài viết nào nói rõ sự nguy hiểm của bô-xít như thế nào đối với cơ thể con người khi bị nhiễm bụi đỏ (Red dust) và bùn đỏ (Red mud).

Red dust (bụi đỏ) và Red mud (bùn đỏ) của bô-xít đều sản sinh qua quá trình Bayer (Bayer process) để làm ra chất nhôm Aluminum. Người dân ở gần khu vực khai thác sẽ nhiễm phải độc tố của bụi đỏ di chuyển qua không khí, trong khi đó bùn đỏ sẽ thấm vào sông, suối, giếng nước của người dân sống ở những vùng xa hơn.

Vào năm 2001, các khoa học gia trên thế giới từ Học viện Ung thư của Ý tới đại học của các nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ & Hoa Kỳ, họ đã lấy các mẫu bụi đỏ và bùn đỏ từ những nhà máy bô-xít để làm thử nghiệm. Họ cho bùn đỏ nhiễm sang nước biển, rồi thử nghiệm thì thấy động vật nhiễm phải sẽ bị nguy hại tới đường sinh sản (cytogenetic abnormalities), gây nên dị tật cho thai nhi. Trong khi đó, bụi đỏ gây ô nhiễm không khí cũng được thử nghiệm tại phòng thí nghiệm quốc gia Úc Châu cho thấy những con chuột hít phải bụi đỏ đều có triệu chứng phổi nhiễm độc đưa tới ung thư. Nếu trường hợp bị nhiễm lâu hơn thì gân máu của đường mũi (sinus histiocytosis) bị sưng lên, u lên. Đồng thời gây sự phản ứng, biến dạng trong tế bào biểu mô (epithelioid cell) của cổ tử cung.

Trong bụi đỏ có rất nhiều chất độc gây ung thư như Aluminium oxide và nhiều độc tố khác như Arsenic và Beryllium. Beryllium được xem như độc chất gây sưng phổi, tử vong khi bị nhiễm phải. Một độc tố khác trong bụi đỏ là Thorium gây ung thư đường thở... Đó là chưa kể tới phóng xạ nguy hiểm (radiation exposure & radionuclides) sẽ gây thêm ung thư cho người bị nhiễm. Triệu chứng bị nhiễm phải bụi đỏ & bùn đỏ là thấy khó thở, chóng mặt, buồn nôn trong thời gian đầu, vào thời kỳ thứ hai sẽ bị đau ngực, có thể bị xỉu bất cứ lúc nào.

Xuân Nhi: Bs Thùy Trang cho biết cụ thể về sự phòng ngừa. Nếu người dân ở gần khu vực khai thác bô-xít sẽ phải làm gì.

Bs Thùy Trang: Theo kinh nghiệm của tôi thì những người dân sống trong vùng hay gần vùng khai thác bô-xít nên đào một đường mương ngăn cách khu vực khai thác bô-xít với nơi mình ở. Mương đào chiều ngang khoảng một thước và chiều sâu khoảng 2 thước rồi đổ đất sét vào mương. Đất sét ngăn bùn đỏ lấn vào sông suối, giếng nước rất tốt. Về bụi đỏ thì khó ngăn hơn vì bụi đỏ bay trên không gian, hòa vào không khí. Nếu bụi đỏ thấm vào rau cải được trồng gần đó, các rau cải nầy nếu không rửa sạch khi mang vào bán ở thành phố thì bệnh tật sẽ lây lan cho người tiêu dùng. Khẩu trang có thể ngăn một phần nào bụi đỏ, người sống gần đó nên đeo khẩu trang khi ra đường. Về nước uống thì nên uống nước cất hay dùng nước máy lọc. Trường hợp không có máy lọc nước thì tốt nhất là hứng nước mưa uống và nên nhớ kỹ là không hứng nước mưa khi mưa bắt đầu vì bụi đỏ đang ở trên không khí sẽ thấm vào nước mưa. Hãy chờ cho mưa thật lâu khoảng trên 40-50 phút mới có thể hứng uống được. Hãy lưu trữ nước mưa và tránh dùng nước giếng nếu ở quá gần khu vực khai thác bô-xít.

Khi cảm thấy có những triệu chứng như tôi đã nêu trên thì nên đi bệnh viện để thử xem máu mình có bị nhiễm hóa chất không. Trường hợp đã bị nhiễm hóa chất thì nên tạm thời sống xa vùng khai thác bô-xít để chữa trị.

Xuân Nhi: Xin cám ơn Bs Thùy Trang đã nói rõ hơn về sự nguy hại của sự khai thác bô-xít trong vấn đề dân sinh.

Cân nhắc lợi nhuận kinh tế từ bô-xít

Ts Lê Đăng Doanh trả lời pv RFA

01-04-2009

Sau khi chính quyền Hà Nội tuyên bố việc khai thác quặng bô-xít tại Tây Nguyên sẽ đem lại nguồn lợi nhuận kinh tế cao thì nhiều nhà kinh tế cũng như các nhà khoa học đã chứng minh ngược lại với những lập luận phản biện.

Môi trường sống của vùng Tây Nguyên có thể hủy hoại khi tiến hành những dự án khai thác quẳng mỏ bô-xít. Việc khai thác bô-xít có hiệu quả kinh tế ra sao? Và giá trị kinh tế này có đáng để bỏ qua những tác hại về môi sinh hay không? Mời quý vị theo dõi cuộc nói chuyện giữa Nhã Trân và Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, cựu chuyên gia cao cấp và cũng là cựu cố vấn kinh tế của chính phủ Việt Nam.

Khai thác quặng bô-xít có hiệu quả cao về kinh tế?

Nhã Trân : Thưa Tiến Sĩ, chính phủ Việt Nam cho rằng khai thác quặng bô-xít có hiệu quả cao về kinh tế, thế nhưng có nhiều nhà kinh tế thì lại nói là các hiệu quả này thực sự rất thấp. Là một người am tường về tình hình kinh tế của Việt Nam, ông có nhận định ra sao về hiệu quả kinh tế của việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên?

TS Lê Đăng Doanh : Tôi không thể trả lời một cách chính xác cái giá trị kinh tế đó là bao nhiêu, nhưng theo tôi, không thể tách giá trị kinh tế ra khỏi chi phí toàn bộ về môi trường, về tác động đến đời sống của đồng bào dân tộc, nên tôi thiên về cái hướng là cần phải có một sự cân nhắc rất kỹ lưỡng trước khi triển khai.

Hiện nay đang có hai luồng ý kiến khác nhau về việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Một ý kiến cho rằng với trữ lượng lớn và với công nghệ hiện đại thì có thể bảo đảm khai thác và có lãi. Phương án họ đưa ra là không phải khai thác để chế biến thành aluminium tinh khiết, vì aluminium tinh khiết thì cần phải điện phân và sử dụng rất nhiều điện.

Người ta đã tính ra là đến hơn 60% giá thành của aluminium chính là giá điện mà thôi, mà hiện nay chúng ta thiếu điện, cho nên có lẽ chỉ có sản xuất ra được cái gọi là alumi, tức là một chất quặng được làm giàu tinh khiết, rồi sẽ được điện phân ở nơi khác. Và tính ra với trữ lượng lớn như vậy cũng có thể có lãi.

Một phương án khác được nhiều nhà khoa học lên tiếng thì cho rằng việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên sẽ giở lớp đất bề mặt, sẽ hủy hoại môi trường, và sẽ không những là không có lãi về mặt kinh tế mà cái giá phải trả về mặt môi trường, về mặt xã hội sẽ rất là to lớn. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, giá của nguyên vật liệu đã giảm hết sức sâu, ngay cả những nước giàu tài nguyên như nước Úc cũng đang gặp khó khăn trong việc khai thác tài nguyên, khai thác dầu.

Nhã Trân : Theo giới khoa học trong cũng như ngoài nước, việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên sẽ đưa đến những tác hại nghiêm trọng về vấn đề môi trường, không những cho vùng Tây Nguyên mà còn lan truyền xuống cả vùng phía Nam của Việt Nam. Tiến Sĩ có đánh giá gì về các nhận định này ?

TS Lê Đăng Doanh : Tôi thấy những lập luận của các nhà khoa học đưa ra là rất đáng chú ý. Nhất là trong bối cảnh môi trường ở Việt Nam hiện nay đang bị tác động rất là tiêu cực, và mức độ ô nhiễm môi trường đã trở nên rất nghiêm trọng, mặc dầu chúng ta mới ở giai đoạn đầu của công nghiệp hoá.

Tôi cũng đồng ý với nhiều đồng nghiệp của tôi rằng đề nghị chính phủ cân nhắc rất là kỹ lưỡng, xem xét đầy đủ các ý kiến phản biện và các đề án khác nhau. Và tôi cũng thiên về cái hướng là nên bắt đầu một dự án có tính chất thí điểm để xem xét tác động toàn diện trước khi triển khai trên quy mô lớn. Nhiều nhà kinh tế và nhà nghiên cứu đã có đề xuất phương án là cần phải chờ cho tới khi nào có các công nghệ mới và có cách khai thác có thể đủ bảo đảm được môi trường, bảo đảm được đời sống của các đồng bào dân tộc, thì hãy tính đến việc khai thác. Còn hiện nay thì chưa nên tính đến việc khai thác. Trước mắt thì chỉ nên làm thí nghiệm một quy mô rất nhỏ trước khi quyết định khai thác và triển khai trên quy mô lớn.

Hạn chế phát triển công nghiệp trên tài nguyên thiên nhiên

Nhã Trân : Theo ông, Việt Nam nếu muốn đạt được hiệu quả kinh tế, ít nhất là bằng với việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, thì có thể làm những điều gì ? Tiếp tục phát triển việc trồng những loại cây lâu nay mang lại kinh tế cao ở vùng Tây Nguyên như là cao su, cà phê, hay là nên nghĩ đến những dự án khác mà thật sự mang lại lợi nhuận cao về kinh tế ?

TS Lê Đăng Doanh : Theo tôi, trong thời gian hiện nay nên bảo tồn môi trường và chú ý trồng những loại cây như cà phê, hoặc cao su, hoặc các loại cây thích hợp khác. Tôi cũng xin lưu ý là việc trồng cà phê cũng đã tạo ra một tác động tiêu cực đối với môi truờng vì khai thác nước ngầm đã quá mức có thể cân bằng được.

Cho nên hiện nay mức nước ngầm ở Tây Nguyên cũng đang cạn đi và điều ấy cũng đe dọa rằng cà phê cũng có thể không có hiệu quả, vì vậy mà Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn kiến nghị nên giữ diện tích trồng cây cà phê ở mức độ hợp lý, không nên cứ tăng quá đáng theo tín hiệu của thị trường.

Theo tôi, cái hướng của Việt Nam là không nên tiếp tục phát triển nền kinh tế của mình, nền công nghiệp của mình trên cơ sở khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, mà nên chú ý đến phát triển nguồn nhân lực, chú ý đến phát triển khoa học - công nghệ để tăng giá trị gia tăng.

Thí dụ như không thể chỉ cứ xuất khẩu cà phê mà nên cố gắng chế biến thành cà phê hoà tan, không thể chỉ là xuất khẩu tôm - hải sản đông lạnh mà nên cố gắng chế biến thành tôm bao bột, tôm được chế biến và có thương hiệu để từ đấy có thể tiến lên,
có thể phát triển những ngành công nghiệp chế biến nông-lâm-thủy sản, và phát triển công nghệ phần mềm và các loại dịch vụ khác để bảo đảm một tốc độ tăng trưởng bền vững hơn so với mô hình tăng trưởng hiện nay dựa quá nhiều vào vốn đầu tư, dựa quá nhiều vào mở rộng tài nguyên, khai thác tài nguyên thiên nhiên và đất đai.

Nhã Trân : Tiện đây cũng xin được hỏi thăm Tiến Sĩ là kế hoạch tái cấu trúc nền kinh tế mà chính phủ Việt Nam vừa đưa ra, theo đánh giá của Tiến Sĩ, có thể là một kế hoạch khả quan, nước Việt Nam gặt hái được một số thành quả kinh tế nhất định để từ đó có thể thay cho việc khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên của đất nước ?

TS Lê Đăng Doanh : Vâng. nhiều nhà kinh tế cũng đã đề nghị là nên xây dựng phương án tái cơ cấu nền kinh tế, cấu trúc lại nền kinh tế, đẩy mạnh việc phát triển nguồn nhân lực, và phát triển theo chiều sâu để bảo đảm một sự phát triển lâu bền và có hiệu quả hơn.

Theo như tôi được biết, hiện nay quyết định khai thác bô-xít đã được triển khai và có một số công nhân Trung Quốc đã tham gia vào việc khai thác ở Đắc-Nông, ở Tây Nguyên rồi, cho nên tôi rất tha thiết là (mong chính phủ) nên xem xét một cách nghiêm túc cái tác động toàn thể về mặt kinh tế, xã hội, về mặt ổn định đời sống đối với đồng bào dân tộc, trước khi đi đến quyết định.

Việc khai thác quặng mỏ Bauxite tại Tây Nguyên

Nguyễn Ngọc Danh trả lời pv của CTM 02-04-2009

Thuỳ An: Kính thưa quý thính giả, trong tiết mục Phóng Sự Đặc Biệt hôm nay, chúng tôi xin hân hạnh giới thiệu cuộc trao đổi của chúng tôi với Kỹ sư Nguyễn Ngọc Danh, Hội trưởng Hội Chuyên gia Việt Nam. Ông Nguyễn Ngọc Danh đã từng cộng tác với hãng Aqua trong việc chế biến alumine từ quặng bauxite tại Tây Úc.

Thưa ông gần đây dư luận nói rất nhiều về việc khai thác mỏ bauxite tại Việt Nam. Xin Ông cho biết ý kiến về vấn đề này?

Ks. Nguyễn Ngọc Danh: Vấn đề khai thác mỏ luôn luôn là một vần đề phức tạp về nhiều khía cạnh trên phương diện kinh tế và xã hội; mỏ quặng bauxite lại đưa ra thêm một khía cạnh khác là khía cạnh môi sinh. Về mặt môi sinh, tôi sẽ không đề cập nhiều vì quý đài cũng đã đề cập nhiều lần. Tuy nhiên vấn đề bùn đỏ mà việc khai thác bauxite sẽ đưa đến là vần đề tối quan trọng không thể bỏ qua và giải quyết tác hại của bùn một cách rốt ráo thì sẽ tăng giá thành rất nhiều và làm mất đi phần lợi của dự án, nhất là khi dự án ban đầu chỉ khai thác đến chặng alumine mà không đi tới việc sản xuất nhôm, vì giá alumine trên thị trường chỉ là 1 phần 5 của giá nhôm. Nhưng đi tới việc sản xuất nhôm lại gây ra những vấn đề môi sinh khác.

Tôi muốn đưa ra một vài khía cạnh mà tôi thấy cần nhấn mạnh để thấy dự án này cần phải nghiên cứu thêm và điều đình cho đến nơi đến chốn. Ngay cả trong trường hợp giả dụ rằng có thể khai thác được với ít tác hại thì việc vô lý đầu tiên là việc nhân công. Theo tôi hiểu qua những tin tức thì nhân công sử dụng trong việc khai thác quặng bauxite và chế biến thành alumine sẽ là nhân công đến từ các nơi khác, đặc biệt là từ Trung Quốc. Nếu sự thật là như thế thì là một lỗi lầm cho ai đề ra dự án và cho những người có thẩm quyền chấp nhận đề nghị trên. Trong khi công nhân Việt Nam phải đi ra làm việc ở nước ngoài với những điều kiện khắc khe, phải xa quê hương, xa gia đình, thì công việc ngay tại Việt Nam lại giao cho nhân công nước ngoài. Không thể viện cớ là việc khai thác quặng bauxite cần một kỹ thuật cao, vì đây là việc khai thác căn bản. Nhân công Việt Nam có thể hấp thu dễ dàng các kỹ năng cần thiết trong khi thời gian thiết lập và xây cất nhà máy chế biến.

Để lấy thí dụ, ở nhà có con, cho đi ở đợ ở nhà khác với những chủ ông cay nghiệt, rồi mình thuê một người khác với giá đắt để nấu cơm cho mình ăn, viện cớ là con mình không biết nấu cơm. Thế con mình đi nấu cho người thì sao? Trong tình cảnh có gia đình Việt Nam nào hành động điên rồ như thế. Vậy mà chính quyền của ông Nguyễn Tấn Dũng đã chấp nhận việc đó theo lời đề nghị của những người hùn hạp với Trung Quốc.

Tệ hại hơn là chúng ta đang vào giai đoạn tình trạng thất nghiệp trên khắp toàn cầu, đào tạo ra việc làm là một việc rất khó, chúng ta cứ nhìn vào những cố gắng của các chính phủ trên thế giới thì sẽ thấy. Nhiều người dự đoán là Trung Quốc sẽ mất đi vài chục triệu công việc trong những ngày tháng tới, Việt Nam cũng sẽ mất đi tối thiểu vài trăm ngàn công việc; như thế càng không có lý do gì mà những công việc chẳng cần kỹ năng cao lại không cho công nhân Việt Nam làm. Và cũng từ đó khiến nhiều người nghi ngờ là Bắc Kinh đưa người Trung Quốc vào Tây Nguyên cho nhiều mục tiêu khác nữa chứ không chỉ để khai thác bauxite.

Thuỳ An: Người ta có nêu vấn đề phải phát triển vùng Tây Nguyên, và khai thác quặng bauxite sẽ giúp cho việc phát triển này, thì ông nghĩ sao?

Ks. Nguyễn Ngọc Danh: Đúng thế, miền Tây Nguyên là miền nghèo nhất trong các miền ở Việt Nam. Nghèo không phải là vì không có tài nguyên mà vì không ai chú tâm đến. Vùng cần có sự quan tâm tối thiểu của tất cả để cho người dân ở đây có thể sống như dân ở các vùng khác.

Như tôi đã trình bày, ngay cả trong trường hợp giả dụ rằng có thể khai thác được với ít tác hại thì vẫn còn nhiều vấn đề chưa được thực sự tính tới. Vấn đề thứ nhất là làm sao di chuyển dân cư đang sinh sống trên vùng hầm mỏ. Việc này chưa được thấy trình bày cho rõ ràng, trong một vùng mà mật số dân cũng tương đối cao so với những vùng khai thác mỏ khác ở trên thế giới. Họ sẽ được đưa đi đâu, sẽ sinh sống như thế nào, được bù đắp ra sao, ai chịu chi phí này, v.v... Thứ nhì là thiết lập những nơi mà người công nhân mỏ đến sẽ sinh sống với gia đình họ, đào tạo những hạ tầng cần thiết để có một sinh họat kinh tế vùng, để người dân có thể sống nhờ sinh họat mỏ, nghĩa là tất cả một kế hoạch phàt triển vùng, điều này chúng ta cũng không thấy đề cập đến. Nên khó có thể nói là việc khai thác hầm mỏ bauxite sẽ giúp cho vùng Tây Nguyên phát triển như thế nào. Không chuẩn bị là chúng ta có thể rơi vào hoàn cảnh của Guinea là việc khai thác quặng bauxite chỉ đem cho người dân những khổ đau, những ràng buộc và tiền lời chỉ giúp cho các chính trị gia thủ đô và tài phiệt nước ngoài hưởng và càng giàu thêm.

Nhưng đó chỉ là giả dụ rằng khai thác được với ít tác hại mà thôi. Thực tế cho thấy giúp người dân Tây Nguyên tận dụng các lợi điểm đặc biệt về đất đai và khí hậu của vùng này để phát triển tối đa các ngành kỹ nghệ trồng trọt như trà, cà phê, điều, v.v... theo tôi vẫn là cách phát triển Tây Nguyên bền vững và tốt đẹp nhất. Nhưng liệu những người cầm quyền hiện nay có muốn đồng bào Tây Nguyên trù phú và mạnh về kinh tế hay không thì lại là câu hỏi khác.

Thuỳ An: Nếu Tây Nguyên không thật sự được hưởng lợi nhuận từ việc khai thác này, thì có chắc là Việt Nam sẽ được hưởng hay không?

Ks. Nguyễn Ngọc Danh: Nếu chúng ta có một hòn đá, chúng ta bán 1 đồng thì chúng ta thấy chúng ta lời, vì chúng ta có thêm một đồng. Nhưng nếu hòn đá đó thật sự đáng giá 2 đồng mà ta bán với giá đó thì chúng ta còn thấy lời không? Và nếu chúng ta bỏ công đánh bóng hòn đá đó thì chúng ta có thể bán 5 đồng mà chúng ta cứ đòi bán ngay với giá 1 đồng thì chúng ta còn thấy chúng ta lời không?

Tôi lấy thí dụ dễ hiểu như trên, để thấy rằng quặng bauxite có thể bán với rất nhiều giá trong những điều kiện chế biến khác nhau, nhiều hình thức khác nhau, từ quặng trơ cho đến lúc thành nhôm. Việc bán nửa chừng là việc ít thu nhập nhất. Với giá nhôm ngày hôm nay, quặng bauxite không có giá cao, khoảng 300 US$ một tấn so với giá nhôm, khoảng 1500 US$ một tấn, nhưng khi kinh tế thế giới bắt đầu khôi phục trở lại thì sự cách biệt giữa alumine và nhôm sẽ rất đáng kể 600 US$ một tấn so với 3000 US$!

Nhưng sự lợi ích của một dự án kinh tế không chỉ nằm ở sự đóng góp trực tiếp của dự án đó mà phải nghĩ đền những ảnh hưởng gián tiếp của dự án: tiền trả cho công nhân, tiền các công nhân tiêu thụ, đường và cơ sở hạ tầng tạo cho vùng đó có thể phát triển thêm, những dự án phụ, v.v... Trong trường hợp này, nếu là công nhân nước ngoài thì chúng ta mất đi một phần. Nếu chỉ bán alumine thì chúng ta mất đi phần mà một dự án nhôm có thể đem đền (hạ tầng năng lượng) và các ngành nghề phụ. Dự án nhôm không bắt buộc phải đặt ở ngay cạnh dự án alumine để nhiều vùng khác có thể hưởng những lợi trong việc phát triển Việt Nam.

Dĩ nhiên đó là tôi mới chỉ lượng định thử về mặt kinh tế thôi, còn phải xét đến mặt môi sinh, an ninh quốc phòng, đời sống người dân nữa rồi mới tổng hợp lại. Nhưng chỉ xét về mặt kinh tế thôi thì chúng ta đã có thể thấy là không nên tiến hành rồi.
Thuỳ An: Theo ông thì nên bỏ dự án bauxite này?

Ks Nguyễn Ngọc Danh: Bỏ hẳn thì tôi không dám quả quyết, vì sẽ có ngày thế giới sẽ nghĩ ra được cách khai thác mà không quá tác hại như hiện nay. Khi đó chúng ta có một tài nguyên cần phải khai thác. Nhưng ngay cả lúc đó cũng cần nghiên cứu rất kỹ để cho việc khai thác gây tổn hại ít nhất, và bảo vệ quyền lợi của người dân Việt Nam, chẳng những ngày hôm nay mà luôn cho các thế hệ trong tương lai. Điểm cần nhấn mạnh là: bauxite là nguồn tài nguyên không thể tái tạo. Nếu chưa khai thác thì nó vẫn còn đó; việc khai thác cẩu thả vội vã, không chỉ đưa đến những hậu quả không lường trong hiện tại và tương lai sau này, mà sẽ làm mất đi vĩnh viễn nguồn tài nguyên này của đất nước. Khi thế giới tìm ra cách khai thác bauxite có hiệu quả và không tạo nên những tác hại thì ta chẳng còn gì để khai thác.

Chỉ có điều khó khăn khá rõ ràng vào lúc này mà chúng ta biết là bỏ dự án bauxite sẽ có nhiều người buồn lắm vì tiền hối lộ đã lấy rồi, làm sao trả đây? Và nếu có cản được bàn tay khai thác bauxite lần này, tôi e rằng sẽ có những dự án khác còn thiếu nghiên cứu hơn nữa và được cho thực hiện một cách lén lút hơn nữa, để bù đắp vào sự thất thu của dự án bauxite này.

Thuỳ An: Chúng tôi xin thành thật cảm ơn ông Nguyễn Ngọc Danh đã dành cho Chân Trời Mới có buổi tiếp xúc ngày hôm nay.

Công nhân Trung Quốc đã hiện diện ở Tây Nguyên

Gia Minh, phóng viên RFA 03-04-2009

Tại xã Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm, một người tự nhận là công nhân Trung Quốc sang đó làm việc trả lời: "Tôi thuê nhà chú Kiểng, tôi là người Trung Quốc sang làm công trường khai thác bô-xít."

Vào khi dư luận chưa thông về chủ trương khai thác bô-xít tại Tây Nguyên của chính phủ Việt Nam, thì tin tức về lượng công nhân Trung Quốc có mặt tại một số địa phương ở hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông tham gia quá trình chuẩn bị cho việc khai khoáng sắp tới khiến dư luận càng thêm quan ngại. Vậy thực tế về nguồn tin đã có công nhân Trung Quốc sang làm việc tại Tây Nguyên ra sao?

Vào ngày 27-03-2009 vừa qua, tại buổi tọa đàm do Tổng hội Xây dựng Việt Nam tổ chức, thông tin về việc công nhân Trung Quốc đang theo các nhà thầu nước họ đưa vào Việt Nam với số luợng nhiều được chính các công ty xây dựng trong nước loan đi. Các nhà thầu Việt Nam đều cho rằng hầu như các dự án lớn khi đem ra đấu thầu thì đều rơi vào phía nước ngoài, mà chủ yếu là Trung Quốc. Và một khi các công ty Trung Quốc thắng thầu thì họ đưa máy móc, thiết bị, hàng hoá và công nhân của họ sang để thực hiện công trình.

Theo ông Trần Ngọc Hùng, chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam thì những máy móc thiết bị được đưa vào phục vụ công trình là những lọai Việt Nam hoàn toàn có thể sản xuất được. Riêng về công nhân lao động chân tay tại các công trường thì hẳn nhiều người đều nhận thấy là lực lượng đó ở Việt Nam hiện nay không hề thiếu.

Một người tham dự buổi tọa đàm hôm 27-03 tại Hà Nội, là ông Nguyễn Công Lục, Vụ trưởng Kinh tế ngành, của Văn phòng chính phủ cho biết thực tế sau một chuyến thăm một công trình xây dựng nhiệt điện ở Quảng Ninh, là riêng tại công trình đó có hơn 2000 công nhân Trung Quốc.

Một nhân vật khác là ông Trần Văn Huynh, chủ tịch Hội Vật liệu Xây dựng Việt Nam còn cho biết thêm hiện Trung Quốc đang đảm nhận hơn chục công trình xây dựng nhà máy xi xăng, nhiều dự án nhà máy điện lớn ở Việt Nam, và như vậy con số công nhân Trung Quốc được đưa sang phải gấp nhiều lần.

Người Trung Quốc đã đến Tây Nguyên

Riêng ở Tây Nguyên, trong khi dư luận vẫn chưa thông về chủ trương khai thác bô-xít mà chính phủ đưa ra thì tại hai khu đang triển khai dự án san ủi mặt bằng chuẩn bị xây dựng nhà máy phục vụ công việc khai thác khoáng sản là tại Tân Rai của Lâm Đồng và Nhân Cơ ở Đắk Nông, công nhân Trung Quốc cũng đã có mặt. Trong một cuộc điện thoại đến một nhà người dân tại xã Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm thì chúng tôi được một người tự nhận là công nhân Trung Quốc sang đó làm việc trả lời: "Tôi thuê nhà chú Kiểng, tôi là người Trung Quốc sang làm công trường khai thác bô-xít."

Thông tin về sự hiện diện của công nhân Trung Quốc sang làm việc cho nhà máy bô-xít đang được xây dựng tại địa phuơng Tân Rai được chính người dân ở địa phương xác nhận. Một thanh nữ trẻ cho biết: Đang xây nhà ở, nhà máy thì đang đào móng và người ta đưa công nhân Trung Quốc sang nhiều lắm. Có một số thuê nhà dân ở trọ và có người thuê dân mình nấu ăn…Họ ở độ tuổi từ hai mấy, ba mấy, bốn mấy… Nhiều người không biết tiếng Việt.

Và một phụ nữ lớn tuổi cũng nói: Thấy ở gần đây ngoài huyện thì thuê nhà ở gần chợ, một số làm trong kia thì cách xa đây bảy cây. Công nhân Việt thì đi làm cho họ như thợ hồ…

Nguyên tắc tuyển lao động nước ngoài

Chúng tôi nêu vấn đề tuyển dụng người nước ngoài vào Việt Nam làm việc với một chuyên viên pháp luật của ngành lao động thì được người này giải thích: Theo qui định của nhà nước thì người nước ngoài vào VN làm việc thì phải có giấy phép do Sở Lao động Thương binh Xã hội cấp phép, đây là cơ quan quản lý trực tiếp cấp phép. Nguời lao động nước ngoài thì có yêu cầu nghiêm nhặt về chuyên môn trình độ, nhiều thứ khác.

Và Sở Lao động Thương binh Xã hội tại Lộc Thắng, trả lời: Tuyển người lao động nước ngoài vào làm việc là tuyển quản lý, chuyên gia. Công nhân bình thường thì không đuợc cấp phép, không đựợc đăng ký theo Nghị định 34 của chính phủ. Chỉ những trường hợp mang tính ngành nghề truyền thống mà không thay thế đuợc thì nước sở tại của họ phải xác nhận có kinh nghịêm 5 năm.

Việt Nam lâu nay phải đưa một số lao động không có kỹ năng sang làm công tác giúp việc nhà hay công nhân lao động tại nhiều nước như Malaysia, Đài Loan hay một số nước ở khu vực Trung Đông để giải quyết tình trạng thiếu công ăn việc làm tại Việt Nam. Trong khi đó thì nay chính các công ty trong nước phải lên tiếng về tình trạng công nhân lao động phổ thông nước ngoài đang vào Việt Nam gây khó khăn cho chính doanh giới trong nước.

Xin đừng đụng đến Tây Nguyên

Trà Mi, phóng viên đài RFA 03-04-2009

Dự án khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên đang gây nhiều tranh cãi trong dư luận. Nhiều người trong giới chuyên môn đã quyết liệt lên tiếng phản đối. Còn ý kiến của cư dân địa phương sinh sống ngay trong khu vực ra sao?
Bất chấp vô số ý kíên phản đối và lên án từ công luận, chính phủ vẫn quyết định cho phép các nhà thầu Trung Quốc thực hiện dự án khai thác quặng bauxite và chế biến alumin tại các nhà máy trải dài từ địa phận Bảo Lộc-Di Linh đến Đắk Nông, Bình Phước.

Thông tin về tác hại môi trường bị hạn chế

Sự quan tâm của dư luận tập trung vào những hậu họa khôn lường mà dự án này sẽ mang lại cho môi trường và sức khoẻ con người. Những nạn nhân trực tiếp tại Tây Nguyên cảm nhận ra sao? Anh Minh, một cư dân tại đây công tác trong lĩnh vực du lịch có dịp đi đây đó và tiếp xúc với nhiều người, cho biết: “Thật sự dự án Bauxite Tây Nguyên này người dân Tây Nguyên chưa được biết đến nhiều đâu. Những người có chút ăn học như bọn mình thì biết và đều phản đối hết. Còn đa số nông dân kể cả người Kinh lẫn người thiểu số họ hoàn toàn không ý thức đến những mối nguy hại đâu.”

Đúng như nhận xét của anh Minh, qua trao đổi với một số nông dân và giới lao động bình dân sinh sống trong khu vực, chúng tôi đều nhận đựơc câu trả lời rằng họ không nắm rõ các thông tin liên quan đến các tác hại của việc khai thác bauxite tại đây, như lời phát biểu của ông Sáu: “Cái đó thì tôi cũng chưa đựơc tường mấy.”

Một số người ít nhiều nắm đựơc thông tin qua báo đài thì cho biết họ không đồng tình dù chưa được tường tận các thông tin về mức độ nguy hại. Nhà nông tên Lành ngụ tại Nhân Cơ, Daklak, Đắk Nông, cách nhà máy Alumin Nhân Cơ chưa tới 1 cây số bày tỏ: “Là cư dân sống ở đây sao mình ủng hộ được bởi vì tác động nó không chỉ đối với cá nhân mà cho cả cộng đồng dân cư. Thứ nhất mình sẽ bị ảnh hưởng trước, nặng nề hơn nữa thì nó sẽ ảnh hưởng đến thế hệ sau này. Cho nên không ai có thể ủng hộ đựơc nhưng trước mắt thì người dân cũng chưa được biết rõ ràng lắm.

Chính quyền địa phương cũng chưa có nguồn tin nào nói về vấn đề độc hại của quặng mỏ bauxite sau khi đi vào họat động. Chính quyền địa phương họ đâu bao giờ quan tâm đến các vấn đề độc hại cho người dân. Họ đâu có một thông tin nào cho dân đựơc biết đâu, coi như là ép dân thôi mà. Trình độ hiểu biết của dân cũng hạn chế, chưa nắm bắt được tác hại đến sức khoẻ của họ sau này thế nào. Họ hoàn toàn mù tịt.”

Một cư dân khác tên Hào tiếp lời: “Thông tin thì mình chưa nắm rõ lắm. Chỉ mới nghe sơ sơ thôi, nhưng thiết nghĩ ô nhiễm môi trường ở Việt Nam thì nhiều lắm rồi. Cái bauxite này nếu khai thác mà ảnh hưởng như vậy thì lo ngại quá đi chứ. Riêng bản thân, tôi không ủng hộ. Nói về tài nguyên khai thác nói chung thì người ta ủng hộ, nhưng về ảnh hưởng môi trường thì chắc chắn bà con không ai ủng hộ rồi, vì nó ảnh hưởng đến môi trường nước, nguồn nước sinh họat của bà con, hoặc những cái ảnh hưởng trực tiếp đến con cháu. Chắc chắn bà con không ai ủng hộ nếu người ta hiểu đựơc. Tây Nguyên bây giờ đang thiếu nước trầm trọng, mưa lũ thì thất thường, lụt, hạn hán v.v... Là người dân thì mình chỉ nghĩ sơ khởi vậy thôi chứ bây giờ có cách gì ngăn chặn người ta được?!”

Ông Dũng, một giáo viên sinh sống trong khu vực: Theo quan điểm của tôi, tôi cũng không đồng tình. Ở đây ít có những kênh phản biện, và kiến nghị. Người dân có thể do không quen, và cũng không hy vọng gì vào những chuyện đó, nhưng trong thâm tâm, sau khi hiểu được những thông tin đó thì mình cũng rất muốn những nhà chuyên môn công bố nhiều thông tin đến đồng bào và có nhiều đề xuất kiến nghị với chính phủ. Bản thân tôi thì cũng chỉ biết thế thôi, còn đề xuất ý kiến thì nói thật cũng ngại với lại cũng không quen.

Đa phần những người nắm bắt thông tin và tìm hiểu rõ vấn đề đều cực lực phản đối dự án này. Nhưng cho dù có biết trước những tác hại sẽ đổ lên mình và con cháu của chính mình đi chăng nữa, cư dân Tây Nguyên cũng đành bất lực, không biết làm thế nào để tiếng nói của họ được lắng nghe, như tâm sự của anh Minh: “Chúng tôi phản đối nhưng không biết làm cách nào vì đất đai, khoáng sản ở đây thuộc quyền quản lý của nhà nước, mình không có quyền gì hết. Thứ hai, từ xưa tới giờ nhà nước làm gì thật sự không bao giờ hỏi ý kiến nhân dân. Có hỏi thì cũng chiếu lệ thôi. Tôi đã ở đến đời thứ tư rồi, coi như là một người Tây Nguyên thật sự chứ không phải mới 2 hay 3 chục năm. Thật sự là tôi bị sốc trước vấn đề này rất nhiều. Chưa kể từ đây đến đỉnh Charlie hay biên giới Bờ Y, rừng núi cũng chẳng còn gì. Chỉ trong vòng 20 năm họ đã phá còn hơn cuộc chiến 30 năm vì quản lý quá tồi.”

Đừng quên Tây Nguyên là nóc nhà của đồng bằng

Ngoài những lý do liên quan đến sức khoẻ cộng đồng, người dân bản địa bất bình trước dự án khai thác bauxite Tây Nguyên còn bởi vì: “Tây Nguyên là nóc nhà của đồng bằng. Tất cả những sông suối quan trọng bắt đầu từ rừng núi, mà rừng núi phải có cây. Bây giờ đốn hết cây để lấy một chút tài nguyên. Tôi không hiểu hàm lượng đựơc bao nhiêu

Tây Nguyên là nóc nhà của đồng bằng. Tất cả những sông suối quan trọng bắt đầu từ rừng núi, mà rừng núi phải có cây. Bây giờ đốn hết cây để lấy một chút tài nguyên. Tôi không hiểu hàm lượng đựơc bao nhiêu, mang lại bao nhiêu nguồn lợi cho Việt Nam, người dân bản xứ ở đó đựơc hưởng cái gì trong đó so với những tác hại hại về văn hoá, môi trường đã bị mất đi. Nguồn nước bị thiếu, khí hậu sẽ bị thay đổi vì mất thăng bằng sinh thái. Về mặt kinh tế cả người dân lẫn nhà nước rất mơ hồ rồi. Tập đoàn khoáng sản Việt Nam là hưởng lợi nhiều nhất. Đó là lợi ích của một nhóm người chứ không phải của dân tộc.

Lý do thứ hai tôi phản đối là địa hình địa vật của Tây Nguyên hoàn toàn sẽ thay đổi. Hơn nữa, nếu người Trung Quốc vào khai thác ở Tây Nguyên thì mình không biết ý đồ của họ là gì hơn thế hay không. Nguồn nước bị thiếu, khí hậu sẽ bị thay đổi vì mất thăng bằng sinh thái. Về mặt kinh tế cả người dân lẫn nhà nước rất mơ hồ rồi. Tập đoàn khoáng sản Việt Nam là hưởng lợi nhiều nhất. Đó là lợi ích của một nhóm người chứ không phải của dân tộc.

Cho nên tôi vẫn mong ngóng là những người trí thức, khoa học gia, tiến sĩ..v...v.. có tiếng nói can thiệp với nhà nước vì dân thấp cổ bé miệng như mình bây giờ không biết trình bày, đệ đạt nguyện vọng ở đâu. Ai chịu nghe mình? Mình đón nhận việc này với sự phẫn nộ vừa buồn bã, cam chịu.”

Với những lý do phản đối như thế, người dân Tây Nguyên, những nạn nhân trực tiếp của dự án khai thác quặng bauxite tại đây, tha thiết yêu cầu: “Những người trọng trách của nhà nước cũng nên nghe các nhà khoa học, nghe ý kiến của đồng bào mình xem là việc khai thác bauxite đó lợi như thế nào và tác hại cho môi trường đến đâu, sinh thái bị tác động lâu dài ra sao. Nhà nước cũng phải nên suy nghĩ lại.” Cùng suy nghĩ với giáo viên Dũng, giới nông dân gắn bó với nương rẫy, núi rừng Tây Nguyên bao lâu nay như ông Lành đề nghị chính quyền lắng nghe và quan tâm đến những nguyện vọng chính đáng của người dân: “Yêu cầu phải làm thế nào bảo đảm môi trường trước mắt và trong tương lai.”

Trước những gì đang diễn ra trong thực tế, người dân Tây Nguyên mong mỏi: “Theo tôi, giờ phải có một tổ chức hoàn toàn độc lập nghiên cứu, thăm dò, đưa ra luận chứng kinh tế rõ ràng về thời gian, cách thức khai thác, chính sách tái định cư, tái sinh rừng cụ thể chứ không phải chung chung. Ở xã hội này, chính sách, đường lối, chủ trương của nhà nước chúng tôi chẳng bao giờ tin tưởng nữa đâu.”

Những lời kêu cứu khẩn thiết như thế này được lắng nghe và hồi đáp đến đâu còn tuỳ thuộc vào lương tâm và trách nhiệm của giới lãnh đạo hữu trách.

Bauxite: hậu quả khôn lường cho Tây Nguyên

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA 03-04-2009

Mới đây một bức thư kêu cứu của Tổ chức Văn nóa và Nghệ thuật Champa Quốc tế gửi đi trên toàn thế giới lên tiếng bao động việc nhà nước Việt Nam khai thác mỏ bô-xít sẽ có nguy cơ đẩy hàng ngàn đồng bào sắc dân thiểu số ra khỏi nơi cư trú của họ. Đây cũng sẽ là nguyên nhân làm cho văn hóa của nhiều sắc dân thiểu số bị xóa sổ trong cộng đồng văn hóa chung của Việt Nam.

Khu vực Tây Nguyên sẽ trở thành thảm họa

Dự án khai thác mỏ bauxite trên Tây Nguyên ngày càng trở nên nóng bức hơn khi vài ngày trước đây Liên Hiệp Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam đã đưa ra bản tường trình đầy đủ về những thông số chứng minh sự khai thác quặng bô-xít tại Tây Nguyên là sai lầm và nguy hiểm. Không những sẽ thất bại trên lĩnh vực kinh tế mà vấn đề môi trường, quốc phòng cũng như di dân sẽ khiến cho toàn bộ khu vực Tây Nguyên sẽ trở thành thảm họa.

Liên Hiệp Các Hội Khoa Học và Kỹ Thuật Việt Nam đã đưa ra bản tường trình đầy đủ về những thông số chứng minh sự khai thác quặng bô-xít tại Tây Nguyên là sai lầm và nguy hiểm. Bản điều tra này được thực hiện bởi một nhóm các nhà khoa học uy tín và kết quả mà họ đưa ra đặt căn bản trên việc điều tra thực chứng trên nhiều bình diện do đó kết quả cuối cùng là không thể nghi ngờ.

Nhà văn Nguyên Ngọc cho biết tình hình chung về đất đai khi khai thác sẽ có những hậu quả nhãn tiền như sau: "Tỉnh Đắc-Nông là tỉnh có nhiều bô-xít nhất ở Tây Nguyên, ở Việt Nam đấy. Nếu mà khai thác bô-xít đó theo dự án thì nó chiếm 2/3 diện tích của tỉnh; như vậy 2/3 diện tích của tỉnh đó thì trước hết mình phải bóc cái rừng đó đi, phải không ạ? Rồi sau đó mình mới đào xuống lấy quặng, và người ta bảo là người ta sẽ hoàn thổ trở lại, người ta sẽ trồng rừng trờ lại, thì có thể là một người không cần am hiểu sâu sắc lắm về địa chất, về khoa học đâu, thì cũng có thể hiểu như thế này:

Vấn đề không phải cái đất lấy ra rồi đổ vào mà vấn đề là thổ nhưởng. Tôi đã đến một nơi mà người ta gọi là đã hoàn thổ độ vài hecta thôi, trước kia là một vùng chè (trà) ở Bảo Lộc rất tốt, có lẽ tốt nhất ở VN, thì bây giờ chỉ mọc trên cái đất hoàn thổ mỗi cây keo tai tượng thôi, còn chè thì người ta bảo phải mất ít nhất một trăm năm nữa mới có thể trồng trở lại được. Cái thổ nhưỡng đã tạo nên tằng đất để có thể trồng chè được hay là trồng cà phê tốt được như thế là không còn nữa”.

Đất rừng đối với người Tây Nguyên là sự sinh tồn

Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc. Đây là nơi mà người thiểu số tập trung sống nhiều nhất trên khắp nước. Hàng ngàn buôn làng của người Thượng sống dọc theo những khu vực có thể gieo trồng ven rừng hay sâu hơn. Thảm thực vật phong phú là yêu cầu đầu tiên để họ có miếng ăn. Đối với người Tây Nguyên, đất rừng không những là nơi cung cấp cho sự sinh tồn mà còn là đời sống văn hóa kéo dài từ đời này sang đời khác. Buôn làng gắn liền với rừng và do đó mất đất là mất văn hóa. Đây là điều mà nhiều nhà dân tộc học cùng chung nhận xét.

Nhiều nghiên cứu cho biết tộc M'Nông là tộc người đang bị mai một dần vì những nguyên nhân có dính líu tới việc khai thác đất đai. Việc khai thác quặng bauxite chắc chắn sẽ đặt tộc người này vào vị trí diệt vong vì họ không còn biết phải đi đâu và tổ chức đời sống như thế nào trước những đổi thay to lớn mà việc khai thác đem lại. 

Tộc người Chăm cũng cảm thấy bị đe dọa cho việc sinh sống của họ. Mới đây, một bức thư kêu cứu của Tổ Chức Văn Hóa và Nghệ Thuật Champa Quốc Tế, do nghệ sĩ Chế Linh làm chủ tịch, đã gửi đi khắp thế giới báo động việc khai thác mỏ bô-xít sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến cộng đồng này như thế nào. Nghệ sĩ Chế Linh cho biết: "Nó gây nhiều tai hại cho các vùng người dân tộc đang sống, và không phải cho riêng người dân tộc trên đó mà nó sẽ lan tràn xuống các vùng đồng bằng của chúng ta. Các dân tộc ít người ở trên đó và đồng thời ở phía dưới nữa coi như là những nguồn nước suối, những nguồn nước sẽ tràn xuống miền của đồng bào Chăm ở dưới này thì sẽ rất là tệ hại."

Nhà văn Nguyên Ngọc, người đã có hơn 50 năm nghiên cứu về đời sống văn hóa của dân tộc vùng Tây Nguyên, nhận xét rằng "cú sốc lớn nhất đối với người dân Tây Nguyên là di dân tự do, và rồi cú sốc tiếp theo là thay đổi nơi cư trú đồng loạt của những buôn làng. Nghệ sĩ Chế Linh nhắc lại việc di dân của gần hai trăm ngàn người từ miền Bắc vào Tây Nguyên trước đây ông nói:

"Ở thời gian trước nhà nước đã đem đồng bào từ Miền Bắc vào sống trên các vùng cao nguyên, coi như một trăm mấy đến gần hai trăm ngàn người. Cái việc đó coi như là đất đai trên miền núi của các dân tộc là quá rộng cho nên đó là lối di dân tới để mà sống, để mà chan hoà với nhau. Đó là cái tình nghĩa của đất nước Việt Nam mà chúng tôi cũng là người Việt Nam thì chúng tôi phải đón nhận cái việc đó."

E ngại cho nền an ninh quốc phòng 

So với chuyện di dân của người trong nước và việc di dân của người Trung Quốc vào Việt Nam dưới hình thức công nhân khai thác mỏ thì điều nào tệ hại hơn? Ông Y Sút, một người Thượng, cho biết cảm tướng của mình: "Trung Quốc mà khai thác bô-xít ở vùng Tây Nguyên đó sẽ gây vô cùng thiệt hại, vô cùng nguy hại cho cuộc sống, cho đời sống, cho sinh hoạt của đồng bào các sắc tộc ở vùng cao nguyên. Nó hại như thế này, trước mắt và lâu dài, tất cả chất thải, chất độc này kia sẽ làm cho đất đai sinh sống, canh tác, làm ăn nọ kia của bà con sẽ bị ảnh hưởng rất là tai hại đối với tất cả các chất thải đó.

Vấn đề quốc phòng, theo như tôi nhận xét thì như thế này, theo như mình được biết là ba bốn chục ngàn công nhân Trung Quốc thì đó là những tên tình báo, những tên an ninh, những tên công an của Trung Quốc xâm nhập vào trong lòng người dân tộc, tức là trong lòng nước Việt Nam mình. Tức là Trung Quốc thay vì đưa quân thì nó cài sẵn người trên nước mình rồi. Đây là một vấn đề vô cùng tai hại cho vấn đề quốc phòng, cho vấn đề an ninh của đất nước Việt Nam mình".
Đồng bào dân tộc ít người không những lo âu trước những biến đổi môi trường sẽ gây ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước hay mất đất canh tác mà họ còn băn khoăn trước những dịch chuyển mạnh mẽ sẽ khiến cộng đồng ít người tan tác không thể nào cứu vãn.

Đồng tiền đền bù đất đai không thể giúp họ tạo lập những buôn làng mới khi sự lấn chiếm của các nhà máy khai thác đẩy họ vào rừng sâu hay phải xuống tận miền xuôi là nơi phong thổ và hoàn cảnh sống không bao giờ phù hợp với những con người chất phác này.

Nghệ sĩ Chế Linh nói lên những quan tâm mà sắc dân thiểu số trong nước đang phải đối diện: "Tôi nghĩ là ở bên nhà đồng bào Chăm và đồng bào các dân tộc thiểu số thì họ rất sợ hãi vì có một số vấn đề, chẳng hạn như là đạo Tin Lành chỉ có nhóm họp thôi mà đã bị họ (chính quyền) làm khó rồi huống chi là những cuộc đấu tranh chống việc xâm phạm đất đai như thế này. Họ rất quan tâm và họ rất sợ hãi, nhưng họ rất cô đơn và yên lặng."

Phản ứng cuối cùng mà người Việt thiểu số sống tại hải ngoại có thể làm được là viết kháng thư, kêu gọi các chính phủ nơi họ sinh sống can thiệp bằng cách này hay cách khác. Vấn đề người sắc tộc thiểu số bị đe dọa cũng là một góc nhìn khác trong toàn cảnh của dự án khai thác bô-xít. Từ góc nhìn này nếu bình tâm suy xét thì nhà cầm quyền phải giật mình bởi tính chất nhân văn quan trọng của nó.

Đội quân thứ năm của Trung Cộng

Vi Anh 04-04-2009

Trước âm mưu và hành động của Trung Cộng đang bành trướng và Hán hoá VN, bước ngoặc lớn là cắt VN bằng con đường chiến lược từ biển lên Tây Nguyên trong việc đưa người qua khai thác quặng bauxite ở Cao Nguyên VN, một số vị trong Phật Giáo Hoà Hảo nhắc lại Sấm Giảng của Đức Hùynh Giáo Chủ:

"Bắc kỳ sau hóa ruộng sâu,
Tàu man đến đó giăng câu đặt lờ.
Sài Gòn, Gia Định ai ngờ.
Nước đâu mà chảy lở bờ, lướt cây."

Hoà Thượng Quảng Độ, Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống kiêm Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhứt mới đây cũng báo động: "Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây Nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt - Lào - Việt Nam. Việc nhà thầu Trung Quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây Nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung Quốc sẽ tới: Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn.”

Bên cạnh tai họa sinh thái, môi trường, người dân Việt lo lắng cả binh đoàn công nhân TC trở thành đội quân thứ năm, con ngựa thành Troy khi có biến động giữa VN và TC. Hay trở thành một thứ Ba Tàu Chợ Lớn ở Cao Nguyên qua việc công nhân TC toàn đàn ông ăn ở với phụ nữ Việt sanh con đẻ cái, biến Cao Nguyên thành một China Town của TC ngay trong lòng nước VN.

Thực vậy, trong lịch sử cận đại, đồng bào ở Miền Bắc CS đã thấm thía việc TC đưa người vào trùng tu đường tiếp viện cho CS Hà Nội, dẫn đến nỗi căm hờn mất Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc và nhiều xã thôn, thị trấn ven biên giới Việt Nam và Trung Hoa.

Đồng bào Miền Nam tự do đã thấm thiá cảnh mấy đại xì thẩu ở Quận 5 bất cứ lúc nào cũng có thể tăng hay hạ giá gạo, đường, sắt thép, xi măng, công khai tổ chức dạy tiếng Hoa như chuyển ngữ ở các trường Việt Tú, Minh Đạo, lại còn mời giáo sư Tàu qua chấm thi Tú tài Tàu mà họ gọi là Cao Trung. Tệ hơn nữa, có khi đại xì thẩu nói thẳng với ông Quận trưởng Quận 5 liêm khiết muốn đi hay ở là tùy ông Quận trưởng biết phải quấy với chuyện làm ăn [dĩ nhiên bất hợp pháp] của mấy đại xì thẩu. Người Hoa đa số bản chất hiền lành, là cộng đồng di dân đã đóng góp nhiều vào việc xây dựng Miền Tây và Miền Nam. Nhưng vẫn có một thiểu số đáng ngại, đặc biệt là nếu có ai liên hệ tới tình báo Bắc Kinh.

Thiết nghĩ yếu tố Trung Quốc, nỗi lo bị Hán hoá, nỗi sợ đội quân thứ năm, con ngựa thành Troy của TC "bố trí" ở cao điểm nước VN, là nguyên do chánh để đồng bào vô cùng quan tâm, lo lắng (tiếng CS gọi là bức xúc) và tìm đủ mọi cách để chống đối. Tướng già 97 tuổi, đã hồi hưu, bị cho ra rìa rất lâu rồi, tức Võ nguyên Giáp, là người đầu lên tiếng chống. Ông nói rõ hành lang lên Tây Nguyên là con đường chiến lược lịch sử ngoại bang dùng để xâm chiếm VN từ biển.

Thử tưởng tượng trong trường hợp biến động, như khi người dân Việt biểu tình bạo động chống TC, Bắc Kinh viện lý do bảo vệ kiều dân là số công nhân TC đưa vào khai thác bauxite ở Cao Nguyên, TC đưa tàu chiến và đổ quân; hay khi công nhân TC hô hoán bị "ô nàm nán" tấn công, mở đường máu tiến ra biển nói là để thoát thân, thì việc gì sẽ xảy ra. TC sẽ kiểm soát một hành lang chiến lược cắt đôi đất nước VN từ Cao Nguyên ra bờ biển Nam Hải mà TC coi là biển Nam Trung Quốc. Thì ôi thôi! Dân tộc VN Nam Bắc một nhà vĩnh viễn chia lìa; quốc gia VN thống nhứt vĩnh viễn đôi bờ xa cách.

TC cứ cù cưa cù nhằn, kéo dài tình trạng ấy, viện cả trăm lý do để chậm trễ. Quốc tế cũng không can thiệp được vì TC đâu có đem quân xâm lăng, chỉ để bảo vệ kiều dân, tổ chức di tản thôi. Lý của kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Còn lâu Mỹ mới nhảy vào vì quyền lợi của Mỹ đối với TC lớn hơn đối với VN. Còn lâu Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc mới ra được một quyết nghị can thiệp với lá phiếu phủ quyết của TC.

Có người nói CS Hà Nội đi với TC thì mất đất, đi với Mỹ thì mất đảng. Nhưng còn một đường nữa. Đó là CS Hà Nội thần phục TC để làm thái thú hầu vinh thân phì gia. CS Hà Nội bây giờ đâu có thiết tha gì đến đất và đảng. Cái mà CS Hà Nội thiết tha bây giờ là bám quyền hành để "thu vén cuối đời". Đảng CS VN đã mất đảng tính lâu rồi, chỉ còn là một tổ chức làm bung xung để độc tài, đảng trị toàn diện trên nhân dân. Đất VN, người dân VN, CS Hà Nội coi là địa bàn để thực dân, thần dân để khai thác, là thuộc địa, chớ đâu phải là "Tổ quốc, Đồng bào". Chính Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã "hiệp thương" với Bắc Kinh cho TC vào khai thác ở Cao Nguyên, còn cho công nhân TC vào nữa. Chính Thủ tướng CS Nguyễn tấn Dũng đã hô hào đây là chính sách lớn của Đảng trước làn sóng chống đối của ngưòi dân Việt.

Miễn TC cho CS Hà Nội làm thái thú là CS Hà Nội "hồ hởi, phần khởi" lắm rồi. TC cũng đâu có dại gì đưa người Tàu qua cai trị, bị mang tiếng thực dân kiểu cũ, cứ để CS Hà Nội thần phục làm thái thú, quan tỉnh, quan quận, quan huyện, theo kiểu thực dân mới, ít mang tiếng mang tai hơn.

Cái gì lợi cho cho CS Hà Nội, giúp cho họ bám được quyền hành họ sẽ "đồng tình, nhất trí" ngay. CS Hà Nội phải dựa vào TC vì CS Hà Nội biết không còn người dân VN nào tín nhiệm họ nữa. Dựa vào TC một phần cũng do thói quen thần phục TC từ khi lập Đảng. Phe thân TC và phe của TC lúc nào cũng có trong Đảng CSVN, và bắt đầu đóng vai trò trội yếu từ khi Liên Xô sụp đổ.

Nhưng đất nước VN muôn đời là của người dân Việt. Triều đại và chế độ nào đi nữa rồi cũng đi qua. Không có ai sáng suốt hơn "quần chúng nhân dân". Chính CS cũng phải thừa nhận, qua từ ngữ "mắt dân như mắt khóm". Phong trào nhân dân chống CS Hà Nội để cho TC khai thác mỏ bauxite ở Cao Nguyên bùng lên đúng thời cơ, địa lợi và nhân hoà. TC đã lấy đảo Hoàng Sa, Trường Sa lập thành huyện Tam Sa của TC. CS Hà Nội trước áp lực và bất mãn của người dân, bí quá phải mặc thị cho xì áp lực bất mãn từ phía người dân. Để cho tờ báo Du Lịch nhắc đến sinh viên VN chống TC chiếm Hoàng sa và Trường sa. Cho binh chủng Hải Quân kết hợp với Thường trực Mặt trận Tổ quốc Trung ương hội thảo về chủ quyền lãnh hải, và cho báo Lao Động đăng tải. Đối với các người có học, cho mở cuộc hội thảo về chủ quyền VN trên Biển đông và Hải đảo.

Phát ngôn viên Lê Dũng lên tiếng chống lại quyết nghị của Quốc hội Phi luật Tân xác nhận chủ quyền trên một số đảo. Điều đáng chú ý là CS Hà Nội không hề đá động một chữ nào đến TC dù đã lấy hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa rồi. Đảng CS Hà Nội chỉ mặc thị để cho cơ quan ngoại vi lên tiếng, chớ Đảng CS thì không hở môi. Dễ hiểu, Đảng CS im lặng thủ lợi cho Đảng. Nếu TC phản ứng thì CS đổ thừa và ra tay dập tắt để "lập công dâng lên" Anh Cả Đỏ./.

Quan điểm của Viện Nghiên cứu Phát triển về khai thác bauxite

Ts Nguyễn Quang A trả lời pv RFA

06-04-2009

Chủ trương của chính phủ Việt Nam, chấp thuận cho Trung Quốc khai thác bauxite ở vùng Tây Nguyên, đang gây nhiều quan ngại cho các nhà trí thức và giới chuyên môn vì những hệ quả của việc đó.

Viện Nghiên cứu Phát triển IDS ở Hà Nội mới đây nêu lên quan điểm của mình qua trao đổi của Tiến sĩ Nguyễn Quang A với Nhã Trân.

Ô nhiễm nặng nề, kinh tế không có lợi

Ts Nguyễn Quang A: Chúng tôi tin rằng khai thác một vùng quan trọng như vùng Tây Nguyên thì phải tính đến độ bền vững của sự phát triển. Và, khai thác bauxite trong thời điểm này không có lợi. Xét về mọi khía cạnh thì dự án này là một dự án không tốt. Xét về mặt môi trường, dự án này có thể gây ô nhiễm môi trường rất là nặng nề. Xét về mặt kinh tế thì dự án này không có lợi, không có hiệu quả kinh tế.

Nhã Trân: Thưa Ts, Viện Nghiên cứu Phát triển đã dựa trên những cơ sở nào mà có kết luận như vậy về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên?

Ts Nguyễn Quang A: Chúng tôi tuy không nghiên cứu chi tiết dự án này nhưng các nhà nghiên cứu của IDS bằng cách này hoặc cách kia có tham gia vào khảo sát, nhất là anh Ng. Trung và anh Ng. Ngọc.

Nhã Trân: Vâng. Trước hết Ts có thể cho biết ý kiến của Viện Nghiên cứu Phát triển về những tác hại đến môi trường trong việc khai thác bauxite ở vùng Tây Nguyên?

Ts Nguyễn Quang A: Nói đến vấn đề môi trường thì khai thác bauxite ảnh hưởng đến môi trường vùng đó, ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân vùng đó. Đầu tiên là vấn đề nguồn nước. Bản thân nước ở Tây Nguyên vốn lâu nay không phải là nhiều. Thế mà bây giờ lại lấy nguồn nước đó để mà khai thác bauxite ! Và một điều hết sức quan trọng là, đó là thượng nguồn, và là thượng nguồn của nhiều con sông. Sự ô nhiễm môi trường của con sông ở vùng đó như vậy sẽ lan xuống các vùng quan trọng khác như là miền Trung, Đồng Nai, rồi miền Đông Nam Bộ.

Đó là vấn đề về nước. Rồi tới vấn vấn đền bùn đỏ. Vấn đề bùn đỏ thì xử lý như thế nào? Theo chúng tôi biết thì cái cách xử lý bùn đỏ ở Tây Nguyên là một công nghệ môi sinh không phải là tốt. Chất thải của bùn đỏ có thể gây nhiều ô nhiễm môi trường. Rồi vùng Tây Nguyên có một mùa khô và một mùa mưa. Trong thời gian mùa khô thì chất thải đó có thể gây ô nhiễm rất là lớn. Và nếu mà không xử lý tốt thì cái bùn đỏ này có thể ảnh hưởng lớn đến môi trường.

Nhã Trân: Thế còn xét về mặt kinh tế, việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên liệu có giá trị kinh tế mà chính phủ Việt Nam mong đợi?

Ts Nguyễn Quang A: Về kinh tế thì chúng tôi không mong đợi. Khai thác bauxite từ dưới lòng đất rồi chế biến sơ sơ rồi mang bán thì chúng tôi nghĩ là không được giá. Rồi trong thời gian tới cũng không có đủ để mà làm nhôm. Như vậy chỉ có thể bán được alumina. Mà thị trường của alumina là một thị trường không phải là lớn, không phải là một thị trường tương đối là dồi dào, cho nên việc bán không dễ.

Cái giá trị mà alumina có thể bán được, cái giá trị gia tăng mà Việt Nam có thể đưa them thêm vào, không phải là lớn. Về mặt kinh tế là thế. Nhưng mà còn có một cái khó hơn nữa, là từ vùng Tây Nguyên xuống đến cảng có một đọan rất là dài, hiện bây giờ đường đi tuy là có nhưng mà di chuyển thì rất là khó khăn. Muốn chuyển alumina ra cảng để có thể xuất khẩu được thì cần phải mở rộng đường, hay là xây một cái tuyến đường sắt riêng cho việc này chẳng hạ. Đầu tư vào một tuyến đường sắt như thế,và chủ yếu chỉ để phục vụ cho việc khai thác bauxite thì quá tốn phí.

Bất lợi về an ninh chính trị

Nhã Trân: Ngoài những hệ lụy về vấn đề môi trường cũng như cái giá trị thật sự về mặt kinh tế, việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên hiện còn gây nên một mối quan ngại liên quan lãnh vực ngoại giao/chính trị/quân sự v.v... Viện Nghiên cứu Phát triển có ý kiến gì không trước những quan ngại này của công luận?

Ts Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ cái đấy cũng là một điểm chắc chắn cần lưu tâm bởi vì người ta lý giải là khai thác bauxite sẽ tạo ra công ăn việc làm cho bà con, v.v. và v.v... Nhưng mà thật sự nếu mà từ nguyên vật liệu, từ công nhân không có tay nghề gì cả, chỉ làm những việc rất là bình thường mà người ta cũng đưa từ nước ngoài vào thì đấy cũng là một điểm rất là đáng lưu ý. Tôi nghĩ đó là mối quan tâm rất là lớn của dư luận ở VN và chúng tôi cũng chia sẻ những mối quan tâm đó về mặt an ninh quốc gia, về mặt chính trị và nhiều thứ khác nữa, tuy chúng tôi không đi sâu vào vấn đề này bởi vì chúng tôi không phải là những người chuyên môn về lãnh vực đó.

Nhã Trân: Thưa như vậy theo quan điểm của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, nếu dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã không có giá trị về mặt kinh tế mà lại có những tác hại nghiêm trọng như vậy đến môi trường đồng thời lại còn gây ra một số hệ lụy khác chẳng hạn như đến vấn đề an ninh quốc gia v.v... thì phải chăng khai thác bauxite là một điều lợi bất cập hại?

Ts Nguyễn Quang A: Đúng như vậy. Cái dự án bauxite nên dừng lại, hoặc nếu mà không thể dừng được vì những lý do này kia thì phải làm hạn chế ở cái qui mô thử nghiệm chứ không nên mở rộng ra nhiều. Chính phủ nên làm sao để bảo tồn cái thiên nhiên, bảo tồn cái văn hoá của vùng Tây Nguyên. Còn bản thân cái bauxite thì có thể để lại cho con cháu đời sau. Có thể lúc đó công nghệ sẽ phát triển khác đi và có những giải pháp có thể xử lý được những vấn đề về môi trường, có thể mang lại được hiệu quả kinh tế cao hơn. Nếu mà làm như thế thì có trách nhiệm hơn với đời sau, với con cháu.

Phóng sự đặc biệt:  Cận cảnh Bô-xít Nhân Cơ

Nhóm PV CLB Nhà báo Tự do 07-04-2009

Chuyến xe đò cuối cùng đưa chúng tôi đến Đắk Nông lúc trời chạng vạng tối, khung cảnh của nóc nhà Đông Dương đây sao? Có một vẻ gì đó trầm mặc, u uất làm những cư dân trẻ của Sài Gòn chúng tôi bỡ ngỡ. Bên đường là những cánh rừng trơ trụi, những ngọn đồi trọc chơ vơ thoắt ẩn hiện trong bầu trời nhá nhem.

Bây giờ đang là những ngày đầu tháng tư, Đắk Nông phơi bày một vẻ ngổn ngang giống như một đại công trường đang thi công cẩu thả. Dọc theo quốc lộ 14, đâu đâu cũng thấy sự bừa bộn bởi nạn đào bới và san lấp. Hai bên đường, những lớp đất đá khô cằn vừa bị cày bật lên. Người ta đang làm một con đường rất lớn để phục vụ cho những đoàn xe tải rầm rộ chạy hối hả ngày đêm. Thiên nhiên đang bị những bàn tay thô bạo của con người tàn phá...

Xuống xe ở thị xã Nhân Cơ, trời tối mịt. Chúng tôi ghé tìm nhà dân xin ngủ lại qua đêm. Những ngày này, nghe nói tình hình Đắk Nông khá căng thẳng, đặc biệt tại xã Nhân Cơ, nơi dự án Bô-xít đang được triển khai. Vì là những người lạ, nên đi đến đâu chúng tôi cũng bắt gặp những ánh mắt dõi theo, những cái nhìn không hiểu vì tò mò hay dò xét. Trước khi đến đây, tôi cũng đã nghe nhiều lời cảnh báo từ bạn bè về một vùng đất nơi người dân luôn được tuyên truyền phải "đề cao cảnh giác", "tố giác tội phạm", và "chống kẻ địch"...

Cơn mưa bắt đầu nhỏ hạt, chúng tôi tìm được nhà một người dân tốt bụng cho tá túc qua đêm. Khi cơn mưa nhẹ trái mùa chấm dứt, hơi đất bốc lên, một mùi hương đằm thắm nồng nàn.

Cách quốc lộ 14 vài trăm mét chúng tôi thấy một công trường đèn điện sáng quắc với những ánh đèn xe tải qua lại nhộn nhịp. Hỏi ra mới biết, chúng tôi đang đứng rất gần nơi dự án bô-xít đang được triển khai. Nghe kể lại rằng, có lúc công trường hoạt động gấp rút cả ngày lẫn đêm cho kịp tiến độ. Khi ấy, người dân quanh đây không đêm nào ngủ được bởi tiếng ồn của máy ủi đất, xe tải nặng...  Nhà cửa cứ rung rinh khi có từng đoàn xe tải chở đất đá đi qua.

Đêm xuống, khí lạnh từ cao nguyên tràn về, chúng tôi thiếp đi vì mệt mỏi sau chuyến đi khá gian khổ vì xe đò nhồi nhét quá nhiều người.

Ánh nắng ban mai rọi vào làm căn nhà gỗ sáng rực, chúng tôi cũng lần lượt thức giấc. Buổi sáng Tây Nguyên thật tuyệt, bầu trời trong xanh, nắng dịu. Đứng ngay vị trí đêm qua, chúng tôi ngước nhìn về phía công trường cách chừng nửa cây số. Dưới ánh sáng ban ngày, hiện ra cả một vùng đất đỏ rộng lớn bị san bằng, trơ trụi và lạc lõng, bao quanh là ít mảng xanh còn xót lại. Từng chuyến xe tải qua lại thực hiện nốt những công đoạn cuối cùng của quá trình san lấp. Đứng từ xa, có thể thấy được sự quy mô của công trình.

Chỉ còn vài ngày nữa, người ta sẽ khởi công xây dựng trên đó một nhà máy luyện Ocid Nhôm rất lớn, có thể hết năm nay sẽ đi vào hoạt động.

Tạm biệt người chủ nhà tốt bụng, chúng tôi đi bộ ra chợ Nhân Cơ (huyện Đăk Rlấp). Mặc dù là trung tâm thị xã, nhưng đời sống của người dân không có vẻ sung túc. Chi phí sinh hoạt cũng khá đắt đỏ so với thu nhập bình quân đầu người. Ở đây, họ sống chủ yếu bằng nghề trồng tiêu, trồng café... Không biết mai này, khi đất đai trồng trọt không còn, họ sẽ sống ra sao ?

Ghé chân tại một quán nước đông đúc ven đường, chúng tôi chia nhau bắt chuyện với những người dân địa phương. Vượt qua sự nghi ngại ban đầu, người dân nơi đây dễ dàng cởi mở cùng bạn. Họ nói chuyện một cách hồn nhiên, vui vẻ và sẵn sàng trả lời những thắc mắc của bạn. Ở đây, hiếm thấy ai dùng từ "bô-xít", mà thay vào đó là từ "alumin" hoặc "quặng nhôm". Có lẽ trong quá trình tuyên truyền, chính quyền địa phương cảm thấy "kỵ húy" với từ bô-xít chăng ?

Theo lời tường thuật của người dân, công trường phía bên kia thuộc Công ty CP Alumin Nhân Cơ, được tiến hành xây dựng đã 3 năm nay. Chính quyền địa phương đã giải tỏa hàng trăm hộ dân để lấy đất phục vụ cho dự án xây dựng nhà máy rộng 500 ha này. Rồi đây, khi chính thức đi vào hoạt động, có lẽ cả vùng Nhân Cơ cũng như toàn tỉnh Đắk Nông này sẽ biến thành một đại công trường ngổn ngang và ô nhiễm.

- "Sống không được thì bỏ đi chỗ khác thôi, mình là dân mà, ô nhiễm thì cho mấy ông nhà nước ở với nhau", một bác xe ôm cười buồn nói tiếp "Nói thiệt, tui bỏ quê lên đây, giờ nó đuổi chẳng biết đi đâu".

- Một anh thanh niên khác lớn tiếng: "ĐM! Nó hứa xây nhà máy bự để cho mình có công ăn việc làm, rốt cuộc toàn cha con tụi nó làm với nhau". Hóa ra anh này đã xin vào làm công nhân khai thác bô-xít, nhưng không được nhận. Nghe kể, có thời gian nhà máy tuyển công nhân để đào tạo, bán ra trên 2.000 hồ sơ, mỗi hồ sơ chỉ vỏn vẹn vài tờ giấy mà đội giá lên đến 50.000 đồng/hồ sơ, cuối cùng chỉ nhận khoảng 400 công nhân là chỗ thân quen được gửi gắm vào. Được biết, khá đông con cái cán bộ địa phương cũng được cử sang Trung Quốc đào tạo tay nghề bằng ngân sách nhà nước.

"Thôi, cứ lo miếng cháo qua ngày đã, tới đâu hay tới đó". Những người khác đồng tình bằng cách lặng im. Có lẽ, nỗi lo cơm áo gạo tiền đã làm mất dần ý thức phản kháng của họ. Không biết nói gì thêm, chúng tôi cùng im lặng, ánh mắt mọi người hướng về phía bên kia con đường, lâu lâu có vài gã chuyên gia Trung Quốc nghênh ngang đi qua, đưa đôi mắt xấc xược nhìn vào...

Rời khỏi quán, chúng tôi rẽ về phía công trường ngay gần đó. Con đường dẫn vào nhà máy vẫn chưa làm xong, còn ngổn ngang bừa bộn. Đứng ở con đường này mới có được cái nhìn bao quát về vùng đất phía bên kia, nơi đang oằn mình vì đào xới. Trước mắt là cả một vùng đất rộng đến 200 ha bị san phẳng, màu đất đỏ rực lên trong cái nắng chói chang, nhìn vô duyên, lạc lõng với khung cảnh Tây Nguyên đồi núi chập chùng.

Đâu đó vẫn có cảm giác yên bình của buổi trưa hè, tiếng ve lao xao, rạo rực....

Vẫn còn nhìn thấy màu xanh của những vườn café, những trảng cỏ dại... nằm rải rác xung quanh, như đang thoi thóp vì cô quạnh. Vài nóc nhà thấp tè lọt thỏm trong mảng xanh hiếm hoi còn xót lại, nghe nói đó là những hộ dân chưa chịu di dời vì không chấp nhận giá đền bù quá rẻ mạt. Có lẽ họ cũng sớm di dời nay mai, vì mảnh đất đó sẽ bị người ta biến thành vùng hồ chứa bùn đỏ ô nhiễm. Theo quy hoạch, hồ chứa này rộng đến 300 ha, hàng năm người ta thải ra đây khối lượng lên đến 11 triệu tấn bùn đỏ và nước thải. Khi ấy, "quả bom bùn triệu tấn" cứ treo lơ lửng trên đầu cả vài chục triệu người miền Nam dưới đồng bằng, hạ lưu các con sông bắt nguồn từ TN này. Còn với người dân quanh đây, có cố gắng bám trụ thì đất của họ cũng chỉ là vùng đất chết mà thôi.

Khổ thì chỉ có người dân là khổ, còn cán bộ địa phương thì giàu lên thấy rõ. Khi vừa nghe tin dự án bauxite sẽ được triển khai, cán bộ ùn ùn kéo nhau đi mua đất. Nhà gỗ, nhà gạch mọc lên như nấm, có người làm một lúc cả chục căn nhà. Rồi cây cối cũng mọc lên theo, có nơi hàng chục ngàn cây được trồng với mật độ cách nhau chỉ 10-15cm/cây (???). Chỉ trong một đêm, đất nông nghiệp được biến thành đất thổ cư, có sổ đỏ đàng hoàng. Xây cất xong, cứ bỏ hoang đấy để chờ giải tỏa. Chẳng mấy chốc, ngân sách Nhà nước chi phí cho việc đền bù, giải phóng mặt bằng bị đội lên hàng chục tỷ đồng, cũng bởi những ông quan giỏi trục lợi từ tiền thuế của dân này.

Vừa đi vừa quan sát, chúng tôi càng cảm nhận được sức nóng hầm hập của một vùng đất đang bị tàn phá. Lâu lâu có những chiếc xe biển số xanh của nhà nước chở chuyên gia Trung Quốc chạy ngang qua, họ vênh váo bấm còi, phóng xe bạt mạng, miệng la lối giành đường bằng thứ tiếng nửa Tàu, nửa Việt tục tĩu.... Thấy chúng tôi không giống người địa phương, họ đưa những cái nhìn đầy thách thức, có gã phun bãi nước bọt xuống đất, miệng cười khinh bỉ. Máu nóng dồn lên mặt, gan sôi như lửa đốt, anh bạn đi cùng không giữ được bình tĩnh, cui xuống vớ lấy một cục đá rất to. Trong tích tắc, những người khác nhanh chóng giữ chặt tay anh ta lại. "Đừng, không đáng đâu !" - một người vội hét lên. Tôi sẽ không bao giờ quên được hình ảnh này, người bạn vốn hiền lành như cục bột, bỗng chốc trở nên khác hẳn, đôi mắt giận giữ đỏ bừng như hai ngọn lửa, bàn tay run run vẫn còn nắm chặt hòn đá, những hạt đất đỏ vỡ ra, rơi xuống trong tiếng cười khả ố của bọn Tàu vừa bỏ đi.

Chúng tôi lại tiếp tục đi, một người đứng chụp hình, những người còn lại che chắn, cảnh giác. Vì là buổi trưa nắng, cho nên người qua lại không nhiều. Nhưng vẫn có cảm giác hồi hộp bởi những cái nhìn bất thường, hay những ánh mắt dò xét nấp trong vài quán nước tạm bợ xung quanh. Tình hình e có điều gì không ổn, chúng tôi liền vờ như quay trở lại, khi thoát khỏi tầm quan sát của những người "khả nghi", cả nhóm nhanh chóng rút vào một vườn cafe gần đó tìm cách đi tiếp. Nhận thấy đi đường chính khó có thể vào sâu thêm được, quan sát kỹ địa hình, chi còn cách là theo nương rẫy của người dân để tiếp cận gần hơn khu vực nhà máy. Đường mới hơi khó đi, vì nương rẫy bị bỏ hoang đã lâu, cỏ mọc ngang đầu, che phủ hết lối đi. Một đám thư sinh quen với việc ngồi ghế giảng đường ĐH, bỗng chốc phải "trèo đèo, lội suối" cũng nảy sinh lắm chuyện, những kỷ niệm thật buồn cười. Những giống cỏ dại chưa bao giờ gặp cứa vào khắp chân tay, hầu như ai cũng mang vài vết xước trên người, nhưng sợ nhất vẫn là rắn và bò cạp. Lâu lâu cô bé đi cùng hét lên oai oải vì ... bị một con sâu lạ bám vào vai.

Qua khỏi bãi nương rẫy, chúng tôi đến một khoảng đất trũng, giống như một đầm lầy. Không biết nước từ đâu chảy về đỏ ngầu, bẩn thỉu làm chúng tôi thấy rợn rợn. Có lẽ nguyên nhân chính là do quá trình xây dựng nhà máy đã làm cho nguồn nước biến đổi. Lội qua dòng nước, cảm giác ngứa ngáy lan khắp chân tay, lớp đất mềm ở đây lún xuống khá sâu, rất khó nhấc chân lên, đúng như có người đã nói, đất Tây Nguyên rất "yêu" người.

Vượt qua bãi đất trũng, chúng tôi phải trèo lên 1 ngọn đồi thấp, nơi đang được tiến hành san phẳng. Đất đỏ đang bị bào mòn trơ lên sỏi đá, lác đác vài đống cỏ dại vươn mình. Những lớp đất đỏ bị nước lũ xói mòn tạo thành những rãnh sâu đến cả chục mét trên triền đồi. Trèo mãi mới lên đến đỉnh, thật ngỡ ngàng khi trước mắt chúng tôi là cả một vùng đất bị san bằng, rộng, dài cứ tưởng chừng như bất tận, sự đại quy mô của công trình. Màu đất đỏ rực, phẳng lỳ tương phản hoàn toàn với khung cảnh Tây Nguyên vốn nhấp nhô, khúc khuỷu.

Trên vùng đất vừa được san bằng này, những đoàn xe nối đuôi nhau thực hiện nốt những công đoạn cuối, chờ ngày chính thức khởi công xây dựng nhà máy luyện Ocid Nhôm. Ở đây chỉ mới làm xong trụ sở công ty Nhân Cơ, những khu nhà ở cho chuyên gia Trung Quốc và các lán trại cho công nhân Việt Nam.

Nếu đúng như kế hoạch, thì cuối năm nay hoặc đầu năm sau nhà máy sẽ đi vào hoạt động,cho sản lượng 1,2 triệu tấn/ năm, và khi sản phẩm đầu tiên được cho ra đời, đó cũng là ngày đặt dấu chấm hết cho mảnh đất Nhân Cơ màu mỡ này. Kế đến, sẽ là cả Đắk Nông - nơi có lượng Bô-xít cao nhất bị đào bới tan hoang, kéo theo cả một Tây Nguyên chết chóc, và cả miền Nam phải gánh chịu hậu quả ô nhiễm khôn lường...

Chúng tôi cảm thấy rùng mình khi nghĩ đến điều đó, chúng tôi sợ nghĩ đến tương lai của các thế hệ sau, khi buộc phải gánh chịu những di họa từ thế hệ trước. Dưới chân chúng tôi là nơi dự tính làm hồ chứa bùn đỏ, thử tưởng tượng với nạn khai thác ồ ạt như hiện nay, liệu sau 10-15 năm nữa nó có còn đủ sức chịu đựng, bao bọc cho Tây Nguyên hay không ? Nếu xảy ra vỡ đập thì hậu quả không thể lường trước được. Thảm họa ấy còn kinh khủng hơn khi Đắk Nông với địa hình dốc, là thượng nguồn cùa 2 dòng sông chính Mê Kông và Đồng Nai... Cứ thế, "Quả bom bùn 20 triệu tấn" cứ treo lơ lửng trên đầu đất nước Việt Nam, chờ ngày phát nổ.

Đứng như chết lặng một hồi lâu, chúng tôi quay trở lại con đường cũ. Nỗi ám ảnh về một Tây Nguyên khô hạn, chết chóc cứ bám theo suốt quãng đường còn lại, cho tới khi về đến nhà.

Chiều Tây Nguyên đìu hiu, vắng lặng. Bầu trời u uất nỗi buồn, xung quanh bốn bề núi non trùng điệp, xa xa những ngôi nhà leo lét ánh đèn ! Bữa cơm tối thân mật với người chủ nhà tốt bụng, lâu lâu có tiếng cười nói bật ra gượng gạo.

Đêm thứ hai ngủ lại Đắk Nông, ai cũng trằn trọc, bâng khuâng. Bất chợt anh bạn cười òa một cách thích thú, gửi cho mọi người xem tin nhắn SMS từ Sài Gòn, đại ý là ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu dừng ngay lập tức dự án Bô-xít Tây Nguyên. Tiếng cười đùa, bình luận lại vang lên, xua đi nỗi lòng nặng trĩu, hóa ra tin Cá Tháng Tư. Cũng lạ thật, đa số người ta dùng ngày Cá Tháng Tư để vui đùa tếu táo, còn những người như chúng ta lại chọn ngày Cá Tháng Tư để nói lên tâm tư, nguyện vọng của mình.

Chúng tôi chìm dần vào trong giấc ngủ, trong đầu vẫn ám ảnh một màu đỏ của đất Tây Nguyên...

Đắk Nông, 07-04-2009
Nhóm PV CLB Nhà Báo Tự do tường trình từ Tây Nguyên

Dự án bauxite Tây Nguyên : Làn sóng phản đối ngày càng mạnh

Thanh Phương RFI 07-04-2009

Kể từ khi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng loan báo quyết định của chính phủ nhất quyết tiến hành dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên bất chấp những cảnh báo của các nhà khoa học về tác hại đối với môi trường và văn hóa ở vùng này, làn sóng phản đối dự án này ngày càng mạnh, nhất là vì nhiều người sợ rằng Trung Quốc trong tương lai sẽ kiểm soát vùng Tây Nguyên, đe dọa đến an ninh quốc phòng của VN.

Trong một bài báo đăng trên mạng ngày 28-3, tờ Tuổi Trẻ khi tường thuật về buổi tọa đàm về các biện pháp kích cầu trong xây dựng đã trích lời ông Trần Ngọc Hùng - chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN - khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài và nhất là các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, ximăng, hóa chất... Ông Hùng nói : "Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được". Qua bài báo này, tờ Tuổi Trẻ tiết lộ là hàng chục ngàn công nhân Trung Quốc đã vào Việt Nam.

Trong số này có bao nhiêu công nhân Trung Quốc là việc cho dự án khai thác bauxite, hiện chưa có con số chính xác, nhưng có lẽ là rất đông, theo như quan sát của người dân địa phương tại Tây Nguyên. Một điều chắc chắn là các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên đang được tiến hành rất khẩn trương.

Bằng chứng là gần đây hãng tin Dow Jones có loan tin là Tập đoàn Marubeni của Nhật vừa cho biết rằng họ và công ty China Aluminum International Engineering Co. (Trung Quốc), đã nhận được đơn đặt hàng để bán một nhà máy luyện nhôm sẽ được sử dụng ở Đắk Nông. Theo dự kiến, việc xây dựng nhà máy sẽ hoàn tất vào năm 2011 và khi vận hành sẽ đạt công suất 600,000 tấn alumima/năm.

Cũng hãng thông tấn Dow Jones cho biết, đây là đơn đặt hàng cho nhà máy luyện nhôm thứ nhì tại Việt Nam. Trước đây, đã có một hợp đồng được TKV (Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam) ký với Maru-beni, trị giá 50 tỉ Yen (khoảng 52 triệu USD), để mua một nhà máy luyện nhôm đặt tại phía Bắc Sài Gòn.

Trong một bản tin đăng ngày 6-3, tờ Sài Gòn Tiếp Thị cho biết: công ty Alumin Nhân Cơ, thuộc TKV đã hoàn tất việc san ủi 200 héc ta đất để chuẩn bị xây dựng một nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ, huyện Đắk Rlấp, tỉnh Đắk Nông. Theo tờ Sài Gòn Tiếp Thị, "các hạng mục phụ trợ khác như văn phòng, đường dẫn vào nhà máy..., đã hoàn thành". Cũng theo Sài Gòn Tiếp Thị, "nhà máy luyện oxid nhôm vừa kể có công suất 600,000 tấn/năm và đại diện TKV, đại diện công ty Alumin Nhân Cơ đã lên đường sang Trung Quốc để ký hợp đồng xây dựng nhà máy với công ty cổ phần nhôm Trung Quốc (Chalieco). Nhà máy này theo dự kiến sẽ được khởi công xây dựng đầu quý 2 năm nay".

Trước tình hình đó, ngày càng có nhiều nhà trí thức lên tiếng phản đối dự án bauxite Tây Nguyên vì tác hại kinh khủng của nó đến môi trường. Gần đây nhất, nhà báo Lê Phú Khải từ Sài Gòn, với tư cách một đảng viên, đã viết thư đề ngày 18-3 gởi cho tổng bí thư Nông Đức Mạnh, trong đó có đoạn viết rằng : “Vấn đề bauxite còn nguy hại gấp trăm ngàn lần Cải cách Ruộng đất, vì nó hủy diệt cả dân tộc ta như các nhà khoa học đã dự báo. Mười năm nữa sông Đồng Nai và những con sông khởi nguồn từ Tây Nguyên bị nhiễm bùn đỏ thì cả miền Trung, Đông Nam Bộ và TP.HCM lấy gì mà uống, những bà mẹ sẽ đẻ ra toàn quái thai. Vì sự tàn khốc đó mà TQ đã đóng cửa các mỏ bauxite của họ trên toàn quốc vào năm 2008. Chính vì lẽ đó, với tư cách một công dân, một nhà báo lâu năm, tôi kiến nghị lên Ông Tổng Bí thư, người có trách nhiệm cao nhất của Đảng cầm quyền: Hãy đưa vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên ra bàn ở cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội và Nhà nước để dừng lại dự án này khi chưa quá muộn.

Nhưng chính sự hiện diện đông đảo của người Trung Quốc ở Tây Nguyên đang gây lo ngại ngày càng nhiều về mặt an ninh quốc phòng. Trong một bức thư đề ngày 2-3-2009 gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng ghi nhận là : ''Qua những vụ việc đất đai ở biên cương phía bắc, có thể dễ dàng nhận ra bài bản cướp đất của phương Bắc là: Lặng lẽ chiếm đất ở từng điểm nhỏ lẻ, rải rác, coi như đó chỉ là những vụ việc cục bộ, địa phương, nhà nước trung ương không hay biết! Nhà nước trung ương cứ cao giọng nói hữu hảo, cứ ban phát lời vàng hữu nghị nhưng cục bộ cứ lấn đất, chiếm đất, lặng lẽ mà chiếm, không gây ồn ào thành sự kiện quốc gia là được ! Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của ta cũng làm ngơ đồng lõa !''

Từ đó, nhà văn Phạm Đình Trọng càng đặt nghi vấn về quyết định của chính phủ cho phép Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên : ''Lạ quá, qui hoạch khai thác bô-xít ở Tây Nguyên mới được Chính phủ phê duyệt, luận chứng kinh tế kĩ thuật đang soạn thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, thế mà công dân Trung Hoa, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã xục xạo ở Tây Nguyên !

Dư luận người dân Việt Nam đang lo ngại, đang xôn xao bàn tán về tính hiệu quả, về thảm họa môi trường khi khai thác bô-xít Tây Nguyên và càng lo ngại hơn khi hàng ngàn trai tráng Trung Hoa sẽ có mặt đông đảo, trùng trùng đội ngũ ở Tây Nguyên, trung tâm bán đảo Đông Dương, khi đó ông Thủ tướng mới tuyên bố rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước! Chủ trương lớn của đảng và nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta rồi! Điều này làm cho người dân phải đặt câu hỏi: Chủ trương lớn khai thác bô-xít Tây Nguyên có thực sự vì đất nước Việt Nam, có thực sự vì nhân dân Việt Nam ?''

Trước đó, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh cũng đã viết thư khuyên can thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và cảnh báo rằng : ''Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe doa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào ?!''

Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 6-4 vừa qua, nhà thơ Bùi Minh Quốc ở Đà Lạt cũng chia sẻ những mối lo âu nói trên.

RFI : Kính thưa ông Bùi Minh Quốc, là một người sống ở Đà Lạt, cách không xa các mỏ bauxite, ông có suy nghĩ như thế nào về dự án khai thác bauxite Tây Nguyên ?

Nhà thơ Bùi Minh Quốc : Từ lâu tôi đã để ý đến dự án khai thác bauxite Tây Nguyên, mà cụ thể là trên đất Lâm Đồng, tức là điạ bàn huyện Bảo Lộc, cách Đà Lạt hơn 120 km. Những người từ Bảo Lộc về cho biết là từ nhiều tháng qua, người dân tại đây đã xầm xì bàn tán về việc Trung Quốc vào khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Dư luận lại càng bàn tán nhiều hơn kể từ khi có ý kiến của đại tướng Võ Nguyên Giáp gởi thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rồi đến thư của thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, rồi ý kiến của các nhà khoa học, nhà trí thức như tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giáo sư Phạm Duy Hiễn hay nhà văn Nguyên Ngọc.

Dự án này tàn phá môi trường không chỉ của Tây Nguyên, mà còn của những vùng bên dưới nữa. Vì đây là thượng nguồn sông Đồng Nai, cho nên nó ảnh hưởng đến toàn bộ vùng Đông Nam bộ và Sài Gòn. Rừng bị phá, tức là văn hóa các dân tộc Tây Nguyên bị phá, vì như nhà văn Nguyên Ngọc có nói, văn hóa Tây Nguyên trước hết là văn hóa rừng. Ý kiến của riêng tôi là dự án khai thác bauxite Tây Nguyên đã là một sai lầm, sai lầm này càng lớn hơn nữa vì đối tác được chọn lại là Trung Quốc, như tôi đã nhấn mạnh trong bài viết ''Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc''

RFI : Xin ông giải thích rõ hơn về khái niệm này? Nguy cơ của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên đối với an ninh quốc phòng của Việt Nam là như thế nào ?

Bùi Minh Quốc : Đây là hình thức diễn biến hòa bình thông qua quan hệ giữa hai đảng. Bauxite Tây Nguyên chính là bằng chứng cho thấy tính chất nguy hiểm đối với an ninh quốc gia, như thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh đã nêu lên. Ở phía Đông Bắc, Trung Quốc xây một căn cứ hải quân rất mạnh ở đảo Hải Nam. Căn cứ này không phải để nhằm chống một cuộc xâm lăng nào, mà là chính là để đe dọa VN.

Bây giờ, họ thông qua việc hợp tác khai thác bauxite để đưa người vào Tây Nguyên. Theo những tin tức từ địa phương mà tôi nắm được, tại khu Bảo Lâm, người Trung Quốc đã vào đầy ở đó, đã xây nhà, xây cửa thành những khu vực riêng, đã tiến hành ũi đất khai thác. Đứng về mặt an ninh quốc phòng, thì từ Bảo Lâm đến Sài Gòn chỉ cách 180 km, mà theo đường chim bay thì còn ngắn hơn nữa. Những người Trung Quốc được đưa vào Tây Nguyên, nhìn bề ngoài là công nhân, nhưng bên trong họ là lính tráng thì sao ? Như ông Nguyễn Trọng Vĩnh có nói, họ đưa súng ống vào đâu có gì là khó ?

Nói chung, đây là một vấn đề chính trị rất phức tạp, rất nghiêm trọng, với nguy cơ mất nước đang hiện ra. Nước ta coi như đang bị một gọng kìm. Phía Đông Bắc là căn cứ hải quân, phía Tây Nguyên thì đang hình thành một địa bàn quân sự trá hình. Tôi hết sức lo lắng, nhất là vì cả đời tôi đã tham gia cứu quốc, nay lại thấy đất nước đùng trước một nguy cơ như thế, thì làm sao mà yên lòng được ?

Trao đổi với những bạn bè gần xa, tôi thấy ai cũng đều có tâm trạng như vậy, tức là hết sức lo lắng, bất bình và đều rất mong là những nhà lãnh đạo cho dừng ngay dự án này. Việc này theo lẽ phải được đưa ra cho toàn dân bàn, theo đúng chủ trương của Đảng là ''dân biết, dân bàn''. Hơn nữa, về mức số vốn đầu tư thì đây là dự án lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam, mà lại liên quan đến an ninh quốc phòng. Thế mà, người dân đã bị đặt trước việc đã rồi. Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, một người trong cuộc, thuộc Tập đoàn Than và Khoáng sản, một người biết rõ vấn đề từ rất lâu, đã nói thẳng ra rằng đây là một sai lầm cố ý của Tập đoàn Than-Khoáng sản.

Có những dấu hiệu cho thấy là những người lãnh đạo cao nhất của đất nước này đang có một cái mắc míu, cái vướng víu gì đó, cho nên mới lệ thuộc vào Trung Quốc như thế, rồi cứ ngấm ngầm cho làm, bây giờ mới bùng ra là người Trung Quốc đã vào đầy ở Tây Nguyên rồi. Động thái của họ thật là khó hiểu.

RFI : Theo ông biết thì những ý kiến phản bác dự án bauxite nay còn được loan tải rộng rãi trên báo chí chính thức không ?

Bùi Minh Quốc : Nói chung những ý kiến trên mặt báo chính thức là không phản ánh được tâm trạng của nhân dân và của đảng viên. Đảng đã có chủ trương ''dân biết, dân bàn'', nhưng biết và bàn ở đâu bây giờ ? Báo chí Việt Nam rõ ràng là không thể hiện được'' dân biết, dân bàn'', nhất là đối với dự án khai thác bauxite Tây Nguyên này.

Theo tôi việc cần làm trước hết là phải thông tin cho nhau, đặc biệt là phổ biến thật rộng rãi những bức thư của tướng Giáp, tướng Vĩnh, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, nhà văn Nguyên Ngọc, v.v... Những ý kiến ấy rất có cơ sở, rất có tính thuyết phục để phản bác chủ trương khai thác bauxite ở TN. Những ai chưa hiểu rõ vấn đề khi đọc qua những bức thư ấy thì sẽ hiểu rõ ngay. Từ đó, mọi người có thể cùng lên tiếng.

RFI: Gần đây, Hoà thượng Thích Quảng Độ, lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, có kêu gọi ''biểu tình tại gia'' để phản đối dự án bauxite. Ông có ý kiến gì về lời kêu gọi này ?

Bùi Minh Quốc: Tôi thấy ý kiến của Hòa thượng Thích Quảng Độ cũng rất hay, nhưng còn tính khả thi của nó đến đâu thì ta sẽ xem. Tôi nghĩ là bằng cách này hay cách khác, mỗi người tùy hoàn cảnh, vị trí của mình, nên bày tỏ thái độ cá nhân cũng như thái độ tập thể.

RFI: Xin cám ơn nhà thơ Bùi Minh Quốc.

Khai thác bô-xít Tây Nguyên: 3 vấn đề, 3 kiến nghị

Gs. Nguyễn Ngọc Trân 08-04-2009

Trước thềm Hội thảo về khai thác bô-xít Tây Nguyên ngày 09-04, nguyên ĐBQH Nguyễn Ngọc Trân phân tích hiệu quả kinh tế, môi trường - xã hội của các dự án bô-xít Tây Nguyên và kiến nghị lấy Tân Rai làm thí điểm.

Từ tháng 11-2008, sau khi dự án “Tổ hợp bô-xít-nhôm Lâm Đồng” tại Tân Rai được khởi công ngày 26-7-2008, và tiếp đó dự án “khai thác bô-xít sản xuất alumina Nhân Cơ” (Đắc-Nông) sẽ được khởi công trong quý I-2009, và những thông tin về dự kiến hợp tác đầu tư với nước ngoài khai thác bô-xít quy mô lớn ở Tây Nguyên kèm theo bao tiêu sản phẩm từ 2007 đến 2015 có xét đến 2025, có rất nhiều bài báo trên các phương tiện thông tin đại chúng bày tỏ sự lo ngại trước quyết định khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nhất là vào thời điểm hiện nay với sản phẩm sơ chế là alumina, đặt dấu hỏi về hiệu quả kinh tế, cảnh báo về công nghệ và hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên và xã hội.

Sau nhiều tháng chờ đợi, một cuộc hội thảo khoa học về khai thác quặng bô-xít để sản xuất alumina ở Tây Nguyên sẽ được tổ chức ngày mai, 9-4-2009 tại Hà Nội do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì với thành phần tham dự được mời gồm đại diện các Bộ ngành và các địa phương có liên quan, các nhà khoa học và hoạt động xã hội.

Dư luận mong rằng hội thảo sẽ là một sự phản biện được lắng nghe, một cuộc đối thoại xây dựng vì sự nghiệp phát triển bền vững của đất nước và của vùng đất Tây Nguyên. Nhằm mục đích đó, bài viết này góp một số ý về ba nhóm vấn đề và đề xuất ba kiến nghị.

Trước tiên là về hiệu quả kinh tế. Tổng Công ty Than Khoáng sản Việt Nam (TKV) chắc chắn đã có những tính toán của mình để thuyết minh là hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ có hiệu quả kinh tế tính cho suốt thời gian tồn tại của chúng, ước tính là 50 năm.

Vấn đề là các dự án này (và quy hoạch khai thác bô-xít nói chung) đã được tính toán trong thời gian mà nhu cầu nhôm, alumina của thế giới và khu vực đang lên cao, trong khi đó giá alumina trên thị trường thế giới hiện nay và trong thời gian trước mắt xuống rất thấp và chưa ai nói được là còn sẽ kéo dài bao lâu trong cơn khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay. Vì vậy nhà đầu tư phải xem xét lại tính toán về hiệu quả kinh tế của các dự án hiện nay (và trong quy hoạch) phù hợp với tình hình mới không thuận lợi như lúc lập luận chứng ban đầu.

Chalco, một tập đoàn lớn hàng đầu về nhôm của TQ, cho hay sẽ cắt chi tiêu tới 34%, tương đương 1,9 tỷ đôla, trong năm 2009 vì nhu cầu nhôm thế giới giảm sút mạnh. La Kiến Xuyên, chủ tịch mới của tập đoàn, thông báo ngày 30-3-2009 vừa qua [1], tập đoàn này "sẽ siết chặt các hợp đồng mua và sáp nhập tại các thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời hoãn các dự án kế hoạch để đối phó với khó khăn hiện thời".

Chắc TKV đã nhận được thông tin này và đã liên hệ đến mình và đến việc hợp tác đầu tư, để không vì khó khăn mà giãn tiến độ hoặc “treo” các dự án, và nhất là hạ thấp trình độ công nghệ, hy sinh hoặc “rút gọn” khâu xử lý chất thải bùn đỏ, thậm chí đổ bừa chất thải chưa xử lý ra môi trường như đã bắt gặp trong thời gian qua.

Trong quy hoạch khai thác bô-xít giai đoạn 2007-2015 có xét đến 2025, có việc đầu tư một tuyến đường sắt dài khoảng 270 km với chênh lệch độ cao 700 mét, đi qua một vùng địa hình khá phức tạp, để đưa sản phẩm alumina từ TN về xuất khẩu tại cảng Kê Gà (Bình Thuận).

Điều này nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khá cao, phản ánh hiệu quả đầu tư thấp trong thời gian qua. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả đầu tư phải là một mệnh lệnh rõ ràng, dứt khoát, nhất là trong giai đoạn khó khăn hiện nay.

Thứ hai là về môi trường. Hiệu quả kinh tế là quan trọng, nhưng tác động lên môi trường còn quan trọng hơn nhiều, cho hôm nay và cho mai sau. Theo TKV, do cấu trúc địa chất, bô-xít T.Nguyên có diện phân bố rộng, thường ở trên sườn và đỉnh đồi, chiều dày các vỉa quặng trung bình 3-5m, nằm dưới lớp đất phủ với khoảng cách trung bình 0-2m.

Các dự án sẽ tận dụng các thung lũng trên cùng một địa bàn, cách nhau không xa, cho hai mục đích rất khác nhau, nằm ở hai đầu của quy trình sản xuất alumina: làm hồ tích nước trong mùa mưa phục vụ tuyển quặng và sản xuất alumina, và làm hồ chứa bùn đỏ, chất thải rất nguy hiểm từ quy trình sản xuất này [2].

Việc tận dụng các thung lũng như đã nói không an toàn chút nào bởi lẽ bùn đỏ chứa một dung dịch kiềm đi kèm có tính ăn mòn mạnh, có thể thẩm thấu gây tác hại cho đất xung quanh và làm ô nhiễm nguồn nước, và nhất là vào mùa mưa, khi lượng nước mưa lớn [3] tích tụ ở các hồ bùn đỏ có thể tràn ra ngoài hoặc làm vỡ đập.

Nói về nguồn nước cho sản xuất alumina tại hai nhà máy, TKV cho biết nhà thầu sẽ sử dụng 100% nước mặt, không sử dụng nguồn nước ngầm, bằng cách đắp đập tạo hồ chứa và một phần điều hoà nước từ các đập hồ thủy điện của vùng trong mùa khô.

Xin lưu ý TKV rằng nước trong các đập và hồ thủy điện đều đã được quy hoạch để sử dụng đa mục tiêu ở hạ lưu cho dân sinh, nông nghiệp, thủy sản,… vì ở đó cũng rất cần nước vào mùa kiệt!

Báo cáo của các nhà thầu bảo đảm rằng việc xử lý ô nhiễm, chất thải bùn đỏ, sẽ được làm triệt để nhằm giảm thiểu tác động xấu đến môi trường, và với phương pháp khai thác theo trình tự cuốn chiếu, “công tác hoàn thổ, phục hồi không gian sẽ được hoàn nguyên ngay sau khi khai thác xong từng khu vực”. Trong khi đó tỉ lệ dành cho việc xử lý chất thải, đặc biệt chất thải bùn đỏ, lại chỉ chiếm 5,4–5,6% tổng vốn đầu tư của nhà máy trong mỗi dự án.

Chính vì vậy và mặc dù việc xử lý chất thải bùn đỏ ở các nước được dẫn chứng như là an toàn (mà theo chúng tôi biết không hẳn là như vậy), chúng tôi vẫn cho rằng môi trường là một vấn đề chưa thể yên tâm [4].

Gần đây thôi, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa 100 mỏ bô-xít vì gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Mỏ bô-xít Nhữ An đã bị đóng cửa sau một năm hoạt động vì nguồn nước bị ô nhiễm nặng nề, cùng nhiều chứng bệnh lạ xuất hiện. Nước này cũng ra quy định các doanh nghiệp khai thác bô-xít chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau 4 năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.

Thứ ba là về vấn đề xã hội. Nhiều bài đã phân tích sâu về tác động đến văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm rằng vấn đề xã hội gắn với vấn đề môi trường và môi trường là một điều kiện quan trọng hàng đầu cho sự ổn định cuộc sống và cho sức khỏe của người dân trên địa bàn và các địa bàn lân cận.

Các báo cáo cho biết “tổng diện tích chiếm đất của toàn bộ dự án alumina Nhân Cơ khoảng 3.570 ha, trong đó phần mỏ khoảng 2.620 ha; các công trình đập, hồ chứa nước khoảng 500 ha; phần nhà máy sản xuất alumina khoảng 150 ha; các dự án tái định canh, định cư khoảng 300 ha”. Có thể khẳng định rằng tác động lên xã hội của dự án rộng hơn khoảng không gian này nhiều. TKV cho biết con em của Lâm Đồng và Đắk Nông đã được gửi đi đào tạo để phục vụ hai nhà máy. Hoạt động của các nhà máy sẽ kéo theo sự phát triển các ngành kinh tế khác. Kinh tế thuần nông lâm sẽ chuyển dần sang kinh tế đa ngành nghề. Thu ngân sách và thu nhập của của người dân của hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông sẽ tăng.

Nếu được như vậy thì rất tốt và đáng mừng. Thế nhưng Greg Zelder và Sebastian Africano, Giáo sư về Chủng tộc, Đói nghèo và Môi trường, cùng Raquel R. Pinderhughes, Đại học bang San Francisco đã chỉ ra rằng khai thác bô-xít hầu hết đã làm gia tăng đói nghèo cho người dân bản địa.

Yếu tố con người đã được xem trọng đúng mức chưa trong cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ? Dự án Nhân Cơ chỉ cho con số 300 ha dành cho tái định canh, định cư. Nhưng số người tái định cư là bao nhiêu, họ là ai, cuộc sống vật chất và tinh thần của họ như thế nào, nguyện vọng của họ ra sao… không thấy nói.

Công tác tái định cư của các công trình Sơn La, Dung Quất và xa hơn là Hòa Bình cho chúng ta nhiều bài học quý mà trước tiên là cần tiếp cận vấn đề xã hội sâu sắc hơn, nhân văn hơn, đậm đà tình dân tộc, nghĩa đồng bào hơn.

Từ những ý kiến trên đây, xin đề xuất ba kiến nghị:

1. Nếu không thể dừng, lấy dự án Tân Rai làm dự án điểm. Tập trung chỉ đạo và yêu cầu tập đoàn thầu theo phương thức EPC thực hiện dự án đúng các cam kết, đặc biệt việc xử l‎ý an toàn nhất chất thải bùn đỏ. Giám sát việc thực hiện. Làm cho tốt công tác tái định cư. Tổng kết kinh nghiệm.

2. Tập trung xây dựng cho xong dự án quy hoạch tổng thể khai thác bô-xít Tây Nguyên có báo cáo đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) song hành trước khi triển khai bất kỳ dự án nào mới.

3. Khi dự án quy hoạch hoàn thành, nếu một trong năm tiêu chí (tổng vốn đầu tư; tác động lên môi trường; số dân di dời tái định cư; đầu tư tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng, an ninh hoặc có di tích quốc gia có giá trị đặc biệt quan trọng về lịch sử, văn hóa; đòi hỏi phải áp dụng cơ chế, chính sách đặc biệt cần được Quốc hội quyết định) chạm giới hạn cho phép thì Chính phủ trình Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đúng theo Nghị quyết 66/2006/QH11 của Quốc hội.

Khai thác bô-xít Tây Nguyên có ý nghĩa vô cùng quan trọng về nhiều mặt, cần được tiến hành từng bước chắc chắn. Quặng vẫn nằm đó trong lòng đất và chờ đợi được khai thác với công nghệ sạch và tiên tiến, trong một quy hoạch chặt chẽ và toàn diện. Chỉ có như vậy nó mới góp phần vào sự phát triển đất nước một cách bền vững.

Chú thích

[1] Theo Wall Street Journal ngày 29.3.2009 và BBC ngày 30.3.2009.

[2] Cả hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ đều chọn phương pháp thải ướt bơm bùn đỏ lỏng ra bãi thải vì “đỡ tốn kém hơn phương pháp thải khô, và thích hợp với các vùng có các thung lũng dễ tạo thành hồ chứa”.

[3] Lượng mưa trung bình nhiều năm ở Tây Nguyên là từ 2000 -2500 mm/năm, tập trung trong 3 đến 4 tháng. 

[4] Tôi đã gửi đến Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tài liệu “Bauxite and Aluminium: From A to Z”, của các tác giả Greg Zelder, Sebastian African, Raquel R. Pinderhughes, State University at San Fransisco, California, 2003, trong đó có phần trình bày các tác hại đến môi trường và xã hội, với các dẫn chứng ở Ấn Độ và Haiti.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter