lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

II- KIẾN NGHỊ, KHÁNG THƯ

Thư ngỏ của một công dân ngoài Đảng

Lê Phú Khải, nhà báo 18-03-2009

Thưa Ông Tổng Bí thư,

Tôi là Lê Phú Khải, một công dân ngoài Đảng. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có một ngày cầm bút viết thư cho Ông Tổng Bí thư Đảng độc tôn cầm quyền. Song, những gì diễn ra trên đất nước của chúng ta những ngày qua khiến tôi ăn không ngon, ngủ không yên, suy nghĩ đến thức trắng nhiều đêm.

Đó là cơn bão ô nhiễm môi trường do công ty Vedan gây ra còn nóng bỏng dư luận cả nước thì một tin kinh hòang lại ập đến là khai thác bauxite ở Tây Nguyên trên diện rộng và thời gian lâu dài. Tôi càng đau đớn hơn khi được đọc các bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nhà văn Nguyên Ngọc, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn và đặc biệt gần đây là bài của nhà văn Phạm Đình Trọng (gây tiếng vang lớn) về thảm họa khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Tôi được biết, từ xưa đến nay Đảng cầm quyền vẫn nêu khẩu hiệu "Ý Đảng lòng Dân". Nay những người được tuyệt đại đa số nhân dân rất yêu qúy, kính trọng như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà văn Nguyên Ngọc cả cuộc đời gắn bó với Tây Nguyên… đều phản đối mạnh mẽ việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Rõ ràng trong việc này, ý Đảng không hợp với lòng Dân. Từ trước đến nay Đảng Cộng sản Việt Nam làm được điều gì đều là do được sự đồng lòng ủng hộ của nhân dân. Nay một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước là vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên có liên quan đến sinh mạng của đất nước, đến sự tồn vong của giống nòi, của dân tộc lại không được sự đồng thuận của nhân dân thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng đối với cả Đảng cầm quyền và đất nước.

Tôi nghĩ rằng trong quá khứ, lịch sử đã lựa chọn Đảng Cộng sản là chính đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhưng với hiện tại và tương lai thì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản không phải là một định mệnh. Nếu một đường lối, chủ trương lớn của Đảng mà từ Đại tướng đại công thần của chế độ như Võ Nguyên Giáp đến người dân bình thường lại không đồng thuận thì dù có một ngàn lần đưa sự lãnh đạo của Đảng vào điều 4 Hiến pháp cũng vô nghĩa!

Chính vì lẽ đó, với tư cách một công dân, một nhà báo lâu năm, tôi kiến nghị lên Ông Tổng Bí thư, người có trách nhiệm cao nhất của Đảng cầm quyền: Hãy đưa vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên ra bàn ở cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội và Nhà nước để dừng lại dự án này khi chưa quá muộn.

Trước đây, Cải cách ruộng đất là một chủ trương lớn của Đảng nhưng khi thấy sai, Đảng đã sửa sai, được nhân dân tha thứ và đồng tình. Nay theo tôi, vấn đề bauxite còn nguy hại gấp trăm ngàn lần Cải cách ruộng đất, vì nó hủy diệt cả dân tộc ta như các nhà khoa học đã dự báo.

Mười năm nữa sông Đồng Nai và những con sông khởi nguồn từ Tây Nguyên bị nhiễm bùn đỏ thì cả miền Trung, Đông Nam Bộ và TP.HCM lấy gì mà uống, những bà mẹ sẽ đẻ ra tòan quái thai. Vì sự tàn khốc đó mà Trung Quốc đã đóng cửa các mỏ bauxite của họ trên tòan quốc vào năm 2008. Vì nhân đạo mà Liên Xô trước đây đã khuyên ta không nên khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Vậy mà…

Thưa Ông Tổng Bí thư, trong cuộc cách mạng Pháp năm 1789 có một câu nói nổi tiếng của Marat được truyền tụng khắp châu Âu: Người ta lớn bởi vì anh quỳ xuống (On est grand, parce que vous vous mettez à genoux). Dân tộc chúng ta từ khi lập nước chưa bao giờ tự cho mình là bé nhỏ. Chính vì thế nước ta xưa kia mới có tên là nước Đại Việt và giữ được nước đến hôm nay. Khi thực dân Pháp cai trị nước ta, với dã tâm làm yếu hèn ý chí tự cường của thanh thiếu niên, chúng đã soạn sách giáo khoa dạy rằng: "Nước ta hình cong như chữ S, nằm khiêm tốn bên bờ biển Thái Bình Dương!" Nhưng trận Điện Biên Phủ năm 1954 đã chôn vùi thói tham tàn của thực dân Pháp xuống bùn đen vạn kiếp.

Tổ quốc Việt Nam vĩ đại của chúng ta đời đời bất diệt. Lịch sử đã chứng minh điều đó. Không kẻ nào có thể bắt Việt Nam phải "khiêm tốn" làm bãi thải rác cho họ!

Tôi có bấy nhiêu lời gan ruột của một công dân nước Việt gửi đến Ông Tổng Bí thư. Kính chúc Ông sức khỏe.

Viết từ TP. HCM, ngày 18-3-2009.

Về tác giả: Sinh năm 1942 tại Hà Nội, ông Lê Phú Khải được độc giả trong nước biết đến qua những trang viết về đồng bằng sông Cửu Long. Tác phẩm chính: Đồng Tháp Mười hôm nay, Viết từ đồng bằng Sông Cửu Long, Rắn độc trong tay người, Hồ sơ đồng bằng sông Cửu Long.

Lời Kêu gọi
Một tháng biểu tình tại gia để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài

Hòa thượng Thích Quảng Độ 29-03-2009

PARIS, ngày 30-3-2009 (Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế) - Sáng nay Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế “Lời Kêu gọi Một Tháng Biểu tình Tại gia” để phổ biến đến các cơ quan truyền thông, báo chí cùng đồng bào các giới mong được sự hưởng ứng trước nguy cơ đại nạn sinh thái và an ninh quốc phòng nơi yết hầu quân sự Tây Nguyên.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện (Viện Tăng thống và Viện Hóa Đạo), Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ cất lên lời kêu gọi. Bởi vì theo nhận định của Hòa thượng, hiện nay “lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam”. Nên hy vọng cuối cùng của Hòa thượng là “CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN”.

Hòa thượng kêu gọi tháng Tư này xin đồng bào các giới chuẩn bị lương thực để có thể thực hiện suốt tháng 5.2009 làm tháng “Bất tuân dân sự” biểu dương bằng cuộc “Biểu tình Tại gia” : “Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường”. Sống dưới chế độ độc tài toàn trị, mọi tự do cơ bản đều bị tiêu hủy, đặc biệt tự do ngôn luận, tự do biểu tình. Công an là thế lực đàn áp và bắt bớ Người Biểu tình. Cho nên đối sách là Biểu tình tại chỗ, trong nhà mình, thì cuộc bắt bớ không thể thực hiện.

Với người Việt hải ngoại, Hòa thượng kêu gọi “đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả”.

Với các cơ quan truyền thông, báo chí Hòa thượng kêu gọi xin “giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước”.

Lời kêu gọi trình bày chi tiết đầy đủ về đại nạn sinh thái gây ra do việc khai thác quặng bô-xít ở Tây Nguyên. Nhất là “công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây Nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long”. Điều trầm trọng hơn nữa, theo lời Hòa thượng, là “nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây Nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam”.

Lời kêu gọi thống thiết của Hòa thượng Thích Quảng Độ là : “Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…”

Mục tiêu của Tháng 5 Bất tuân dân sự - Biểu tình Tại gia, nhắm đạt 3 mục tiêu :

“1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc. “Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

“2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồlàbộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

“3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây Nguyên.

Chúng tôi xin đăng tải toàn văn Lời Kêu Gọi Một Tháng Biểu Tình Tại Gia như sau:

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
VIỆN HÓA ĐẠO

Thanh Minh Thiền Viện, 90 Trần Huy Liệu, Phường 15, Quận Phú Nhuận, TP Saigon
Phật lịch 2552 Số 03 /VHĐ/VT

LỜI KÊU GỌI
MỘT THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài

Bất chấp những lời báo động hiểm nguy của các chuyên gia, trí thức về việc khai thác quặng bô-xit ở Tây Nguyên, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vẫn một mực tiến hành việc lựa chọn nhà thầu Trung quốc vào Tây Nguyên khi khẳng định : “Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương của Đảng nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X”, nghĩa là từ năm 2006.

Đảng quyết định. Nhưng toàn dân thì sao ?

Toàn dân thông qua ý kiến của các giới chuyên gia, trí thức, học giả… đưa lên báo chí, truyền thông, Internet đều báo động rằng khai thác bô-xít sẽ hủy diệt mầu xanh rừng Tây Nguyên, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy cơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét sẽ xẩy ra nhiều hơn, đồng thời ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu ở miền Nam Trung bộ, Đồng Nai, Bình Dương, thành phố Saigon. Từ nghìn xưa, mầu xanh rừng Tây Nguyên bảo vệ cho việc tích trữ nước trong lòng đất, lọc không khí và điều hòa nhiệt độ toàn vùng. Phá hủy mầu xanh còn là phá hủy nghiêm trọng không những cảnh quan mà sắc thái văn hóa và quyền sống của hàng chục dân tộc ít người trên vùng cao.

Theo các báo cáo khoa học thì quặng bô-xít để sản xuất nhôm không là kim loại chiến lược. Giá trị kinh tế của nhôm không cao hơn việc trồng cây công nghiệp ở Tây Nguyên. Bô-xít là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh. Còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn và có tái sinh. Ấy là chưa nói đến công nghệ lạc hậu khai thác quặng bô-xít chỉ có ở Trung quốc là công nghệ “ướt”, trong khi các quốc gia tiên tiến đã chuyển công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô” trong việc thải bùn đỏ, là nguy cơ gây đại nạn sinh thái cho Tây Nguyên, miền Nam Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long.

Bức thư ngỏ mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết từ năm 1980 Đảng và nhà nước đã đề nghị khối COMECON, tức khối kinh tế cộng sản Liên xô và Đông Âu, khai thác quặng bô-xít Tây Nguyên. Nhưng theo thư ông Giáp thì “khối COMECON đã khuyến nghị Chính phủ ta không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với dân cư tại chỗ mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung bộ”.

Vì tính chất nguy hại sinh thái và cư dân quanh vùng khai thác bô-xít mà Cục bảo vệ môi trường quốc gia Trung quốc đã đóng cửa 100 mỏ bô-xít trên lãnh thổ Trung quốc từ năm 2004 đến 2008. Tại Ấn độ năm 2004 đã có một phong trào quần chúng lớn rộng nổi dậy biểu tình chống việc khai thác bô-xít tại bang Orissa trên diện tích 1000 hecta làm nguy hại 60.000 cư dân.

Tại Việt Nam hiện nay, chỉ nói đến một cứ điểm Đắk Nông ở phía cực nam Tây Nguyên hiện đang có 7 mỏ khai thác bô-xít, tất thấy ngay nguy cơ sa mạc hóa - “bùn đỏ hóa mầu xanh” trên 6000 quả đồi với hàng trăm con suối trên một diện tích 600.000 hecta, nơi cư ngụ 29 dân tộc ít người, chủ yếu là cư dân bản địa người M’Nông. Để khai thác 5,4 tỉ tấn quặng thô bô-xít ở Đắk Nông thì chất thải bùn đỏ sẽ phủ lấp hàng nghìn buôn làng : khi ta biết rằng để có 1 tấn nhôm cần khai thác 4 tấn quặng bô-xít và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ !

Vấn nạn nêu trên nằm trong lĩnh vực môi trường và sinh thái cho cư dân Tây Nguyên. Một vấn đề trầm trọng khủng khiếp khác là nguy cơ an ninh quốc phòng. Tây Nguyên là vùng chiến lược, yết hầu quân sự cho việc phòng ngự Việt Nam trên ngã ba biên giới Cam Bốt – Lào – Việt Nam. Việc nhà thầu Trung quốc khai thác quặng bô-xít đã bắt đầu, những làng người Hoa vừa dựng lên ở Tây Nguyên, khoảng năm, mười nghìn người Trung quốc sẽ tới : Trọng Thủy đã cưỡng bức Mị Nương trên dãy Trường Sơn. Còn ngoài kia trên biển Đông, Trung quốc cũng đang lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa…

Nguy cơ mất nước bắt đầu.

Lần này không chỉ Bắc thuộc Một Nghìn Năm, mà là Ba Nghìn Năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước Nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam.

CHỈ CÒN LẠI TIẾNG NÓI CỦA TOÀN DÂN MỚI CÓ CƠ CỨU VÃN. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

Nhân danh Hội đồng Lưỡng Viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi kêu gọi người Việt trong ngoài nước hãy tỏ thái độ trước nguy cơ hủy hoại mầu xanh Tây Nguyên và đời sống của người Việt cũng như hàng chục dân tộc ít người trong việc khai thác quặng bô-xít không thông qua nghiên cứu khoa học và kinh tế, mà chỉ vụ vào sự lệ thuộc Bắc phương.

Kính xin người Việt nước ngoài khẩn cấp báo động công luận thế giới về đại nạn sinh thái Tây Nguyên, và nguy cơ nối giáo Bắc Kinh trấn đóng yết hầu chiến lược vùng ba biên giới.

Kính xin người Việt trong nước hãy tỏ thái độ bằng cuộc biểu dương BẤT TUÂN DÂN SỰ trong suốt tháng 5 kể từ ngày Lễ Lao động 1-5 sắp tới.

Sống dưới chế độ độc tài, công an trị, người dân đã mất quyền biểu tình công cộng nói lên ngưỡng vọng thiết tha suốt 54 năm tại miền Bắc và 34 năm qua tại miền Nam, thì nay hãy BIỂU TÌNH TẠI GIA như một thái độ Bất tuân dân sự : Nông dân không ra đồng, Công nhân không đến xưởng, Thương gia, Tiểu thương không đến chợ, Sinh viên, học sinh không đến trường. Chúng ta có một tháng Tư để chuẩn bị lương thực cho gia đình nhằm thực hiện tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA để đòi hỏi ba yêu sách sau đây :

1. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam cấp tốc nộp hồ sơ xác nhận thềm lục địa của mình theo Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển cho Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) trước ngày quy định của LHQ, là ngày 13 tháng 5 năm 2009, để bảo vệ quyền lợi và lãnh hải tổ quốc.

Nếu Đảng và Nhà nước vẫn làm ngơ trước quyền lợi của tổ quốc, thì xin các Cộng đồng Người Việt hải ngoại cấp tốc thành lập Ủy ban Bảo vệ Lãnh hải Việt Nam, thu tập hồ sơ, vận động quốc tế và can thiệp trực tiếp đến Ủy Ban Ranh Giới Thềm Lục Địa (UNCLOS) để bảo vệ quê hương.

2. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam công bố toàn bộ nội dung hai bản Hiệp ước Biên giới trên đất liền và trên biển ký kết giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1999 và 2000, kèm theo các bản đồlàbộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp ước, để toàn dân được biết sự toàn vẹn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng.

3. Yêu cầu Nhà cầm quyền Việt Nam khẩn cấp triệu tập một Đại hội đại biểu toàn dân bao gồm các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, kỹ thuật cơ khí luyện kim, các chiến lược gia quân sự cùng đại biểu các thành phần dân tộc bất phân chính kiến, tôn giáo trong và ngoài nước để cùng nhau thống nhất ý kiến chận đứng việc khai thác quặng bô-xít ở Tây Nguyên.

Tháng Năm BẤT TUÂN DÂN SỰ - BIỂU TÌNH TẠI GIA sẽ là thái độ dũng cảm nói lên mối ưu tư Bảo vệ sinh thái và Vẹn toàn lãnh thổ của toàn dân trong giai đoạn cấp cứu của lịch sử. Dân chủ là Tiếng Nói, một tiếng nói đối thoại và tranh luận khi quê hương nguy biến để tiến tới giải pháp cứu nguy dân tộc. Nay là cơ hội và thời điểm sinh tử để Tiếng Nói cất lên thông qua một tháng BIỀU TÌNH TẠI GIA.

Kính xin đồng bào các giới trong nước hưởng ứng THÁNG BIỂU TÌNH TẠI GIA trong suốt tháng 5.2009, và đồng bào các giới ở hải ngoại hưởng ứng bằng việc không về du lịch và không gửi tiền về Việt Nam trong suốt tháng Năm 2009, ngoại trừ những trường hợp riêng tư khẩn cấp hay bất khả.

Kính xin các cơ quan truyền thông, báo chí giúp đỡ chuyển vận Lời kêu gọi này của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất đến các giới đồng bào trong và ngoài nước.

Thanh Minh Thiền viện, Saigon ngày 29-3-2009

Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống

Kiêm Viện trưởng Viện Hóa Đạo

(ấn ký) Sa môn Thích Quảng Độ

Thư Lên tiếng kêu cứu
Tổ chức Văn hoá và Nghệ thuật Champa Quốc tế
The Champa International Arts & Culture
30-03-2009

Canada 30-03-2009

Kính gởi

Quý vị Lãnh đạo các Tôn Giáo,

Quý vị Lãnh đạo các Đoàn Thể trên thế giới,

Cùng toàn thể Đồng bào trong và ngoài nước,

Thưa quý vị,

Tôi xin đại diện dân tộc Chăm trong và ngoài nước, một trong những dân tộc thiểu số sống trên đất nước Việt Nam.

Lên tiếng cực lực phản đối về vấn đề Nhà Nước Cộng Hoà Xã Hội Việt Nam, đã ký thác cho Trung Quốc khai thác quặng BAUXITE tại các vùng Cao Nguyên Trung Phần Miền Nam Việt Nam. Hành động này đã làm hoang mang kinh sợ, gây xáo trộn đời sống của người dân tộc thiểu số chúng tôi ở các vùng cao và những miền đồng bằng hiện nay.

Đây là một việc làm thiếu suy xét, vô trách nhiệm, không đạo đức. Có phải đây là đường lối và chính sách diệt chủng của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số?

Kính thưa quý vị,

Sự lên tiếng của chúng tôi hôm nay được xem như những lời kêu cứu của Đồng bào dân tộc thiểu số đang trong tình trạng vô cùng khủng hoảng và cần sự tiếp sức của mọi giới, mọi đoàn thể trên thế giới lên tiếng kêu gọi phía Nhà Nước Cộng Sản Việt Nam cần phải ngưng ngay việc làm này ở các vùng nói trên vì hậu quả của việc khai thác Bauxite:

1/- Làm ô nhiễm môi trường không khí, đất, nguồn nước mặt và nước ngầm;

2/- Xáo trộn đời sống kinh tế, văn hoá và xã hội của dân tộc thiểu số;

3/- Xâm phạm đất đai của Tổ tiên Dân tộc Thiểu số.

Nếu nhà Nước Cộng Sản Việt Nam tiếp tục việc khai thác, tương lai vùng cao nguyên Trung Phần Việt Nam sẽ có nhiều xáo trộn và có thể sẽ không tránh khỏi sự đổ máu do sự vùng dậy của chúng tôi.

Trân trọng

Ca sĩ Chế Linh
Chủ Tịch Tổ Chức Văn Hoá và Nghệ Thuật Champa Quốc Tế
70 Hilldale Rd Toronto, Ontario, M6N 3Y2 Canada.
Email : ciacweb@gmail.com

III- TIN TỨC, NHẬN ĐỊNH

Tiếng kêu cứu của núi rừng

Lm. Vĩnh Sang 12-03-2009

Quý độc giả Ephata và Công Giáo Việt Nam thân mến,

Báo Saigon Tiếp Thị số 22 ra ngày thứ Sáu 6-3-2009, nơi trang 36 có đăng bài “Chuẩn bị khời công nhà máy luyện Oxid nhôm” của tác giả Bảo Ngọc. Bài báo được nhấn mạnh (in chữ to) bởi một đoạn như sau : «Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ (thuộc Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam TKV) đã hoàn tất việc san ủi mặt bằng chuẩn bị khởi công nhà máy luyện oxid nhôm tại xã Nhân Cơ (huyện Đak R’lap), với diện tích 200 hecta. Các hạng mục phụ trợ khác như đường vào nhà máy, khu nhà điều hành, … cũng đã hoàn thành».

Với thông tin này, bài báo cho thấy người ta chính thức khẳng định quyết tâm thực hiện dự án khai thác quặng bô-xít vùng Tây Nguyên, bất chấp dư luận và bất chấp phản biện xã hội, cho dù các phản biện đó có căn cứ khoa học và văn hóa. Khai thác quặng bô-xít tại Tây Nguyên, người ta cố tình thực hiện một cuộc tàn phá hủy diệt môi trường sống của muôn loài, trong đó có loài người, có một chủng tộc con người mang tên Việt Nam.

Không thể biện minh bằng lợi nhuận kinh tế, bởi các nhà kinh tế và khoa học đã chỉ ra rằng không có lợi nhuận cho quốc gia về phương diện kinh tế, ngược lại còn làm thiệt hại kinh tế do lượng điện, lượng nước tiêu thụ quá lớn nhưng giá thành của thành phẩm trên thế giới qua rẻ. Theo dõi các phản biện được công khai phát biểu, chúng ta không hiểu nổi tại sao người ta lại quyết định như thế nếu người ta còn lương tri.

Không thể tin được qui trình được vạch ra trên giấy mà có thể áp dụng trong thực tế. Người ta biện minh bằng qui trình rằng, làm vệ sinh mặt bằng (khai thác gỗ), bóc lớp đất mặt để qua một bên, khai thác lớp quặng bên dưới, sau đó lấp lại lớp đất mặt, bón thêm phân để phục hồi đất và tái trồng cây phủ xanh mặt bằng. Tin được không ? Con nít cũng không tin được. Họ làm như họ đào một khoảng đất vài mét và làm hoàn chỉnh ngay trong ngày. Mà ngay cả làm trong một phạm vi nhỏ bé như vậy, họ có bao giờ làm đàng hoàng đâu. Cứ xem ba cái lô cốt trong thành phố này, hết ngày này qua ngày khác, rào lại để hạn chế đường giao thông, vắng tanh không một người thợ làm việc, cứ vậy năm này qua tháng khác (báo Tuổi Trẻ số ra ngày thứ hai 9-3-2009 thông tin nơi trang 3: có 194 lô cốt trên 72 tuyến đường). Mà nếu có cái nào làm xong, thì hãy chạy một vòng để xem cách họ tái tạo mặt bằng: nham nhở như gương mặt nham nhở của những kẻ vô lương tri. Tội nghiệp ! Báo ra ngày hôm nay (Phụ Nữ thứ ba 10-3-2009) đăng tin về một người con gái tuổi còn rất trẻ (22 tuổi), đã trượt ngã xe vì mặt đường tái tạo không hoàn chỉnh, chiếc xe sau chồm tới cán chết em tại chỗ. Đau xót làm sao ! Biết tin này, nhưng kẻ có trách nhiệm có thấy một chút gì ân hận không? Tôi nghĩ là không, vì nếu có thì đã bao nhiêu cái chết thương tâm trước đó do cách làm cẩu thả phải làm cho họ thay đổi cách làm việc đi chứ, đâu cứ mãi như vậy.

Họ rẻ rúng mạng con người quá, chỉ biết lợi nhuận dành cho họ, bất chấp hậu quả tai hại như thế nào để lại cho người khác gánh chịu. Tôi không tin và tôi chắc rằng rất nhiều người không tin vào lời cam kết theo qui trình để tái tạo mặt bằng của những người chủ trương khai thác quặng oxid nhôm.

Khi khai thác, họ có tính đến việc những cơn mưa ở đầu nguồn sẽ đổ xuống không ? Họ có biết những cơn mưa lũ đầu nguồn sẽ gây ra những tai hại gì khi đống đất dở dang đang được bóc ? Hay họ sẽ “vắt đất thay trời làm mưa, nghiêng đồng đổ nước ra biển”? Có thể lắm, xưa nay họ vẫn chủ trương như vậy mà! Nếu vậy kinh nghiêm “chống bão, chống lũ, chống lụt, chống… cả trời đất” bao nhiêu năm nay sẽ dạy họ thêm bài học nào nữa ? Bao nhiêu người dân vô tội, của cải ruộng vườn, cơ nghiệp... sẽ chịu thiệt hại để trả giá cho bài học kiêu ngạo ?

Làm sao để bóc tách được oxid nhôm ra khỏi quặng thô ? Sẽ phải dùng bao nhiêu nước, bao nhiêu điện cho công việc này ? Ngay đầu nguồn, nước bị tận dụng vào khai thác quặng, mạch nước ngầm cũng như không ngầm sẽ ra sao ? Số phận của bao nhiêu gia đình miền xuôi cuối nguồn nước sẽ ra sao ? Ngay bây giờ đã thiếu nước sạch sinh hoạt, khai thác quặng ở đầu nguồn thì thiếu cái gì ? Mấy ngày nay trời chưa khô điện đã thiếu, “mấy ông lớn” đổ lỗi cho nhau, chỉ người dân nghèo chịu… chết, các ông vẫn nằm phòng máy điều hòa không khí, vẫn ngồi xe máy lạnh và vẫn đổ bia đổ rượu để trầm mình trong các cuộc truy hoan “vì công vụ”!

Để bóc tách quặng có dùng hóa chất không ? Các nhà chuyên môn bảo rằng có, mà là hóa chất cực độc. Vậy thì những dòng hóa chất thải ra len lỏi đến tận đâu, có thấm vào thịt đất không ? Có tràn vào các dòng sông dòng suối không ? Ai bảo đảm rằng ngăn chặn được dòng chảy này ? Ai bảo đảm rằng không thấm vào thịt đất ? Ai bảo đảm được xin trả lời cho công luận. Công trình hầm Thủ Thiêm, hàng chục chuyên gia, bao nhiêu máy móc tối tân, những bài tính được xây dựng bằng những phương pháp hiện đại, chọn lựa vật liệu rất kỹ lưỡng, thử nghiệm thiết kế cấp phối trước khi thi công, xay đá cục lạnh trộn vào để chống tăng nhiệt, tính toán phụ gia, hàng trăm cán bộ giám sát, thi công thử nghiệm mô hình thu nhỏ... Thế mà 4 đốt hầm vượt sông Sài Gòn sang Thủ Thiên bị … nứt thê thảm !

Hóa chất tràn lan. Vụ án chất độc màu da cam còn có Mỹ để kiện, chất độc từ việc khai thác quặng này kiện ai ? Cứ xem vụ án Vedan thì biết người dân sẽ kiện được ai ? Nửa năm trôi qua của vấn đề, hàng chục năm đi qua trong thiệt hại, các chủ nhân ông vẫn sống nhởn nhơ, vẫn tiếp tục sản xuất, vẫn tắm bia tắm rượu. Cả một guồng máy công quyền hùng mạnh bách chiến bách thắng đứng cãi nhau, báo chí càng la to, sức ì càng lớn, rồi đây khi “cứt trâu hóa bùn”, nhặt vài anh “to miệng” ra tòa là xong mọi chuyện ! Đất nước này, người dân này oằn mình chịu khổ đau.

Một bộ phận rất lớn người anh em miền núi làm nên dân tộc Việt Nam, cuộc sống của những bộ tộc này gắn liền với núi rừng, rừng là nhà để sống, âm thanh của rừng là tiếng nhạc cồng chiêng. Ba mươi năm trước, cuộc di dân ồ ạt lên Tây Nguyên, biết bao nhiêu hecta rừng đã bị đốn sạch, rừng cạn kiệt, thú rừng cạn kiệt, người anh em miền núi thoi thóp sống, lẻ tẻ một vài thú rừng còn sót lại điên cuồng phá phách để chết. Bài học đó vẫn còn sờ sờ trước mắt, nhưng người ta nhắm mắt lại để tận diệt rừng, hóa ra rừng như là “kẻ thù” của họ vậy ! Tội nghiệp rừng, rừng vẫn từng che chở nuôi sống họ, bây giờ họ tự sống được rồi, rừng không còn cần nữa.

Chúng ta đọc được trong học thuyết xã hội của Giáo gội Công giáo các hướng dẫn sau đây có liên quan đến nỗi đau mà chúng ta đang gánh chịu (sách Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Ủy ban Bác ái Xã hội, Nhà xuất bản Tôn giáo, xuất bản quí 4 năm 2007, có bán tại các nhà sách công giáo).

(470) Các chương trình phát triển kinh tế cần phải cẩn thận lưu ý tới “nhu cầu tôn trọng sự tòan vẹn và chu kỳ tuần hoàn của thiên nhiên”, vì các tài nguyên thiên nhiên thì có hạn, thậm chí có một số tài nguyên không thể tái tạo được.…

(471) Mối quan hệ của những dân bản địa với đất đai của họ và tài nguyên là một điều rất đáng chú ý, vì đó là cách biểu hiệu cốt yếu nhất bản sắc của họ. Vì những nguồn lợi lớn lao về công – nông nghiệp hay vì tiến trình đồng hóa và đô thị hóa quá cao, nên nhiều người trong số các dân tộc này đã đành để mất hay liều mất đất đai mà họ đang sống trên đó, những mảnh đất đã từng gắn chặt với ý nghĩa cuộc đời họ. Quyền lợi của các dân bản địa cần phải được bảo vệ một cách thích đáng. Các dân tộc này cho ta một điển hình về đời sống hài hòa với môi trường mà họ đã rất quen thuộc và đã bảo tồn bấy lâu nay. Kinh nghiệm đặc biệt của họ, vốn là nguồn di sản tinh thần không thể thay thế được cho toàn thể nhan loại, đang có nguy cơ bị đánh mất cùng với môi trường đã khai sinh ra họ.

Không phải Giáo hội không có lập trường của mình về các vấn đề xã hội, đặc biệt là môi trường trong tương quan với con người. Bây giờ phải làm sao ?

Lm. Vĩnh Sang, Dòng Chúa Cứu Thế

Mùa Chay 03-2009

Tây Nguyên trong thế gọng kìm

Trần Quốc Hiên 14-03-2009

Vị trí chiến lược của Tây Nguyên

Trong các Hồi ký, tướng Giáp từng nhận xét về vị trí chiến lược của Tây Nguyên: Tây Nguyên nằm ở Nam Trung Bộ, nối liền 2 miền Bắc Nam của đất nước, tiếp giáp với Hạ Lào và Bắc Campuchia, có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên chiến trường Đông Dương. Nếu còn tham vọng chiếm Đông Dương, địch không thể để mất địa bàn chiến lược cực kỳ lợi hại này”… “Nhiều nhà quân sự, cả ta và địch, đều nói nắm được Tây Nguyên là khống chế được toàn bộ chiến trường miền Nam Đông Dương. Đây là mái nhà của miền Nam bán đảo Đông Dương”.

Sự thật, Tây Nguyên có vị trí chiến lược đặc biệt về quân sự, quốc phòng hơn là về phát triển kinh tế; đây là vùng cao nguyên trải dài nằm tiếp nối với dãy Trường Sơn hùng vĩ, tạo thành một bức tường thiên nhiên liên hoàn, hiểm trở. Quá trình Nam tiến của nhiều thế hệ người Việt gắn liền với việc khai mở tuyến đường mòn Trường Sơn, vượt qua dãy Hải Vân tiến vào kiểm soát Tây Nguyên, làm chủ cả vùng Nam Trung Bộ, rồi Nam Bộ, và tiến ra Biển Đông đóng giữ tại quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Sau này, người Pháp, người Mỹ cũng nhận thức được vị trí chiến lược của Tây Nguyên: nơi đây là vị trí “yết hầu”, “tử huyệt” của cả nước, là “mái nhà của Đông Dương”.

Như vậy, với nhãn quan chiến lược, tướng Giáp và Bộ thống soái tối cao Cộng sản Bắc Việt đã lựa chọn Tây Nguyên là trận quyết chiến chiến lược. Chiến dịch Tây Nguyên làm rung chuyển chiến trường miền Nam, tạo thế chia cắt mạnh mẽ, mang đến thời cơ mở chiến dịch Huế - Đà Nẵng, rồi tiếp đó mở cuộc tấn công vào Sài Gòn làm tan rã hoàn toàn quân đội Việt Nam Cộng Hòa.

Trường Sơn, Tây Nguyên và Biển Đông có vị trí chiến lược quan trọng như vậy, và tập đoàn bành trướng Cộng sản Trung Quốc biết rất rõ điều này, do đó năm 1975, họ đề nghị được viện trợ cho Việt Nam 2000 xe vận tải vào Trường Sơn, nhưng phải cho 500 lái xe người Trung Quốc đi cùng.

Theo lời bà Bẩy Vân, vợ của cố Tổng bí thư Lê Duẩn trả lời phỏng vấn đài BBC, thì khi ấy ông đã nói dứt khoát: “Một thằng tôi cũng không cho… Nó nói đưa người vào giúp ta, nhưng thực chất là muốn đưa dân vào lập làng, lập huyện người Tàu ở Trường Sơn và Tây Nguyên. Nắm được Trường Sơn và Tây Nguyên là khống chế được toàn Đông Dương”.

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN

Trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 12/2001, ông Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ra tuyên bố chung: “Hai bên nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắk Nông. Tiếp đó, ông Nông Đức Mạnhtrong chuyến thăm Trung Quốcngày 30-5 đến 2-6-2008, tái khẳng định qua tuyên bố chung: Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như bô-xít Đắk Nông…”. Điều này được ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đảm bảo chắc chắn: Khai thác bô-xít Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong Nghị quyết đại hội X của Đảng, Bộ Chính trị đã nghe và kết luận về phát triển bô-xít Tây Nguyên. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bô-xít Tây Nguyên...”.

Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN đã mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc, dự kiến có khoảng 20 ngàn công nhân Trung Quốc sẽ vào làm việc tại Tây Nguyên. Cùng đi với đoàn người Trung Quốc đó, sẽ có các chuyên gia, kỹ sư, quản lý, đặc biệt là sự có mặt của các An ninh mật và Gián điệp Trung Quốc. Cũng không loại trừ khả năng các Công ty quân đội TQ đưa người vào Tây Nguyên.

Các dự án này đang được triển khai gấp rút, trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường, đến nay lượng người TQ vào Tây Nguyên tiếp tục tăng nhanh mỗi ngày. Cùng với đó, để đẩy nhanh tiến độ dự án, tỉnh Đắk Nông đang gấp rút chuẩn bị khởi công nhà máy luyện quặng bô-xít.

Cũng như những chủ trương lớn trước đây của Đảng và Nhà nước CSVN, chẳng hạn việc phá bỏ Hội trường Ba Đình, mở rộng Hà Nội gấp hơn 3 lần… thì nay chủ trương mở đường cho hàng vạn người Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác bô-xít nhôm đã gây ra phản ứng rất mạnh mẽ từ dư luận xã hội; nhiều ý kiến phản đối kịch liệt từ giới khoa học, trí thức, tướng lĩnh quân sự, cựu chiến binh, và đặc biệt là người dân sống ở Tây Nguyên, những người trực tiếp bị ảnh hưởng xấu về môi trường sống và cơ hội làm việc.

Trong thư gửi Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng hôm 5-1-2009,Tướng Giáp đã nói rõ: Việc xác định chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị Thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên…”.

Mới đây, báo điện tử VietnamNet có đăng bài phân tích của 2 chuyên gia quân sự, Đại tá Nguyễn Huy Toàn, chuyên gia lịch sử quân sự và ông Quách Hải Lượng, chuyên gia Viện nghiên cứu Chiến lược Quân sự, nêu ý kiến: “Khu vực này (Tây Nguyên) rất không nên đưa bất cứ một người nước ngoài nào vào khai thác, vì đây là địa chính trị, địa kinh tế và địa quân sự rất nhạy cảm. Ta phải biết cách bảo vệ và gìn giữ “yếu huyệt” này. Nếu chỉ vì lợi ích trước mắt, chúng ta sẽ có tội với thế hệ mai sau”.

Trung Quốc là nước đang đói khát tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là nhôm dùng cho ngành công nghiệp quốc phòng, chế tạo vũ khí tối tân. Họ đã vào đến Tây Nguyên, vùng đất giàu có tài nguyên, không chỉ có bô-xít nhôm, mà còn nhiều loại khoáng sản quý hiếm khác.

Môi trường Tây Nguyên sẽ bị tàn phá nặng nề; văn hóa Tây Nguyên sẽ bị đe dọa nghiêm trọng; người dân Tây Nguyên sẽ bị xáo trộn cuộc sống, nơi ở; an ninh quốc phòng tại Tây Nguyên sẽ bị sơ hở, rối ren… nhưng đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước CSVN.

Thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc

Vừa qua, hai Nhà nước Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về việc hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên toàn tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc, đúng thời hạn mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận là kết thúc trong năm 2008...! Vào hạn chót đó, Cộng sản Việt Nam đã buộc phải chấp nhận nhượng bộ, để mong được yên ổn biên giới phía Bắc.

Có người cho rằng việc cắm mốc biên giới lần này là một “bức tường thành văn minh” ngăn chặn quân bành trướng phương Bắc. Nhưng đây chỉ là biên giới cứng ! Sự thật ảnh hưởng của Trung Quốc đã mở rộng “biên giới mềm” đến toàn bộ Việt Nam và Đông Dương: Họ đã chiếm lĩnh các cao điểm lợi hại ở dọc biên giới phía Bắc nước ta, tiến vào vị trí “tử huyệt” ở Tây Nguyên. Tại Biển Đông, hải quân Trung Quốc vẫn đang hoành hành, đe dọa, khiêu khích các Tàu nước ngoài đi vào vùng biển này…

Khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc cho xây dựng căn cứ quân sự, cơ sở hạ tầng, sân bay, tiến hành tập trận và khai thác du lịch. Còn tại quần đảo Trường Sa, sau khi đánh chiếm 6 đảo do quân đội Cộng sản Việt Nam đóng giữ (năm 1988), họ cho xây dựng các cơ sở quân sự và vận tải trên các hòn đảo này. Trung Quốc cũng đánh chiếm đảo Đá Vành Khăn (Mischief Reef) từ tay Philippines vào đầu năm 1995, đặt ở đây chiến hạm, và sử dụng nơi này để yểm trợ các chiến dịch hải quân; kiểm soát huyết mạch giao thông trên biển.

Cùng với việc thành lập Thành phố Tam Sa, thuộc tỉnh Hải Nam, trực tiếp quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc ưu tiên tăng cường cho Hạm đội Nam Hải thành lực lượng hải quân hùng mạnh nhất; quân chủ lực tinh nhuệ, hùng hậu nhất của hải quân Trung Quốc đều thuộc Hạm đội Nam Hải, cho thấy chiến lược của họ là Nam tiến.

Theo nhiều nguồn tin, Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ hải quân rất lớn ở gần thành phố Tam Á, phía Nam đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Việt Nam 200 km; đây là một căn cứ trọng yếu cho các tầu ngầm nguyên tử và hàng không mẫu hạm.

Nhờ căn cứ hải quân lợi hại này, quân đội Trung Quốc sẽ dễ dàng kiểm soát vùng Biển Đông và các tuyến đường hàng hải trong khu vực, đồng thời tranh giành ảnh hưởng với Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ.

Gần đây, hải quân Trung Quốc đang có những bước đi mang tầm chiến lược, khiến Mỹ đặc biệt quan tâm. Các hành động này cho thấy Trung Quốc đang từng bước thay đổi từ chiến lược "phòng ngự biển gần", chuyển sang hướng phát triển "hải quân viễn dương"; với lực lượng hải quân hùng mạnh, đủ sức tác chiến tại vùng biển xa.

Cộng sản Trung Quốc đang có tham vọng chiếm đoạt Biển Đông, chờ đợi thời cơ chiếm nốt quần đảo Trường Sa. Mục đích của họ rất rõ ràng: tấn công quân sự quy mô nhỏ; thực hiện đơn phương thăm dò và khai thác tài nguyên trên vùng biển tranh chấp; bắn giết, bắt giữ các ngư dân, ngăn chặn các đối thủ tiến hành khai thác tài nguyên ở vùng biển tranh chấp; chia rẽ các nước trong khu vực ASEAN bằng kinh tế và ngoại giao; tuyên truyền về chủ quyền và thái độ cứng rắn của họ đối với vấn đề Biển Đông trên toàn thế giới.

        Nếu tại Tây Nguyên, Trung Quốc bí mật cho xây dựng căn cứ quân sự, thiết lập đường tiếp tế từ Lào và Campuchia, cùng lúc đưa dân Trung Quốc vào lập làng, lập huyện ở đây núp dưới vỏ bọc “khai thác bô-xít nhôm”, khi đó Việt Nam sẽ hoàn toàn nằm trong thế trận bao vây chiến lược của Trung Quốc.

Tây Nguyên trong thế gọng kìm

Về mặt chiến lược, nếu nắm được địa bàn Tây Nguyên, làm chủ vùng Bắc Tây Nguyên, thì sẽ dễ dàng đánh chiếm 2 thành phố lớn là Huế - Đà Nẵng, cắt đôi nước Việt Nam tại đây. Điều này không khó, khi mà Trung Quốc có căn cứ quân sự ở Bắc Tây Nguyên, gần ngã 3 Đông Dương, nơi tiếp giáp với Lào và Campuchia.

Họ đã có căn cứ Tam Á hùng mạnh ở đảo Hải Nam, chỉ cách bờ biển Huế - Đà Nẵng 200 km, phạm vi hoạt động lý tưởng của tàu ngầm và chiến hạm. Quá trình xây dựng căn cứ này được tiến hành song song với việc Trung Quốc đề nghị thúc đẩy hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Tây Nguyên, nó cho thấy rõ ý đồ muốn biến Tây Nguyên thành căn cứ quân sự của Trung Quốc. Hai căn cứ quân sự này sẽ tạo thành thế trận gọng Kìm vô cùng lợi hại nhắm vào Huế - Đà Nẵng.

Trong thế trận bao vây chiến lược, cùng với thế trận gọng kìm, đất nước sẽ đứng trước nguy cơ bị chia cắt, rơi vào một cuộc nội chiến vô cùng tàn khốc; đây sẽ là cuộc chiến đẫm máu hủy diệt giống nòi Lạc Hồng, được sự hậu thuẫn, giật dây của bọn bành trướng Trung Quốc, nó đánh gục sức kháng cự của dân tộc ta mãi mãi. Đây là thời cơ để Trung Quốc thôn tính Biển Đông, khống chế Việt Nam, Đông Nam Á và một phần Đông Bắc Á, hoàn thành mộng bá chủ, trở thành mối đe dọa cho hòa bình trên thế giới.

Làm cho Việt Nam suy yếu, ép nước ta theo “quỹ đạo” trở thành “chư hầu” quy phục Thiên triều Bắc Kinh, âm mưu thâm độc ấy của Trung Quốc được ngụy trang khéo léo dưới vỏ bọc “đồng chí XHCN”. Sách lược “đánh vào trái tim” bằng việc trói buộc “ý thức hệ Cộng sản”, từ đó khống chế mọi hành động của “đồng chí” Việt Nam, nhờ đó họ dễ dàng thực hiện các bước đi chiến lược, và đang tiến rất gần tới đích.

Không loại trừ khả năng họ mua chuộc lãnh đạo Đảng CSVN và dùng “mỹ nhân kế”, làm cho đối thủ mất cảnh giác, đắm chìm trong cuộc sống xa hoa hưởng lạc. Trải qua nhiều thế hệ lãnh đạo, và nay Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tạo thời cơ rất tốt cho họ tiến vào Tây Nguyên.

Cái bắt tay của hai Chính quyền Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc làm chúng ta nhớ lại bài học Mị Châu–Trọng Thủy từ hơn 2000 năm trước.

Bài học Mị Châu–Trọng Thủy

Tổ tiên ta đã sớm biết đoàn kết để giữ nước, chống ngoại xâm phương Bắc. Khi mà đất nước là của riêng kẻ cầm quyền, dòng họ, hay gia đình trị, không biết dựa vào dân để chống ngoại xâm, thì sẽ mất nước. Đó là bài học lịch sử to lớn đầu tiên từ truyền thuyết Mị Châu–Trọng Thủy.

Thục Phán An Dương Vương làm vua nước Âu Lạc, triều đại kế tiếp các Vua Hùng, ông cho xây thành Cổ Loa kiên cố và chế tác vũ khí Nỏ Thần lợi hại. Tần Thủy Hoàng bên Tàu cho quân sang xâm phạm, đã bị đánh thua. Triệu Đà, vốn là tướng Nhà Hán, dùng gian kế “cầu hòa”; xin cho con trai là Trọng Thủy kết duyên với Mị Châu con gái vua An Dương Vương, thực chất là cho người sang làm gián điệp nhằm phá hoại từ bên trong.

An Dương Vương đã mắc mưu kẻ địch, tưởng là gả con gái cho Bắc Triều, duy trì hòa hiếu thì giữ được ngôi báu. Do mất cảnh giác, lại bị đánh bất ngờ, An Dương Vương đã thua chạy, kết cục nước mất nhà tan, dân ta chìm đắm trong cảnh lầm than suốt 1000 năm Bắc Thuộc… Nàng Mị Châu bị vua cha chém đầu, còn Trọng Thủy vì nhớ vợ cũng gieo mình xuống giếng tự vẫn.

“16 chữ vàng” và “4 tốt” không bảo vệ được “ngôi báu” của Đảng CSVN; dựa vào CNXH đặc sắc Trung Quốc với “lý luận tương đồng, vận mệnh tương quan” để giữ Chế độ này lại càng sai lầm; cắt đất nhượng biển và bán bô-xít cho Trung Quốc cũng không thể mang lại yên ổn cho đất nước; lịch sử đã chứng minh chỉ có Dân chủ hóa, phát huy sức mạnh toàn dân, mới giữ được đất nước trọn vẹn.

Chúng ta không được để tấn bi kịch Mị Châu–Trọng Thủy sẽ tái diễn trong thời đại ngày nay. Vào thời điểm lịch sử này, chúng ta hiểu ra rằng để bảo vệ vững chắc nền Độc lập của đất nước, chỉ có duy nhất con đường tiến tới Dân chủ hóa.

Việt Nam, ngày 14-3-2009

Trần Quốc Hiên, Đảng Dân chủ Nhân dân

Kế hoạch khai thác bô-xít ở Việt Nam đào ra một hố sâu lo lắng

Duy Hoàng, Asia Times 17-03-2009,

Phan Lưu Quỳnh lược dịch

Một trong những khu vực xanh tươi nhất ở Việt Nam đang phải đương đầu với sự thiệt hại nghiêm trọng về sinh thái nếu nhà nước Việt Nam quyết định thi hành kế hoạch trị giá hàng tỷ đô la để khai thác và chế biến quặng bô-xít. Nhận thức về nguy cơ này đã khuấy động lên một sự phản đối kịch liệt rất hiếm khi xảy ra trong một xã hội hoàn toàn do chính phủ kiểm soát tại Việt Nam, với dân chúng, các khoa học gia, báo chí truyền thông quốc doanh, các blogger và thậm chí cả nhiều sĩ quan quân đội cũng đưa ra nhiều tiếng nói phản kháng.

Mặc dù rõ ràng là sự phản đối trên không được phối hợp với nhau, nhưng những ý kiến bất đồng chung của họ là một phần của phong trào bảo vệ môi sinh đang đâm chồi ở Việt Nam, được ghi nhận là có ý thử thách quyền hành của nhà nước vốn từ trước tới nay vẫn được coi là bất khả xâm phạm, trong việc thi hành các kế hoạch phát triển kinh tế có quy mô lớn.

Trong những tháng gần đây, một số các nhà khoa học trong nước đã viết nhiều bài nghiên cứu rất kỹ lưỡng, có vài bài được đăng trên các tờ báo do nhà nước kiểm soát, phơi bày ra nhiều yếu kém trong các kế hoạch khai thác quặng mỏ của chính phủ. Một trang web chuyên đăng tải tin tức trong nước được nhà nước thừa nhận, tuanvietnam.net, đã đi đầu trong việc tìm hiểu về đề tài này, trong khi các blogger đã đưa ra nhiều bài phân tích thậm chí còn nghiêm khắc hơn.

Thủ tướng Nguyễn Tân Dũng đã tuyên bố vấn đề khai thác quặng bô-xít là "một chủ trương lớn của đảng và nhà nước", đồng thời chấp thuận cho phép nhiều dự án khai thác quặng mỏ ở vùng cao nguyên trung phần Việt Nam. Kế hoạch chỉ đạo của nhà nước kêu gọi đầu tư khoảng 15 tỷ đô la cho đến năm 2025 để khai thác nguồn tài nguyên bô-xít giàu có, ước lượng đứng vào hàng thứ 3 trên thế giới.

Trong suốt thập niên qua, sự đi lên của Việt Nam như một nước xuất cảng nông phẩm đã trở nên lớn mạnh một phần là nhờ ở việc gia tăng trồng trọt cà phê và các loại cây hái ra tiền khác trên vùng cao nguyên màu mỡ ở Tây Nguyên. Ðây là một khu vực có cảnh đẹp tuyệt vời với tiềm năng dồi dào về du lịch sinh thái. Vì thế mà có nhiều người Việt Nam đang thắc mắc về sự hợp lý của lý do kinh tế được đưa ra và sự hiểu biết về môi sinh trong việc biến đổi một khu vực kinh tế đang phong phú thành một khu hầm mỏ lộ thiên.

Bô-xít được luyện thành quặng bô-xít tinh chế alumina qua một tiến trình rất độc hại, là nguyên liệu thô để chế biến ra nhôm. Chất thải ra, mà các nhà bảo vệ môi sinh gọi là "bùn đỏ", nếu không được xử lý chu đáo, có thể gây ô nhiễm cho nguồn nước cung cấp và làm tiệt giống cây cỏ. Theo các chuyên gia quốc tế thì cứ mỗi tấn alumina sản xuất, thì có 3 tấn bùn đỏ được thải ra.
Úc Ðại Lợi, là một quốc gia đứng hàng đầu thế giới về sản xuất nhôm, đã giải quyết vấn nạn này bằng cách bỏ chúng ở những vùng sa mạc hoang vu xa xôi hẻo lánh, nơi có ít mưa, do đó giảm bớt đi nguy cơ làm nhiễm bẩn nguồn nước. Trong khi đó, Việt Nam là nước có khí hậu ẩm ướt với một dân số đông đúc, không có cái xa xỉ của những dải đất dài rộng lớn không xử dụng tới như nước Úc.

Hơn nữa Việt Nam chưa được thừa nhận là nước có trình độ chuyên môn về mặt xử lý các chất thải công nghiệp nguy hiểm. Phong trào bảo vệ môi sinh vừa xuất hiện tại Việt Nam lo ngại rằng các chất cặn bã độc hại thải ra từ quá trình chế biến quặng bô-xít có thể chảy vào các dòng sông trôi qua các khu vực đông dân cư, trong đó có vùng đồng bằng sông Cửu Long ở phía Nam.
Ðể có hiệu quả về thương mãi, quá trình chế biến quặng bô-xít thường đòi hỏi phải có nguồn cung cấp điện lực rẻ tiền. Vì Việt Nam đang phải đối diện với sự thiếu hụt điện ngày càng chồng chất, khả năng kinh tế của việc khai thác bô-xít và lợi nhuận xuất cảng thấp đang còn trong vòng nghi vấn và có lẽ sẽ cần nhà nước tài trợ chỉ để bù đắp các cho các chi phí.

Nhà nước đã thông báo kế hoạch xây dựng một tuyến đường sắt dài 250 cây số dành riêng cho việc chuyên chở thành phẩm của quặng bô-xít tinh chế alumina đến bờ Thái Bình Dương. Một hải cảng hiện chưa được xây dựng, sẽ được đưa vào để phục vụ chuyên biệt cho dự án bô-xít này.

Những dự án này cũng nhấn mạnh đến nhiều mối quan tâm về môi sinh, rằng các kế hoạch xuất cảng alumina của nhà nước là một chương trình èo ọt được đẻ ra chỉ đơn giản nhằm mục đích lên kế hoạch tuyên truyền cho công cuộc công nghiệp hoá của họ. Các nhà phê bình khác thì thắc mắc không biết các cán bộ viên chức thân cận với Thủ tướng Dũng và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có phần chia chác cá nhân nào trong lãnh vực kinh doanh rất tốn kém này hay không.

Yếu tố Trung Quốc

Cũng có một tầm mức chiến lược nhạy cảm đối với vụ làm ăn này. Sự quan tâm và hợp tác của Trung Quốc về kỹ nghệ khai thác bô-xít ở Việt Nam đã được thể hiện qua một thông cáo chung đưa ra hồi tháng Sáu năm ngoái sau một cuộc gặp gỡ giữa Tổng bí thư Nông Ðức Mạnh và Chủ tịch Hồ Cẩm Ðào. Theo sau các hợp đồng giữa Tập đoàn Nhôm Trung Quốc và Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, thì vấn đề đã trở nên rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ là thị trường chủ yếu cho ngành xuất cảng alumina của Việt Nam.

Là một phần của sự sắp xếp trên, hàng ngàn công nhân Trung Quốc sẽ được bố trí thường trực tại Việt Nam để phụ giúp việc sản xuất, theo giới thẩm quyền Việt Nam cho biết. Trong một chuyến đi tìm hiểu mới đây đến tỉnh Lâm Ðồng do Ðảng Việt Tân thực hiện, thì con số công nhân Trung Quốc đang xuất hiện ngày càng gia tăng ở vùng Tây Nguyên. Hình ảnh do Đảng Việt Tân thu thập được cho thấy hàng dẫy nhà ở mới xây dành riêng cho công nhân Trung Quốc và nhiều cửa tiệm ăn uống bên đường có bảng hiệu bằng tiếng Trung Hoa.

Các blogger Việt Nam, nhiều người đã chỉ trích việc Trung Quốc xâm lấn hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với nhiều nhận thức cho rằng Bắc Kinh đã ép buộc Hà Nội phải chấp nhận thi hành một hiệp định biên giới bất bình đẳng trong năm nay, đã đặt ra nghi vấn tại sao lại cần phải có công nhân Trung Quốc trong một quốc gia có lượng lao động thặng dư và nạn thất nghiệp đang gia tăng như Việt Nam.

Các blogger cũng bày tỏ mối quan tâm về việc nhân viên tình báo cũng như quân sự Trung Quốc có thể bí mật trà trộn vào cùng với công nhân của họ. Tướng Võ Nguyên Giáp, một nhà lãnh đạo quân sự cộng sản có tên tuổi và sau này đôi khi có lên tiếng phê phán chính phủ, đã tương tự lên tiếng báo động về khả năng tiềm ẩn của mối đe dọa chiến lược của các công nhân Trung Quốc nếu không được quản lý chặt chẽ theo luật định, trong một lá thư ngỏ gởi đến Bộ chính trị hồi tháng Giêng.

Ông Giáp, nay đã 97 tuổi, nhắc nhở đến vùng Tây Nguyên như một cửa ngõ chiến lược vào Việt Nam, là nơi mà các cuộc chiến trước đây được quyết định thắng thua qua việc giành được quyền kiểm soát vùng đất cao trong khu vực. Một tháng sau lời cảnh báo của ông Giáp, chỉ có một tờ báo duy nhất ở Việt Nam sẵn sàng đăng tải, lại có thêm một viên tướng đã về hưu thứ hai, đưa ra một lá thư tương tự nhằm kêu gọi giới lãnh đạo đảng hãy xem xét lại việc cho phép người Trung Quốc được có mặt thường xuyên ngay giữa lòng đất nước.

Hầu hết các sắc dân thiểu số Việt Nam đều sinh sống ở Tây Nguyên, và họ là những người sẽ phải mang một gánh nặng về môi sinh do chương trình khai thác quặng bô-xít của nhà nước gây ra. Họ có nguy cơ sẽ bị mất mát đất đai mà chỉ được bồi thường chút ít hoặc không được bồi thường, và bị đặt vào tình trạng hiểm nghèo do việc thiếu quản lý các chất thải công nghiệp.

Cũng không hiểu là các công ăn việc làm được tạo ra từ việc khai thác quặng bô-xít, ngay cả khi nếu các công việc đó được trao cho người dân địa phương thay vì cho công nhân Trung Quốc, có sẽ đủ không để thay thế cho những ngưòi bị mất việc vì bắt buộc phải phá bỏ các đồn điền trà, cà phê và hạt điều đang tồn tại để lấy mặt bằng khai thác bô-xít. Ðó là điều từ những kế hoạch được đề ra một cách vội vã của chính phủ khiến cho phong trào bảo vệ môi sinh trong quần chúng phải lên tiếng cùng với nhiều lời kêu gọi cho sự phát triển có khả năng chịu đựng và ít bị ảnh hưởng đến môi sinh hơn, đang được mọi người nghe thấy.

Tình thế khẩn cấp: Tiếng thét : ngừng ngay lại! Bô-xít stop !

Bùi Tín 20-3-2009.

Không thế thế được ! Đất nước này là của hơn 80 triệu con người bình đẳng. Việt Nam không phải của riêng 15 người. 

Người ta hẹn sẽ sớm tổ chức hội nghị khoa học thảo luận kỹ về khai thác bô-xít. Vậy mà hàng trăm xe ủi, xe ben, xe tải vẫn chạy ầm ầm ở huyện Đắk Nông; mặt bằng tuần trước là 50 héc-ta, nay đã là hơn một trăm héc-ta đỏ chót. Mới đó, người Trung quốc lạ lẫm mới có đó 500, nay đã hơn 1 nghìn, sắp vọt lên 6 ngàn.

Ông Nguyễn Phú Trọng vào tận nơi đốc thúc, còn mớm cho xã và huyện rằng: "Chính quyền địa phương kiến nghị (!) với Quốc hội và Chính phủ sớm khai thác bô-xít". Họ đang mở tốc độ thi đua với thời gian, làm việc đã rồi. Để không lùi được nữa. Nhưng không được !

Bức thư tâm huyết của chiến sỹ - nhà văn - nhà báo Phạm Đình Trọng gửi cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không chút hồi âm, nhưng được truyền ngay khắp cả nước và ra nước ngoài, được đồng cảm rộng rãi, khơi dậy vô vàn dòng nước mắt thương xót của con em nước Việt; sau những phân tích có tình có lý của nhà khoa học Nguyễn Trung, của nhà văn hoá Nguyên Ngọc, là bài luận văn của cán bộ cốt cán trong cuộc tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng thuộc Tổng công ty Than-Khoáng sản Việt Nam, chứng minh rằng lao vào khai thác bô-xít là lao vào một sai lầm kinh tế-chính trị-tài chính-văn hóa-môi trường khổng lồ, kinh khủng, không có thể sửa chữa, vớt vát được. Ông Sơn phản biện từng điểm một, để kết luận như đinh đóng cột rằng đây là một cuộc phiêu lưu liều lĩnh, nuôi quá nhiều tham vọng, không dựa trên cơ sở thực tế nào, mang quá nhiều rủi ro và bất cập, không có nước nào, không có một ai làm như ta; thật "không giống ai". Chuyên gia vật lý Phạm Duy Hiển cũng có bài phản biện khoa học có giá trị.

Ở ngay vùng Đắk Nông, thày giáo cấp 3 Y-Long người dân tộc M'Nong, chiếm 40% dân trong huyện, tỏ rõ thái độ lo lắng, băn khoăn rằng dân địa phương không có lợi gì từ khai thác bô-xít, sẽ không có công ăn việc làm, các vườn cao su, chè, càphê, tiêu trù phú... sẽ biến trong bùn đỏ độc hại. Đồng bào các dân tộc trước nguy cơ lớn. 

Làm gì bây giờ ? Khoanh tay chăng ? Thúc thủ chăng ? Chịu chết cả hay chăng ? Các bạn từ Hà nội, Hải phòng, Đà lạt, Vũng tàu, Sài gòn tới tấp gọi nhau, và gọi cho bà con bạn bè ở Mỹ, Canada, ở Pháp, Đức, Balan, khuyến khích nhau : phải làm gì chứ, khẩn cấp lắm rồi, không còn có thể nói xuông nữa.

Và xin tập họp ý kiến và đề xuất với đồng bào ta ở mọi nơi.

- Hãy thông tin thật rộng rãi những bài thư, luận văn, thơ thời sự của Ts Nguyễn Thành Sơn, của ông Nguyễn Trung (người đã vào tận Đắk Nông để nghiên cứu), của nhà văn Nguyên Ngọc, nhà báo Phạm Đình Trọng, nhà khoa học Phạm Duy Hiển, chuyên gia môi trường Mai Thanh Truyết ở Nam Cali (Mỹ), nhà thơ Hà Sỹ Phu (với chùm thơ đả kích cổ vũ, thôi thúc); và nhiều bài trên các mạng, các báo Tổ quốc, Tự do Ngôn luận, Tự do Dân chủ, Tuổi Trẻ, VietnamNet... về chuyên đề bô-xít đang nóng bỏng. Rất mong các bạn trẻ trong nước, ở các trường đại học, các trường phổ thông cấp 3 in ra nhiều bản để tán phát.

- Nên in rất nhiều truyền đơn bằng máy điện toán, những khẩu hiệu, như :

+ toàn dân, xiết chặt hàng ngũ, nói KHÔNG với bô-xít !
+ hãy tổ chức hội thảo khoa học về bô-xít đã !
+ quốc hội cần thảo luận kỹ, bỏ phiếu kÍn "nên hay không nên" khai thác bô-xít. Hãy trưng cầu Dân ý về khai thác bô-xít !
+ ngừng ngay san thêm mặt bằng !
+ ngừng ngay đưa người nước ngoài vào Tây Nguyên, Đắk Nông, Lâm Đồng !
+ bụi đỏ bô-xít, bùn đỏ bô-xít là nguồn chết !
+ khai thác bô-xít là đẩy dân tộc, đất nước vào chỗ chết !
+ kiên quyết không giao rừng, rẫy, ruộng, đất để khai thác bau-xít !
+ không hạ một cây cao su, một cây càphê, không chặt một cây chè, một cây tiêu, một cây điều ! 

Nên vẽ nhiều tranh, vẽ hình sọ người và 2 xương chéo, dấu hiệu nguy hiểm chết người, dưới là chữ KHAI THÁC BÔ-XÍT ; Sulfur Dioxide - Bùn Đỏ chết người. 

Hãy phát tán tài liệu, truyền đơn, khẩu hiệu buổi chiều, ban đêm, dán ở gốc cây, trên xe taxi, xe bus, xe từ Sài Gòn đi đường 20 lên Bảo Lộc Đà Lạt, khắp đường giao thông, đường sắt, đường hàng không, các nhà ga, bến xe, bến tàu để phổ biến nhanh nhất, rộng nhất, lay động, thức tỉnh lương tri mọi người. 

Mỗi người Việt Nam yêu nước, hãy đứng dậy, nói không với bô-xít ! Tôi nói không, anh nói không, chúng ta nói không với bô-xít! Thông tin là sức mạnh ! Truyền tin lúc này là việc khẩn cấp ! là cứu nước lâm nguy! Mỗi bạn hãy thông tin, trao đổi, hội thảo, bàn luận về bô-xít ! 

Xin đa tạ. Người tập họp ý kiến,

Paris20-3-2009.

Một kế hoạch khai mỏ thử thách những người hoạch định chính sách của Việt Nam. Trung Quốc tìm cách phát triển những mỏ bauxite trong khu vực có tính chất nhạy cảm về môi trường và xã hội

Lê Trần Anh 23-3-2009

Những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội người Việt Nam đang gia tăng mối quan ngại ngày càng nhiều trước sự dính líu tới môi trường, xã hội, kinh tế và chính trị từ một kế hoạch của chính phủ cho phép các công ty Trung Quốc đang đói khát tài nguyên khoáng sản được phát triển những dự án khai thác bauxite khổng lồ trên vùng Cao nguyên Trung phần.

Việt Nam được đánh giá có tới 8 tỉ tấn quặng bauxite, thứ được sử dụng để chế biến ôxit nhôm, một loại bột trắng được nung chảy ra để sản xuất nhôm. Hai dự án lớn khai thác bauxite và sản xuất ôxit nhôm đã được khởi công tại hai tỉnh Lâm Đồng và Đắk Nông. Nước này đã và đang dự tính sẽ phải cần tới 20 tỉ đô la đầu tư từ bây giớ cho tới năm 2025 để sử dụng nguồn tài nguyên này.

Người Trung Quốc tham gia.

Ý tưởng khai thác nguồn tài nguyên bauxite dồi dào nầy không phải là mới. Cách đây khá lâu, ngay từ những năm 1980, khi Việt Nam còn là một thành viên của Hội đồng Tương trợ Kinh tế (CMEA), một khối kinh tế được Liên Xô và các quốc gia cộng sản Đông Âu thành lập, Việt Nam đã đưa ra trước CMEA một chương trình khai thác bauxite. Thế nhưng sau khi các chuyên gia Sô Viết nghiên cứu về tính khả thi của chương trình, thì CMEA đã khuyến cáo phản đối lại ý tưởng này, chủ yếu do những quan ngại nguy hiểm cho môi trường.

Những mối quan ngại này vẫn không mất đi hẳn. Điều duy nhất đã thay đổi là cường độ của sự chống đối và sự gia tăng gấp bội của những mối quan ngại khác cũng như những khoa học gia về môi trường và các nhà khoa học xã hội đã rung những hồi chuông cảnh báo về những huỷ hoại tiềm tàng.

Việc khai thác mỏ bauxite liên quan tới sự thải ra của các chất độc hại, các chất nầy phải được lưu giữ một cách an toàn và vĩnh viễn. Tuy nhiên, địa hình vùng Cao nguyên Trung phần làm cho nó khó khăn hơn để cất giữ một cách an toàn loại bùn thải độc hại này để tránh làm ô nhiễm các khu vực xung quanh và các nguồn nước ở vùng hạ lưu. Thêm vào đó, những người chỉ trích nhìn thấy nguy cơ cao đối với tình hình mà trong đó các công ty TQ đã giành được cả hai gói thầu để xây dựng hai nhà máy luyện ôxit nhôm lớn (trị giá gần 500 triệu đô la mỗi công trình) và có khả năng sẽ hùn hạp tiếp vào các dự án khác nữa.

Mối lo ngại là các kỹ thuật khai thác mỏ bô-xít (của người Trung Quốc) không phải là những thứ có sẵn tốt nhất. Ông Nguyễn Thành Sơn, một chuyên gia của Việt Nam trong lĩnh vực này và là một trong những người phản đối mạnh mẽ nhất kế hoạch này, đã nói rằng phía Trung Quốc đã giành được những gói thầu là nhờ phía Việt Nam hạ thấp các tiêu chuẩn kỹ thuật với mục đích để cho các công ty Trung Quốc có thể đưa ra những giá đầu thầu hấp dẫn.

Chính bản thân người Trung Quốc đã và đang đối mặt với những vấn nạn môi trường nguy hiểm gắn liền với hoạt động khai thác mỏ bauxite, thúc đẩy họ đi tới chỗ đóng cửa nhiều khu mỏ bauxite tại tỉnh Quảng Tây thậm chí trong khi nhu cầu bauxite đang gia tăng. Bởi vậy, một số người chỉ trích xem mức độ liên quan cao độ của Trung Quốc vào những dự án bauxite ở Việt Nam như là một hình thức xuất khẩu sự xói mòn và hủy hoại của môi trường trong khi vẫn cố gắng bảo đảm có được nguồn cung cấp bauxite mới.

Về mặt hiệu quả kinh tế, những dự án này không có vẻ ổn thỏa thậm chí với một sự phân tích đơn giản về phí tổn bỏ ra và lợi ích thu được. Vùng Cao nguyên Trung phần là xứ sở của các vụ mùa mang lại tiền bạc như cà phê, chè và cao su, những vụ thu hoạch nầy đã giúp kiếm được lượng ngoại tệ có giá trị ngày càng cao thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, sự tồn tại của các sản phẩm trồng trọt này sẽ gặp nguy hiểm lớn do hai yếu tố then chốt sau đây.

Thứ nhất, càng có nhiều dự án được thực hiện, thì càng có nhiều đất đai sẽ bị phát quang cho việc khai thác mỏ và chứa bùn thải độc hại. Sau khi quặng bauxite được khai thác lên, đất đai sẽ không còn thích hợp cho cây trồng phát triển nếu như không có những giải pháp cứu chữa tốn kém lâu dài.

Điều thứ nhì, việc khai thác mỏ bauxite và chế biến bột nhôm đòi hỏi nhiều nước, mà nước là thứ không nhiều tại vùng này. Như một hậu quả, lượng nước có sẵn dành cho trồng trọt sẽ bị suy giảm ghê gớm, dẫn tới những vụ thu hoạch mùa màng tồi tệ hơn.

Hai yếu tố khai hoang đất đai và thiếu nước cùng nhau làm gia tăng mối lo lắng ám ảnh của mất mát tiềm tàng lợi thế có tính cạnh tranh của vùng nầy trong việc gia tăng nguồn thu nhập ngoại tệ từ mùa màng và kìm hãm khả năng phát triển một lợi thế cạnh tranh mới trong lĩnh vực du lịch kinh tế, thứ hiện đang ngày càng phổ biến trên thế giới.

Những cái giá phải trả về kinh tế thậm chí sẽ lớn hơn nhiều khi những yếu tố tiêu cực bên ngoài, bao gồm sự xuống cấp của môi trường, được tính gộp lại với nhau.

Mặc khác, những lợi ích cho việc khai thác mỏ bauxite là rất đáng nghi ngờ. Dữ kiện chỉ ra rằng với cùng một mức độ đầu tư, tỉ lệ lợi nhuận của một dự án bauxite là kém xa so với việc trồng cà phê. Hơn nữa, để cạnh tranh, việc sản xuất bột nhôm đòi hỏi một nguồn điện năng rẻ và có sẵn mà Việt Nam hiện không có và sẽ không có trong bất cứ khoảng thời gian gần nào trước mắt.

Với tình trạng thiếu thốn điện năng triền miên, việc chuyển dịch sử dụng năng lượng hướng tới sản xuất bột nhôm theo kiểu này sẽ càng làm trầm trọng thêm vấn nạn thiếu điện, đẩy những loại sản xuất khác đi tới cơ nguy thiếu hụt.

Liên quan tới các tác động xã hội và chính trị, việc thi hành với quy mô lớn những dự án bauxite sẽ cách ly khỏi xã hội hơn nữa những nhóm sắc dân thiểu số trong khu vực nầy khi không gian sinh sống dựa vào trồng trọt của họ bị suy giảm ghê gớm, với tiềm ẩn tạo nên căng thẳng xã hội trong một vùng vốn đã mang tính chất nhạy cảm.

Thêm vào đó, sự hiện diện của những công nhân Trung Quốc liên quan tới khai thác bauxite trong vùng chiến lược quân sự này đã và đang tạo nên một cảm giác bất an trong số nhiều người Việt Nam.

Ở những điều kiện dưới mức bình thường, những phản ứng và hành động của chính phủ đã là không thích hợp. Vào tháng 11-2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký một chỉ thị tán thành kế hoạch khai thác, chế biến và sử dụng bauxite. Tuy nhiên, từ những năm trước đó cho đến năm 2007, đã không có bất cứ sự đánh giá môi trường có tính chiến lược nào được chuẩn thuận để khẳng định rằng những tác động gây ảnh hưởng lên môi trường của kế hoạch khai chác bauxite này là phù hợp với các luật lệ về môi trường của Việt Nam.

Vinacomin, doanh nghiệp được làm chủ bởi nhà nước phụ trách việc thực hiện kế hoạch này, đã tổ chức hai hội nghị vào năm 2007 và 2008 để tiên lượng và đánh giá những tác động của các dự án bauxite nầy. Trong thời gian diễn ra những sự kiện đó, nhiều chuyên gia Việt Nam đã bày tỏ những mối quan ngại sâu sắc nhất về khía cạnh những tác động tiêu cực nghiêm trọng của kế hoạch. Tuy nhiên, chẳng có gì quan trọng được đúc kết lại để đương đầu với những mối lo ngại này kể từ khi các dự án vẫn đang được thực hiện rồi.

Đối diện với những thái độ chống đối vẫn đang tiếp diễn, Thủ tướng Dũng đã tổ chức một cuộc họp để thảo luận về các vấn đề liên quan tới dự án khai thác bauxite vào đầu tháng Một năm 2009. Ông Dũng đã kết luận bằng cách ra lệnh cho Bộ Công thương xin phép Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam được tiếp tục các dự án và yêu cầu Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một hội nghị khoa học để thảo luận các đề tài này.

Mặc dù hội nghị đã được hoạch định vào một thời điểm nào đó trong nửa đầu tháng 4-2009, ông Hải đã loan báo vào tuần trước rằng các dự án ở Lâm Đồng và Đắk Nông sẽ được tiếp tục theo như kế hoạch. Điều đó đã thúc đẩy các nhà quan sát dấy lên nghi vấn rằng nếu hội nghị đưa ra được bất cứ thay đổi có ý nghĩa nào, thì những thay đổi ấy sẽ được chấp nhận bởi chính phủ hay không.

Căn cứ vào những phản ứng của chính phủ, một điều rõ ràng là: họ đang có một mục đích chính trị đã được xác định rất rõ ràng để thực hiện kế hoạch khai thác chế biến bauxite dầu phải đối mặt với sự phản đối. Câu hỏi đặt ra là tại sao (đảng) lại có một mục đích chính trị mạnh mẽ đến như vậy được giành cho một kế hoạch có vẻ như là sai lầm.

Những người chỉ trích đã nghĩ ra một vài câu trả lời khả dĩ. Câu trả lời thường được đề cập đến nhiều nhất là ảnh hưởng của Trung Quốc thông qua kênh chính trị ở cấp cao nhất. Điều thực sự hơn thua vào lúc này là liệu chính quyền Việt Nam có được lòng can đảm về mặt chính trị để mời tất cả những người liên quan trong vấn đề bô-xít tham dự, bàn bạc và sửa chữa những sai lầm trong kế hoạch nầy trước khi điều ấy quá muộn hay không.

Ông Lê Trần Anh (Anh Le Tran) giảng dạy kinh tế và quản lý tại Đại học LasellCollege ở Massachusett, Hoa Kỳ.

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009

Trung Cộng đã thực hiện kế hoạch di dân chính thức sang Việt Nam

Vũ Hoài Nam 29-03-2009

Bắc Kinh đã không còn âm thầm cho dân di cư đến Việt Nam như trước nữa. Nay họ đã công khai ồ ạt đưa dân tới Việt Nam một lúc hàng vạn công nhân bằng phương tiện đấu thầu về những công trình lớn tại Việt Nam về điện, xây cất, xi-măng, hóa chất v.v…

Sự kiện đó đã bị chống đối khéo léo bởi báo Tuổi Trẻ bằng những lời lẽ rất ư là hữu lý của nhà báo Cam Văn Kình như sau :

Nhiều dự án lớn trong ngành xây dựng: Đa số nhà thầu ngoại trúng thầu. Hàng vạn công nhân Trung Quốc đã vào VN

TT (Hà Nội)- Ngày 27-3, Tổng hội Xây dựng VN tổ chức buổi tọa đàm về kích cầu trong xây dựng. Thực trạng lớn nhất được đưa ra tại buổi tọa đàm là rất nhiều dự án lớn đã triển khai nhưng hàng hóa VN không thể tiêu thụ được vì trúng thầu là các nhà thầu ngoại quốc, chủ yếu là Trung Quốc...

Chủ trương kích cầu xây dựng là đúng, nhưng ông Trần Ngọc Hùng - chủ tịch Tổng hội Xây dựng VN - khẳng định các nhà thầu VN đang rất lo vì thực tế cho thấy các dự án lớn khi đem ra đấu thầu hầu như đều rơi vào tay các nhà thầu nước ngoài. Ông Hùng cho biết các nhà thầu Trung Quốc đang thắng thầu rất nhiều công trình trọng điểm về điện, xi măng, hóa chất... “Đáng quan tâm là các nhà thầu Trung Quốc thường đem theo hàng ngàn công nhân và đem cả thiết bị của họ sang, trong khi những thiết bị đó VN hoàn toàn có thể sản xuất được”...

Đặc trưng của nhà thầu Trung Quốc, theo ông Huynh, là họ không thuê nhân công VN mà đem người sang, có thể bằng cả đường du lịch rồi ở lại. “Một số loại vật liệu Trung Quốc được đem qua Thái Lan rồi vòng vào VN. Máy móc thiết bị không nhập riêng được thì họ lắp sẵn rồi đem cả sang. Tôi có thăm một nhà máy xi măng do nhà thầu Trung Quốc làm, đến cái bệ xổm toilet họ cũng không dùng hàng VN mà mua hàng Trung Quốc” - ông Huynh nói.

Ông Trần Hồng Mai - viện phó Viện Kinh tế xây dựng - góp thêm một thực trạng khi cho biết có thể các nhà thầu Trung Quốc nhận được nhiều hỗ trợ từ phía nước họ, kể cả chính sách thuế, nên giảm mạnh giá bỏ thầu. Vì vậy, họ thường nắm phần thắng khi đấu thầu. Nên các công trình lớn như Đạm Cà Mau, nhà máy điện ở Hải Phòng, khi xây dựng lúc nào cũng có hàng ngàn công nhân Trung Quốc...

Cùng lo ngại như ông Trần Văn Huynh “nếu các công trình lớn đều vào các nhà thầu ngoại sẽ dần triệt tiêu nội lực”, nhiều chuyên gia đề nghị nên có chính sách cụ thể để giúp các doanh nghiệp xây dựng trong nước. Ông Huynh phân tích: “Giá thầu rẻ nhưng chất lượng không cao chưa chắc đã là rẻ, không nên tư duy cứ giá thấp là trúng thầu”. Ông Trần Hồng Mai viện dẫn Luật đấu thầu đã quy định phải ưu tiên doanh nghiệp VN nhưng nhiều chủ đầu tư VN lại “quên” điều này. Ông Mai cho rằng Nhà nước cần có chính sách để “nhắc” các chủ đầu tư. 

Chắc hẳn quý vị đọc báo trong nước đã không quên việc mới đây, nhà cầm quyền CSVN đã cảnh cáo sự đi khỏi lằn ranh đã được định sẵn cho những người làm báo ở Việt Nam bằng cách bắt giam và đuổi việc với nhiều tờ báo. Nhưng sự dọa nạt đó đã không làm suy giảm tinh thần yêu tự do và yêu sự thật cùng lẽ công bằng. Bài báo trên đây là một bằng chứng hùng hồn tố cáo CSVN đã hèn nhát trước đòi hỏi của quan Thầy TC.

Bài báo trên đây cũng đã đánh động lòng yêu nước của đồng bào thầm lặng. Không những vậy, nó cho chúng ta thấy chỉ có những ai có lòng lang dạ sói thì mới dành quyền ưu tiên cho những nhà thầu người ngoại quốc được mang cả công nhân của họ sang Việt Nam làm việc. Vì làm như vậy là tạo cơ hội cho ngoại nhân khinh thường người Việt Nam và tạo thêm cảnh thất nghiệp cho công nhân Việt Nam trong tình thế khó khăn hiện thời.

Không nói ra, chúng ta cũng thừa hiểu là ở Việt Nam luật pháp không được áp dụng đúng đắn. Nhà cầm quyền muốn cho ai trúng thầu thì người đó trúng. Cho nên, việc hàng loạt người Hoa trúng thầu là một việc rất dễ hiểu do nơi chủ trương của nhà cầm quyền CSVN đã thần phục Bắc Kinh.

Theo sự nghiên cứu của chúng tôi. Đây là chiến lược cài người và đồngg hóa của CSTQ. Vì lương của một công nhân Trung Quốc nhiều gấp ba lần một chuyên viên Việt Nam cùng làm tại một sở. Với số lương như thế, chẳng cần chính phủ CSTQ hỗ trợ thì một công nhân với số lương, gấp đôi hay gấp ba một kỹ sư Việt Nam. Một công nhân người Hoa thừa sức lấy một cô vợ Việt Nam trong lúc hoàn cảnh ở Việt Nam kinh tế khó khăn, vật giá leo thang… là một nhược điểm của những phụ nữ nghèo, ít học ở các miền quê.

Cứ như tình hình kinh tế hiện nay, trên toàn thế giới phải thắt lưng buộc bụng vì kinh tế đi xuống. Trung Quốc là chủ nhân của các trái phiếu Mỹ nhiều nhất thế giới. CSTQ đang lo ngại Mỹ sẽ hạ giá đồng đô-la xuống. Nếu Mỹ làm như vậy thực thì quả nhiên CSTQ sẽ bị thiệt hại rất nhiều nên CSTQ đã có kế hoạch mang tiền đầu tư vào Việt Nam. Riêng ở Việt Nam, có đến 75% các nhà  đầu tư ngoại quốc đã rút khỏi Việt Nam. Nên CSVN  lo ngại nếu kinh tế đi xuống quá thì sẽ liên quan dây chuyền đến vấn đề xã hội và an ninh liên quan đến chế độ. Phần bị áp lực của quanThầy Bắc Kinh nên Bắc Kinh cho người Hoa cái quyền ưu tiên ở đất An-Nam đô hộ phủ.

Rồi đây, Bắc Kinh  sẽ dùng  chiến thuật “Cài răng lược” trong kế hoạch thôn tính Việt Nam lâu dài thì con cháu : Lê Chiêu Thống cũng phải bó tay quy hàng. Nhất là họ không có sáng kiến, thiếu năng lực và với một tinh thần ươn hèn sẵn có.

Chúng ta tin vào tiến trình lịch sử khi đất nước lâm nguy thì toàn dân đoàn kết và  anh hùng Dân Tộc sẽ đứng lên giúp nước như lịch sử đã viết lên điều đó. Từ Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter