lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

Tập 3

LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa Quý vị, Các Bạn trẻ thân mến,

Đến tập 3 này, Quý vị và Quý bạn đã thấy được phản ứng của Đồng bào trong và ngoài nước trước sự lộng hành của tập đoàn lãnh đạo CSVN, cụ thể của 15 tay trong Bộ Chính trị. Vì quyết tâm giữ vững quyền lực và giữ chặt quyền lợi, bất chấp sự an nguy của đất nước, sự vẹn toàn của lãnh thổ, sự tồn vong của giống nòi, những kẻ cõng rắn cắn nhà gà, rước voi về giày mả tổ, mở đường cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc xâm nhập, Bộ Chính trị quả là đang thách thức tấm lòng yêu nước và ý chí bảo quốc của con Hồng cháu Lạc thuộc mọi giới.

Ngoài các ý kiến cá nhân, trong tập 1 chúng ta đã thấy Khối đấu tranh tập thể 8406 ra Kháng thư số 24 ngày 15-03-2009 nhằm "Tố cáo Cộng sản VN về hiểm họa cho Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Khẩn cấp phát động phong trào cứu nguy Đất nước!". Sang tập 2 lại thấy một số công dân, vào ngày 03-03-2009, đã đưa "Kiến nghị trưng cầu Dân ý về việc khai thác bauxite". Với tập 3 này, chúng ta chứng kiến Hòa thượng Thích Quảng Độ, đại diện cho quần chúng Phật tử đông đảo đang làm nên tôn giáo lớn nhất nước, hôm 29-03-2009, đã dõng dạc ra Lời Kêu gọi "Một tháng biểu tình tại gia để chống việc lấy Vàng dân tộc đổi Nhôm nước ngoài". Ngài tha thiết báo động: “Nguy cơ mất nước bắt đầu. Lần này không chỉ Bắc thuộc 1000 năm, mà là 3000 năm hay lâu hơn nữa khi lãnh đạo Nước nhà không là Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông, Lê Thái Tổ, mà là một chính quyền ly khai dân, lệ thuộc nước ngoài, từ ý thức hệ đến cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, làm đảo lộn xã hội và nhân văn Việt Nam. Chỉ còn lại tiếng nói của toàn dân mới có cơ cứu vãn. Trước là chận đứng việc lấy Vàng, tức dân tộc, đổi lấy Nhôm ngoại quốc. Sau là bảo vệ sự Vẹn toàn lãnh thổ mà tiền nhân đã đem xương máu gầy dựng”. Lời hiệu triệu của ngài đã được sự ủng hộ rộng rãi của hàng trăm tổ chức người Việt trong lẫn ngoài nước và hy vọng sẽ được thực thi bởi hàng triệu con dân Việt quốc nội trong tháng tới. Vì đây là một hình thức phản kháng bất bạo động nhưng không kém phần hiệu quả nếu được đông đảo quần chúng can đảm thể hiện. Dân tộc Chăm ít người cũng lên tiếng phản đối, qua Thư kêu cứu của Tổ chức Văn hoá và Nghệ thuật Champa Quốc tế ngày 30-03-2009: "Đây là một việc làm thiếu suy xét, vô trách nhiệm, không đạo đức. Có phải đây là đường lối và chính sách diệt chủng của Đảng Cộng Sản và Nhà Nước Việt Nam đối với các dân tộc thiểu số?”

Chúng tôi sẽ còn gởi tới Quý vị và Quý bạn những lời phản kháng tập thể khác trong các tập tới, với lòng ước mong mỗi người cùng thông hiệp để làm nên sức mạnh dân tộc thắng nội thù lẫn ngoại xâm.

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406

I- NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT

Báo cáo về dự án khai thác chế biến Bauxite ở Đắk Nông và Lâm Đồng của TKV

Thiếu Tướng Lê văn Cương 03-03-2009

Viện Chiến lược và Khoa học Công an

Sau khi dự các cuộc hội thảo khoa học do VUSTA và Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức và khảo sát các cơ sở khai thác, chế biến Bauxite ở Dak Nông, Lâm Đồng, tôi có một số ý kiến (bước đầu) như sau:

1. Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên do TKV làm chủ đầu tư là không hiệu quả về kinh tế, bởi lẽ:

Trong dự án TKV trình Thủ tướng Chính phủ có mấy vấn đề:

1. Một là, TKV chưa tính đến, hoặc tính chưa hết, chưa đủ các chi phí chắc chắn sẽ phát sinh như: vấn đề vận chuyển quặng, bán thành phẩm, hóa chất phục vụ khai thác, chế biến và xuất khẩu (trên quãng đường khoảng 250km), chi phí sử dụng điện, nước....

2. Hai là, Trung Quốc sẽ chuyển công nghệ lạc hậu sang Việt Nam (Trung Quốc có công nghệ tiên tiến hoặc có thể mua công nghệ tiên tiến của các nước phát triển, nhưng họ không chuyển choViệt Nam).

3. Ba là, việc TKV chọn Trung Quốc là đối tác duy nhất bao tiêu sản phẩm là hết sức rủi ro, nguy hiểm.

Tôi không rõ TKV không biết, hay biết mà cố tình không báo cáo đầy đủ? Tôi tin là có cả hai. Còn nhiều vấn đề khác, nhưng với 3 vấn đề trên có thể đưa ra dự báo: chỉ riêng về mặt kinh tế, dự án khai thác, chế biến Bauxite của TKV ở Tây Nguyên chắc chắn không có hiệu quả, thậm chí có thể lỗ lớn.

2. Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên của TKV về lâu dài, sẽ gây ra thảm họa về môi trường, sinh thái.

- Một là, các hồ chứa bùn đỏ ở Đak Nông và Lâm Đồng có thể an toàn trong khoảng 10-15 năm tới, ngoài 20 năm không ai có thể yên tâm. Mùa mưa Tây Nguyên kéo dài nhiều tháng; có những trận mưa lớn kéo dài tới 5-7 ngày, thậm chí đến 10 ngàỵ. Trong điều kiện đó các hồ chứa bùn đỏ trên cao nguyên rất có thể xảy ra sự cố (tràn hồ, lún sụt, vỡ đập, rạn nứt đáy hồ...).

- Hai là, nơi khai thác, chế biến Bauxite ở Đak Nông và Lâm Đồng nằm ở thượng nguồn sông Đồng Nai và sông Sê-rê-Pôk (chảy sang đất Campuchia và sông Mê Kông). Không ai có thể bảo đảm là khai thác, chế biến Bauxite sẽ không làm ô nhiễm (nhiễm bẩn, nhiễm độc) nguồn nước của hai con sông này. Có khoảng 15 triệu người sử dụng nước của hệ thống sông Đồng Nai (nước sinh hoạt, công nghiệp, dịch vụ, sản xuất...). Tập đoàn TKV hoàn toàn không có khả năng (về tài chánh, công nghệ...) khắc phục, xử lý ô nhiểm đối với sông Đồng Nai và sông Sê-rê-Pôk.
Chi phí để khắc phục thảm họa môi trường sẽ lên đến hàng chục tỷ đôla, sẽ lớn hơn hàng chục lần lợi ích thu được từ khai thác, chế biến Bauxite.

3.  Dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh quốc gia

Các đe dọa đối với an ninh quốc gia không diễn ra nhanh chóng và dễ nhận thấy như hiệu quả kinh tế và tai biến môi trường. An ninh quốc gia bị suy yếu nghiêm trọng do:

- Một là, dự án không có hiệu quả về kinh tế, thậm chí thua lỗ, từ đó tác động lớn đến chính trị - xã hội của đất nước, dân mất lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước.

- Hai là, thảm họa về môi trường sinh thái sẽ tác động to lớn đến ổn định chính trị-xã hội. Hàng chục triệu người sẽ phải chịu hậu quả nặng nề về môi trường sống mà không thể khắc phục được trong thời gian ngắn.

- Ba là, Trung Quốc vào Tây Nguyên là họ đã có điều kiện khống chế đối với cả ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiện nay Trung Quốc đã thuê một vùng đất rộng lớn ở tỉnh Munbunkiri - sát biên giới tỉnh Đak Nông với thời gian 99 năm, và Trung Quốc đã làm chủ các dự án kinh tế lớn ở tỉnh A-Ta-Pu, tỉnh cực Nam của Lào, giáp với Việt Nam và Campuchia (tại ngã ba Đông Dương). Đây là hậu họa khôn lường đối với an ninh quốc gia. Không rõ những người quyết định cho Trung  Quốc vào Tây Nguyên có biết điều này không ?

4. Kiến nghị

4.1. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ trực tiếp nghe ý kiến của các nhà khoa học về dự án khai thác, chế biến Bauxite ở Tây Nguyên.

4.2. Cho làm thử với quy mô nhỏ (khoảng 300 ngàn tấn alumine/ năm), sau 5-10 năm sẽ quyết định quy mô lớn.

Người báo cáo : Thiếu tướng, PGS TS Lê Văn Cương

Báo cáo v/v làm rõ một số ý kiến tại cuộc Tọa đàm về bauxite ngày 20-2-2009

TS. Nguyễn Thành Sơn 19-03-2009

Trân trọng kính gửi:

-đ/c Trương Tấn Sang UV Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư,

-đ/c Ngô Văn Dụ Bí thư TW Đảng CSVN, Chánh Văn phòng TW Đảng.

Tôi được mời tham gia cuộc Tọa đàm về bauxite do VP TW tổ chức ngày 20-2-2009. Do thời lượng Tọa đàm có hạn, vì chưa có điều kiện phát biểu, chấp hành ý kiến chỉ đạo của đ/c Ngô Văn Dụ, chủ trì Tọa đàm, tôi xin được trình bầy với Ban Bí thư và Văn phòng TW Đảng CSVN một số ý kiến như sau:

1/ Trước hết tôi hoàn toàn đồng tình với đa số các ý kiến tại cuộc Tọa đàm đều cho rằng việc lựa chọn nhà thầu TQ vào Tây Nguyên là một nguy cơ rất lớn đối với an ninh quốc phòng. Trong các tham luận công khai, tôi cũng như các nhà khoa học đều hiểu, nhưng chưa nêu thẳng vấn đề: lựa chọn nhà thầu TQ là một sai lầm cố ý của TKV (Tập đoàn Than và Khoáng sản). Tôi xin nói rõ hơn như sau:

- Là cán bộ của TKV, đến nay tôi đã có kinh nghiệm (hiểu rõ cách đấu thầu) qua không ít hơn 6 cuộc đấu thầu quốc tế các dự án nhiệt điện chạy than của TKV khi tôi được giao trực tiếp tham gia (là giám đốc cty Tư vấn), hay quản lý (là trưởng ban điện lực) và phụ trách (là Tổng giám đốc Công ty nhiệt điện). Tôi có thể khẳng định, nếu đấu thầu một cách minh bạch, đúng luật, và với tiêu chí là lợi ích tối đa lâu dài của đất nước (chứ không phải của chủ đầu tư) thì không thể có một nhà thầu TQ nào có thể thắng thầu trong bất cứ dự án bauxite nào.

- Để chọn được nhà thầu TQ, TKV đã hạ rất thấp các tiêu chuẩn công nghệ trong đấu thầu, đã lựa chọn công nghệ thải bùn đỏ bằng công nghệ “ướt” rất lạc hậu và rất nguy hại cho môi trường mà cả thế giới đã không còn chấp nhận (ngay cả TQ, Nga và Ấn Độ cũng đang chuyển dần các nhà máy của mình từ công nghệ “ướt” sang công nghệ “khô”, các nước ở vùng nhiệt đới có mưa nhiều giống như Tây Nguyên cũng không áp dụng công nghệ này). Đây là một quyết định để dẫn tới việc chỉ các nhà thầu TQ có thể tham gia đấu thầu và có thể chào giá rất thấp (vì TQ đang có sẵn công nghệ, đang cần phải “bán sắt vụn” lại có dịp để “chuyển giao” sang VN).

- Việc nâng công suất nhà máy lên gấp 2 lần so với quy hoạch ban đầu và triển khai đồng loạt cả hai dự án lớn cũng được TKV làm theo “lời khuyên” của nhà thầu TQ, với lý do làm “nhỏ” thì các nhà thầu sẽ không tham gia. Thực tế cho thấy, tuy đã làm “lớn”, nhưng do cố tình lựa chọn công nghệ lạc hậu chỉ có ở TQ, nên cũng chẳng có nhà thầu nào khác (ngoài các nhà thầu TQ) tham gia đấu thầu.

Ngoài ra, tương tự như dự án luyện đồng Sinh Quyền, tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm alumina cũng rất quan trọng. Tôi e ngại rằng (để đấu thầu, giảm chi phí đầu tư), chất lượng sản phẩm alumina do TQ chào sẽ rất thấp để sau này TQ sẽ mua lại với giá rẻ mạt (như hiện đang mua loại đồng của Sinh Quyền). TQ không có công nghệ nguồn về nhôm, cũng phải đi nhập của các nước phát triển, còn sản phẩm alumina của TQ có chất lượng khác nhau và có tiêu chuẩn thấp hơn so với của các nước phát triển.

2/ Về ý kiến cho rằng cần phát triển bauxite hơn phát triển cây công nghiệp (của các đ/c Hoàng Sỹ Sơn, phó Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và Phan Tuấn Pha, Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông)

Cả hai đ/c đại diện cho Đảng bộ và UBND các tỉnh có dự án bauxite đều phát biểu ủng hộ tiếp tục triển khai các dự án bauxite vì hai lý do chính: (i) bauxite có lợi thế hơn sản phẩm nông nghiệp (cà phê, chè, điều, cau su) vì giá bán sản phẩm nông nghiệp rất biến động; và (ii) nếu không khai thác bauxite thì (bauxite vẫn chỉ là đất), 20-30 năm nữa con cháu chúng ta sẽ phê phán chúng ta tại sao không khai thác!

(i) Trước hết, tôi cho rằng cả hai ý kiến này đều không chính xác, và nếu xem xét kỹ thì đây là những ý kiến phản khoa học, do thiếu thông tin. Bauxite gắn chặt với vùng đất đỏ bazan trên Tây Nguyên là tài nguyên khoáng sản có hạn, không tái sinh, còn cây công nghiệp là nguồn tài nguyên vô hạn, có tái sinh (nhờ được trồng trên đất bazan tài sản vô giá của quốc gia này). Thế mạnh cạnh tranh cốt lõi của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Phát triển cây công nghiệp góp phần duy trì và làm tăng thêm mầu xanh cho môi trường, giảm các nguy cơ như lũ ống, lũ quét, hạn hán kéo dài, duy trì và phát huy được thế mạnh của đất đỏ bazan. Còn khai thác bauxite sẽ làm mất đi thế mạnh của Tây Nguyên, hủy diệt mầu xanh, làm thay đổi thổ nhưỡng của vùng đất đỏ bazan, làm tăng thêm nguy vơ về hạn hán kéo dài, lũ ống, lũ quét xẩy ra nhiều hơn. Nếu tiếp tục cho phát triển các dự án bauxite như cách làm hiện nay, về lâu dài cái giá phải trả của VN là không phát triển được cây công nghiệp trên vùng Tây Nguyên (do sẽ thiếu nước ngọt, thổ nhưỡng đất bazan thay đổi) và có nguy cơ còn làm mất và ô nhiễm nguồn nước ngọt để phát triển kinh tế cho các tỉnh vùng hạ lưu (Đồng Nai, Bình Dương, Tp. HCM v.v…).

(ii) Giá bán sản phẩm nông nghiệp tuy có biến động nhưng nhu cầu tiêu dùng của cả loài người về cà phê, chè, đều là ổn định, được tiêu thụ ở rất nhiều nước, không có sản phẩm thay thế. Giá bán sản phẩm bauxite biến động rất lớn, nhu cầu của thế giới cũng thay đổi và chỉ được sử dụng chủ yếu tập trung ở một số nước có ngành chế tạo xe hơi và máy bay như Mỹ, Nhật, Đức, Nga, TQ. Tôi xin cập nhật những thông tin gần đây nhất: giá bán nhôm trên Thị trường Giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) giao động rất lớn, giá thấp nhất 1040U$/tấn (1993) và cao nhất lên tới 3249 U$/tấn (2006). Chỉ từ tháng 7-2008 đến tháng 10-2008 giá nhôm tại LME đã giảm từ 3300 xuống còn 1885 rồi 1500 U$/tấn. Theo đánh giá của các chuyên gia về nhôm, hiện nay giá bán hòa vốn đối với 75% các nhà máy phải là 2500U$/tấn trong khi giá thành sản xuất bình quân của thế giới 2700-3200U$/tấn. Vì thế các nước đã và đang tiếp tục cắt giảm sản lượng (chỉ tính riêng năm 2008: TQ đã cắt giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với công suất 3,22-3,70 triệu tấn/năm, 10% sản lượng alumina; tập đoàn Alcoa của Mỹ đã giảm 18% sản lượng nhôm tương đương với 3,5 triệu tấn/năm; Brazin giảm tới 40% sản lượng nhôm; Nga- giảm 25%, Tadjikistan (thuộc LX cũ)- 10% v.v…). Trong các năm tới thị trường và giá bán của sản phẩm bauxite sẽ còn tiếp tục biến động theo chiều hướng xấu đi: dự báo năm 2009, nhu cầu alumina của TQ chỉ có 27,83 tr. tấn, trong khi tổng công suất của các nhà máy sản xuất lên tới 32,97 tr. tấn (thừa 5,14 tr. tấn).

(iii) Về ý kiến (của tỉnh Đắk Nông) cho rằng cần khai thác bauxite ngay bây giờ chứ không để giành cho thế hệ sau, “nếu không khai thác thì bauxite cũng chỉ là đất thôi”: đây cũng là ý kiến phản khoa học và ngắn về tầm nhìn. Tôi xin báo cáo như sau:

- Nếu hiện nay chúng ta sớm phát triển ngành công nghiệp bauxite-nhôm, thì chúng ta phải đối mặt với một bất cập rất lớn không thể vượt qua là thiếu điện giá rẻ. Trên thế giới các nước đều gắn nhôm với thủy điện, vì chỉ có thủy điện mới cho giá rẻ (dưới 3cents/kWh) trong khi tỷ trọng chi phí về điện trong chi phí sản xuất nhôm rất cao (chiếm tới 40-65%). Gần đây, Ngân hàng xuất nhập khẩu TQ đã phải cho vay bù lãi suất tới 2-3%/năm để một công ty nhôm của TQ đầu tư 3,2 tỷ US$ xây dựng nhà máy nhôm ở Mã Lai vì hai lý do: (i) Khuyến khích việc đưa các dự án nhôm tiêu hao nhiều điện năng ra nước ngoài (trong khi TQ cũng không phải thiếu điện trầm trọng như VN); (ii) Nhà máy nhôm này (do TQ nắm không ít hơn 50%) được quyền mua toàn bộ sản lượng điện của nhà máy thủy điện Bakun công suất 2400MW sẽ được Mã Lai xây dựng ở tỉnh Sarawak với giá bán điện chỉ có 2 cents/kWh. Dự án thủy điện này cũng do một tổng công ty nhà nước khác của TQ là Sinohydro xây dựng. Toàn bộ sản phẩm nhôm sẽ được bán lại cho TQ. Các tập đoàn nhôm UC Ruasal (Nga) và Alcoal (Mỹ) cũng coi việc đầu tư vào các nhà máy thủy điện để có được nguồn điện lớn với giá rẻ là ưu tiên số 1 trong hoạt động của mình. Toàn bộ tiềm năng về thủy điện của các tỉnh Tây Nguyên, nếu được khai thác hết cũng chỉ tương đương với dự án nói trên của Mã Lai.

- Nếu sau 20-30 năm nữa chúng ta mới phát triển ngành công nghiệp nhôm, thì con cháu chúng ta sẽ không “phê phán chúng ta là dốt”, như ý kiến của đ/c bí thư tỉnh Đắk Nông, ngược lại, thế hệ mai sau sẽ phải cám ơn chúng ta là đã rất thông minh, có tầm nhìn xa về khoa học công nghệ. Nhân đây tôi xin nói rõ hơn:

+ Tại cuộc hội thảo đầu tiên về bauxite ở Đắk Nông tháng 12-2007 do tỉnh Đắk Nông và TKV tổ chức, trong tham luận của mình tôi đã lưu ý đến bom Napal là một loại bom cháy, có sức hủy diệt cao, là một phát minh của Đại học Havard Hoa Kỳ, rất có hại trong chiến tranh, nhưng rất có ích trong phát triển kinh tế.

+ Theo dự báo của các nhà khoa học, sau 20-30 năm nữa, trình độ khoa học công nghệ (trong đó có các công nghệ về hóa-lý) sẽ cho phép chúng ta áp dụng phát minh trên của Đại học Havard trong việc đảm bảo an ninh năng lượng. Kim loại nhôm sẽ được sử dụng để phát điện (có thể thay cho dầu mỏ, khí đốt và than đá hay uranium đang dần cạn kiệt) với hiệu suất rất cao. Theo tính toán của các nhà khoa học, để sản xuất ra 1 “đơn vị nhôm”, chúng ta cần 1 “đơn vị năng lượng” (đơn vị này hiện nay rất lớn). Nhưng sau 20-30 năm nữa, trình độ công nghệ cho phép thực hiện qui trình ngược lại, từ 1 “đơn vị nhôm” chúng ta có thể sản xuất ra được gần 2 “đơn vị năng lượng” dựa trên nguyên lý hoạt động của bom Napal (phản ứng ôxy hóa của kim loại nhôm tinh khiết cho phép chúng ta thu được một lượng nhiệt rất lớn).

+ Ngoài ra hiện nay ôxít nhôm Al2O3 (là alumina- sản phẩm của các dự án bauxite Tây Nguyên để xuất khẩu) mới chỉ được dùng làm nguyên liệu thô cho ngành luyện nhôm và sản xuất một số hóa chất đơn giản khác. Nhưng trong tương lai, cũng như các loại ôxít kim loại khác sẽ được sử dụng để khử khí thải CO2 trong các nhà máy nhiệt điện để thu được khí CO (là một dạng khí cháy, có nhiệt năng cao) có thể tái sử dụng lại ngay cho chính các nhà máy nhiệt điện hay cho các lò hơi công nghiệp. Trên thế giới hiện nay đã có rất nhiều thành tựu (bản quyền và bí quyết công nghệ) trong vấn đề này (chủ yếu cũng là của Mỹ).

+ Trên quan điểm khoa học và công nghệ, Đảng ta đã rất sáng suốt khi trong Báo cáo chính trị của Đại hội X đã bỏ cụm từ “khai thác bô-xít và sản xuất alumin” ra khỏi danh mục các sản phẩm cần được hỗ trợ đầu tư phát triển, thay vào đó, đã khẳng định “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hóa chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”. Tôi cho rằng, ý kiến của đ/c Bí thư tỉnh ủy Đắk Nông tại cuộc Tọa đàm là không có tính khoa học và càng không phù hợp với tinh thần Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

3/ Về ý kiến cho rằng công nghệ của TQ là tốt: Tại cuộc Hội thảo do Liên hiệp các hội Khoa học Kỹ thuật VN (VUSTA) tổ chức ngày 19-1-1009 vừa qua, trong Báo cáo của mình tôi đã nêu rõ một ví dụ về công nghệ lạc hậu, không hiệu quả (công nghệ luyện đồng) mà TQ mới chuyển giao cho TKV trong dự án đồng Sinh Quyền gần đây. Tôi cho rằng không cần nhắc lại. Nhân đây tôi chỉ muốn nhấn mạnh thêm: Những nhà máy alumina phía Nam TQ (mà TKV đã tổ chức cho một số cán bộ ngoài TKV đi thăm quan) sử dụng loại bô-xít (sa khoáng) khác hẳn với bô-xít của Tây Nguyên (phong hóa) về nguồn gốc. Quá trình sản xuất alumina thực chất là các quá trình hóa-lý. Việc lựa chọn công nghệ phải dựa trên kết quả phân tích về thành phần thạch học và thành phần hóa học của quặng chứ không thể sao chép “copy” và đánh giá công nghệ bằng mắt thường. Ngoài ra, chất lượng quặng bauxite của Việt Nam, tuy chưa có được đánh giá chi tiết, nhưng căn cứ vào các thông tin hiện có, thì không cao, đòi hỏi phải tuyển để nâng cao chất lượng trước khi áp dụng công nghệ Bayer.

4/ Về ý kiến cho rằng khai thác bauxite sẽ góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế và không chiếm nhiều đất canh tác của các tỉnh Tây Nguyên:

- Trước hết, về kinh tế, các nhà khoa học đều khẳng định điều ngược lại. Rất may, lần nào, theo báo cáo tại cuộc Tọa đàm của chính đ/c Hoàng Sỹ Sơn, phó Chủ tịch tỉnh Lâm Đồng, các dự án bauxite hàng năm chỉ đóng góp 120-150 tỷ đồng cho ngân sách địa phương chứ không phải 1500-2000 tỷ (được phóng đại lên 10 lần) như trả lời trên báo của đ/c Chủ tịch tỉnh Đắk Nông. Thực ra mức đóng góp này là không tương xứng so với số tiền rất lớn VN phải đi vay để đầu tư, và thấp hơn nhiều nếu chúng ta đầu tư vào mục đích khác, không phải là bauxite.

- Về diện tích chiếm đất, tuy diện tích không lớn so với toàn vùng lãnh thổ của Tây Nguyên, nhưng diện tích đất bị các dự án chiếm dụng vĩnh viễn lại là những nơi có giá trị canh tác cao, và (theo báo cáo của sở TNMT Đắk Nông) lớn hơn nhiều lần diện tích được tạo ra hàng năm (so với thành tích mở rộng khai hoang, trồng rừng) của các địa phương này.

5/ Về nội dung bức thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: tôi cho rằng ý kiến của đ/c Chủ tịch VUSTA (Hồ Uy Liêm) nêu trong Tọa đàm (đã không đại diện cho các nhà khoa học) là rất khiếm nhã. Tôi nghĩ cá nhân đ/c Hồ Uy Liêm cần chính thức xin lỗi Đại tướng về lời phát biểu gây nghi ngờ nội dung bức thư.

Tôi hoàn toàn ủng hộ và thêm cảm phục Đại Tướng về bức thư đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm đó. Bản thân tôi đã từng làm đại diện cho Bộ Mỏ và Than của VN làm việc tại Ban Thư ký của COMECON trong cùng thời gian phía Chính Phủ VN đưa dự án bô-xít Tây Nguyên vào Chương trình hợp tác đa biên của COMECON (ngoài tôi, khi đó còn có nhiều người khác chứng kiến như các anh Dương Đức Ưng, đại diện cho Bộ Cơ khí Luyện Kim (nay là Bộ Công thương), Lê Dũng -đại diện cho UB KHKT (nay là Bộ Khoa học công nghệ) v.v... Chúng tôi có đủ thông tin và điều kiện để tìm hiểu dự án này. Những vấn đề Đại tướng đã nêu trong thư là hoàn toàn chính xác. Khi đó (và cả bây giờ), Liên Xô và các nước thành viên COMECON rất cần bô-xít của VN để luyện nhôm cung cấp cho ngành chế tạo xe hơi, máy bay, và trang thiết bị quân sự-quốc phòng. Liên Xô (cũ) không cần chè của VN (khi đó người dân LX chỉ dùng chè của Ấn Độ hay của Sri Lanca), mà chỉ cần bô-xít của VN, những vẫn khuyên VN không phát triển dự án bô-xít mà phát triển các nông trường chè.

6/ Về nhiều ý kiến cho rằng bài tham luận của TKV là “rất hay nhưng khó tin”. Nhân đây, tôi cũng xin bình luận thêm như sau:

- Trước hết, có thể thống nhất một điều là: VN lần đầu tiên triển khai các dự án bauxite, chưa có kinh nghiệm thực tế, nên những vấn đề đang được nêu ra đều chỉ nằm trên giấy (kể cả nhận định của Bộ Công thương, hay cam kết của TKV), còn dừng ở mức độ lý thuyết, dựa trên các thông tin trên TG (của các nhà khoa học) đều chưa được thực tế chứng minh đúng/sai. Điều có thể ai cũng đã nhận ra là tính rủi ro (về mọi mặt: công nghệ, kỹ thuật, môi trường, an ninh, quốc phòng, v.v...) trên thực tế quá cao, còn những giải pháp mới chỉ là "khẩu hiệu".

- Bản thân tôi là một cán bộ làm việc ở TKV từ khi TKV mới được thành lâp đến nay (hiện nay tôi được giao giữ chức Giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng -TKV, là chi nhánh của TKV tại Hưng Yên để phát triển bể than Đồng bằng sông Hồng), tôi cũng cho rằng những "giải pháp" của TKV không có cơ sở khoa học, mới chỉ dừng lại ở mức độ nói về vấn đề bùn đỏ (có độ pH cao), TKV cam kết là không nguy hại, có thể xử lý được. Nhưng, như trên tôi đã nêu, bùn đỏ sẽ ít nguy hiểm khi được xử lý bằng công nghệ thải "khô", còn với công nghệ thải "ướt" như TKV và các nhà thầu TQ đang áp dụng ở Tây Nguyên (chất lỏng 54,4%, chất rắn 45,6%) thì lại rất nguy hại bởi các lý do sau: (i) "Khô" có nghĩa là ít chất sút ăn da lẫn trong bùn đỏ; (ii) Nếu thải "khô", các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn "ướt" thì dung dịch bùn đỏ sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa rất nguy hiểm, dễ bị trôi lấp; (iii) Với công nghệ "khô" thì các đập chắn của các hồ bùn đỏ không phải chịu lực, chỉ có chức năng "chắn". Ngược lại, với công nghệ thải "ướt", các đập của hồ bùn đỏ (theo lựa chọn của TKV cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 850m so với mực nước biển) sẽ giống như các đập hồ thủy điện, phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra, nên kém an toàn.

- TKV nói sẽ rất coi trọng vấn đề xử lý vấn đề bùn đỏ theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên trên thực tế, vì lợi ích của chủ đầu tư, các thiết kế hồ bùn đỏ đều lấy theo tiêu chuẩn GB của TQ. Với qui mô hồ thải bùn đỏ lớn như của TKV (rộng 116ha), các nước trên thế giới phải đầu tư hàng trăm triệu US$, trong khi hồ bùn đỏ của TKV do TQ thiết kế có mức đầu tư ít hơn nhiều lần. Thực tế các dự án nhiệt điện của TKV do các nhà thầu TQ thực hiện đã cho thấy các tiêu chuẩn GB của TQ thường thấp hơn nhiều so với của các nước khác, trong khi đó các nhà thầu TQ thường hay "nói một đằng làm một nẻo", càng không ai dám tin.

- Vấn đề hoàn thổ và bảo vệ môi trường trong khai thác bauxite: mọi người đều hiểu rất rõ thực trạng môi trường của vùng Quảng Ninh hiện nay như thế nào!

- Một điều nữa không thể không làm các đại biểu nghi ngờ là: (i) Tác giả của những bài trình diễn, tham luận đó của TKV là anh Nguyễn Chí Quang, người đã từng bị Thanh tra Chính phủ yêu cầu TKV buộc thôi việc trong dịp Thanh tra CP làm việc với TKV năm 1999-2000. Sau khi bị sa thải, thời gian gần đây, anh Quang lại được đích thân Chủ tịch Hội đồng Quản trị (HĐQT) TKV nhận làm "cố vấn riêng" cho cá nhân Chủ tịch HĐQT. Mặc dù vậy, trong các giao dịch, anh Quang vẫn tự coi mình là cố vấn của HĐQT TKV, cũng có mặt cùng Chủ tịch HĐQT để báo cáo trong nhiều cuộc hội thảo và công khai phát biểu dưới tư cách là "đại diện cho TKV"; (ii) Các chuyên gia giỏi có kinh nghiệm và trình độ thực sự về bauxite-nhôm trước đây (khi làm việc với COMECON, như Hoàng Kim Phú, Tô Ngọc Thái, Nguyễn Hoàng Ban v.v…) thì không được TKV sử dụng, trong khi TKV lại tích cực sử dụng một kỹ sư đã về hưu là Dương Thanh Sùng, người được đánh giá (công khai tại hội thảo của VUSTA) là chỉ thuộc loại "chai lọ" trong lĩnh vực bauxite-nhôm.

Chính sự mập mờ này đã làm cho nhiều người (ngay cả trong TKV và cả bản thân Đại tướng) không thể tin cậy vào những gì "TKV nói".

7/ Về thái độ tiếp thu ý kiến của TKV: Gần đây tôi nhận được công văn "MẬT" của Đảng ủy TKV gửi cho cá nhân tôi với nội dung hình như là tôi đang bị mắc lừa các thế lực phản động hay đang chống lại nghị quyết của Đảng vì đã có những phát biểu chống lại các dự án bauxite của TKV. Tôi rất bất bình về nội dung công văn này. TKV không những không tiếp thu ý kiến của tôi (trong khi TKV chưa có ý kiến nào để phản bác và dư luận rộng rãi đều đồng tình ủng hộ ý kiến của tôi), Đảng ủy TKV lại có văn bản mang tính răn đe theo kiểu "cả vú lấp miệng em" như vậy là không thể chấp nhận được. Nhân đây, tôi xin chính thức báo cáo với Ban Bí thư cũng như VP TW Đảng về vấn đề này như sau:

- Từ trước khi thủ tướng phê duyệt quy hoạch bauxite, tôi đã viết nhiều bài báo khoa học phân tích tính không khả thi của các dự án bauxite đăng trên các tạp chí của VN. Sau khi Thủ tướng ban hành Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01-11-2007, tôi được mời tham luận tại cuộc Hội thảo đầu tiên ở Đắk Nông (12-2007). Đến nay, tôi (tuy đang hưởng lương do TKV trả) vẫn đã và đang chính thức phát biểu công khai, minh bạch ý kiến của cá nhân tôi với tư cách là một cán bộ KHKT phản đối việc triển khai các dự án bauxite trên Tây Nguyên.

- Đây không phải là lần đầu tiên tôi phải đối các việc làm của TKV hay của Bộ Năng lượng (cũ). Những ý kiến phản đối của tôi trước đây được cho là "trái" với các quyết định của TKV, và của Bộ NL đến nay đều được thời gian chứng minh là hoàn toàn đúng đắn (như việc chấm thầu không đúng của dự án điện Na Dương, việc sửa đổi hồ sơ mời thầu có lợi cho nhà thầu trong các dự án điện, việc di chuyển nhà sàng Hòn Gai ra địa điểm Nam Cầu trắng, việc gia tăng qua mức sản lượng than của các mỏ để xuất khẩu cho TQ, v.v…)

- Cũng chính vì "trung ngôn thì nghịch nhĩ" tôi đã từng "được" TKV "xử lý" theo cách áp đặt cho luân chuyển công tác theo tiêu chí việc gì đang làm tốt thì không cho làm nữa, giao cho việc mới khó hơn, để nhường chỗ cho những "trung thần" chỉ biết làm theo.
- Bản thân tôi, là một cán bộ KHKT được Đảng và Nhà nước ưu tiên cho đi đào tạo nhiều lần ở nước ngoài, là một Đảng viên ĐCSVN (tôi được kết nạp tại chi bộ Vụ Kế hoạch Bộ Mỏ và Than từ 1983), tôi luôn sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, đúng lương tri, phục vụ suốt đời cho sự nghiệp của Đảng và dân tộc, chứ không phải chỉ biết làm theo ý đồ và phục vụ cho lợi ích của một nhóm người. Bố đẻ tôi là Đảng viên, cán bộ tiền khởi nghĩa, Huân chương kháng chiến hạng Nhất và hạng Ba, Huy hiệu 60 năm tuổi đảng, Huy hiệu các chiến sỹ bị địch bắt tù đầy đã giáo dục tôi hiểu rõ thế lực phản động là ai và mình cần phải làm gì?

- Tôi không cần phải được Đảng Ủy TKV nhắc nhở về việc tôn trọng pháp luật, trong khi TKV đã cố tình lợi dụng cơ quan ngôn luận của mình (Tạp chí Than-Khoáng sản VN) để công khai vi phạm Luật báo chí, tung tin sai sự thật, bôi nhọ danh dự của tập thể công ty do tôi phụ trách (đúng vào dịp tôi đang bận dự thảo về bauxite ở Đắk Nông).

8/ Về Hội thảo sắp tới do Chính Phủ sẽ tổ chức: (i) Tôi cho rằng cần được chuẩn bị kỹ và phải có đủ thời lượng cần thiết, tạo được tính công khai, dân chủ, tránh hình thức vội chụp mũ; (ii) Nội dung Hội thảo nên tập trung ưu tiên bàn kỹ về tính khả thi về kinh tế, đánh giá hiệu quả kinh tế đầy đủ; và (iii) Để tiết kiệm thời lượng cho việc trao đổi đầy đủ, có lẽ không nên mời các đối tác nước ngoài tham dự vì có nhiều vấn đề tế nhị và nhậy cảm.

Kinh nghiệm cho thấy tại hội thảo 10-2008 ở Đắk Nông vừa qua, các đối tác nước ngoài chỉ lợi dụng thời lượng của hội thảo để làm marketing và quảng bá cho bản thân họ. Còn trên thực tế họ làm như thế nào thì phía VN (Bộ Cơ khí luyện kim trước kia và TKV ngày nay) đã đi xem, thăm quan, khảo sát gần như khắp TG rồi. Nếu đã mời đối tác nước ngoài, cần mời đầy đủ cả các đối tác cũng đã từng khuyên chúng ta không nên làm ồ ạt như hiện nay (như nhà thầu của Pháp).

Cuối cùng, tôi xin chân thành cám ơn các đ/c đã cho phép tôi có dịp trình bầy ý kiến của mình. Xin kính chúc các đồng chí sức khỏe và hạnh phúc.

Kính thư,

TS. Nguyễn Thành Sơn, 19-03-2009

Theo Báo Sài Gòn Tiếp Thị Online 03-04-2009

Bô-xít tuôn lệ đỏ khóc sơn hà (*)

Nguyễn Bặc 29-03-2009

Trước đây khoảng nửa năm, khi nhà cầm quyền Bắc Kinh công bố quyết định sẽ bơm gần 600 tỉ USD (khoảng 450 tỉ Euro) vào một chương trình kích thích kinh tế trong nước trước cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, thì đã có rất nhiều tiếng hoan hô trên diễn đàn quốc tế. Bắc Kinh cho hay sẽ dùng số tiền khổng lồ này để tái thiết hạ tầng cơ sở bệ rạc của mình, hỗ trợ các vùng nông thôn nghèo xơ xác, cũng như xây dựng hệ thống an sinh xã hội sơ khai mấy chục năm qua. Chương trình kích cầu này cũng được cho hay sẽ không yểm trợ các dự án có hại cho môi sinh.

Chính chi tiết cuối cùng này đã làm cho một vài nhà phân tích chính trị Việt Nam nhíu mày: Họ có một ngờ vực nào đó, cho rằng các ngành công nghệ bẩn của Trung Quốc lâu nay (như khai thác quặng mỏ, nhất là mỏ bô-xít, một nguyên liệu để sản xuất nhôm), trước tình thế này sẽ tìm đường qua các xứ nghèo hơn, có nhân công rẻ hơn, có trình độ phát triển công nghệ thấp hơn để tung hoành sản xuất. Nói một cách khác, Trung Quốc đi xuất khẩu ô nhiễm. Việc xuất khẩu ô nhiễm này của Trung Quốc sẽ dễ dàng hơn nữa, nếu xứ nghèo đó lại là một nước độc tài, bị cai trị bởi một cá nhân hay tập đoàn thiếu sáng suốt, tham quyền cố vị, đặt quyền lợi của phe nhóm trên quyền lợi tối cao của dân tộc. Ví dụ như nước Cộng Hoà Guinea bên châu Phi hay là… nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam nằm sát nách Trung Quốc.

Nằm ven biển phía tây châu Phi, Guinea là một nước độc tài quân phiệt (đảo chính liên miên từ 2006 đến nay, lần sau cùng là cuối tháng 12-2008), 10 triệu dân, lợi tức đầu người 473 USD, đứng hạng 157 trên thế giới, lạm phát khoảng 12,5%. Quân phiệt Guinea đã kí với Trung Quốc một hiệp ước, theo đó Trung Quốc xây cho Guinea một đập nước tại Souapiti và một nhà máy thủy điện có công xuất 150 Megawatt trị giá 1 tỉ USD. Để đổi lại, Trung Quốc sẽ có quyền nhập khẩu miễn phí 2 tỉ tấn bô-xít từ Guinea (có trị giá khoảng 800-1000 tỉ USD !).

Và nằm sát nách phía nam Trung Quốc, Việt Nam là một nước độc tài CS (thống trị cả nước liên tục từ 34 năm qua), 82 triệu dân, lợi tức đầu người 818 USD, đứng hạng 141 trên thế giới, lạm phát mới nhất là khoảng 11,5%. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huy, năm 2007 chính Bắc Kinh đã gợi ý ĐCSVN nhượng cho Trung Quốc quyền khai thác các quặng mỏ trên Tây Nguyên (trước 1975 gọi là Cao nguyên Trung phần), đặc biệt là quặng bô-xít. Đổi lại Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam xây dựng và mở rộng đường sá từ Tây Nguyên xuống cảng Cam Ranh, kể cả việc tân trang mở rộng hải cảng này và xây dựng hoàn toàn mới một tuyến đường sắt, dài từ 200 đến 300 km, để chuyển hàng từ Đăk Nông xuống Bình Thuận. Ngày 1-11-2007 thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã ký một quyết định (số 167/2007/QĐ-TTg) thông qua và giao cho Tập đoàn Than-Khoáng sản VN, một công ti quốc doanh, quyền khai thác dự án bô-xít trên Tây Nguyên. Ngày 11-2-2009, bản Tuyên bố chung giữa hai bên Việt Nam và Trung Quốc liên quan tới dự án khai thác quặng bô-xít ở Đăk Nông mới được chính thức công bố, mặc dù văn bản này đã được kí kết từ 8 tháng trước đó, sau chuyến công du Bắc Kinh của Tổng bí thư CSVN Nông Đức Mạnh ngày 30-5-2008 (!).

Nhìn qua thì trên đây chỉ là một cuộc đổi chác, mà phía Việt Nam cũng có phần chấm mút. Vậy tại sao trong và ngoài nước lại nổi lên một làn sóng chống đối mãnh liệt dự án bô-xít Tây Nguyên?  Đâu là vấn đề?

Vấn đề thứ nhất: Dự án bô-xít Tây Nguyên sẽ đem lại một thảm họa môi sinh vô tiền khoán hậu trên đất nước ta.

Các lợi nhỏ trước mắt sẽ không bù đắp được một phần trăm, phần ngàn sự tàn phá đất đai, sông ngòi và không khí của hằng thế hệ con cháu chúng ta sau nay.

Vì bô-xít được khai thác lộ thiên, nên phương thức này sẽ chiếm dụng vô số đất đai, người ta bắt buộc phải phá rừng và hủy hoại môi trường sinh vật trên Tây Nguyên. Có thể tính đổ đồng rằng muốn có 1 triệu tấn Alumina (Alumina chưa phải là nhôm kim loại, mà chỉ là quặng bô-xít sơ chế, công thức hoá học là Oxyd nhôm Al2O3, để xuất khẩu), người ta phải phá bình quân 450 hec-ta rừng. Theo các dự án đầy tham vọng của các quan chức CSVN thì tổng công suất dự tính sẽ lên đến 18 triệu tấn/năm, tương đương với việc phá một diện tích đất đai là 8 ngàn hec-ta mỗi năm, năm này qua năm khác! Trong khi đó, dù chưa tính đến hậu quả tai hại của dự án bô-xít, sự tàn phá môi trường diễn ra từ năm 1975 đến nay ở Tây Nguyên đã quá sức tưởng tượng rồi: Riêng Lâm Đồng có 67 ngàn hec-ta rừng thông, thì đã bị phá hủy 52 ngàn hec-ta !

Ngoài việc phá rừng và chiếm đất, việc khai thác bô-xít để chế biến Alumina còn tốn một lượng nước khổng lồ (24 triệu m3 nước cho 1 triệu tấn Alumina!), điều mà Tây Nguyên không có. Các dự án lại được thiết kế nằm ở vùng các suối đầu nguồn cung cấp nước cho các sông La Ngà, Đồng Nai, là các nguồn nước chính của thủy điện Hàm Thuận–Đa Mi và hồ Trị An. Hoặc nằm ở vùng đầu nguồn suối Đăk R’Tih–nguồn nước chính của các nhà máy thủy điện nằm trên sông Sêprốc. Nếu lấy nước để tinh chế Alumina thì sẽ thiếu nước nghiêm trọng cho yêu cầu của dân sinh, trồng trọt và cho thủy điện. Trong khi đó, mực nước ngầm tại Tây Nguyên đã giảm mất cả 20 mét, vì nhiều năm qua việc canh tác cao su, cà phê, trà, hột điều, hồ tiêu… đã được đẩy mạnh quá mức.

Nhưng vấn đề môi sinh nhức nhối số một trong quá trình sơ chế Alumina là chất thải cực kì nguy hiểm của nó, gọi là bùn đỏ (tiếng Đức là Rotschlamm). Chất bùn đỏ được thải ra trong quá trình sơ chế Alumina, còn đọng lại một lượng Natronlauge rất lớn, cùng với những hoá chất khác như Oxyd sắt, Oxyd titan và nhiều hợp chất khác, có tác dụng ăn mòn và hủy diệt môi sinh nơi chứa nó, có thể ô nhiễm nguy hiểm các mạch nước ngầm và môi sinh của các vùng chung quanh. Cứ sơ chế 1 tấn bô-xít thì người ta phải thải ra nửa tấn bùn đỏ, cộng thêm với một khối nước nhiễm bùn. Vì các dự án của Việt Nam chọn phương pháp rẻ tiền, gọi là công nghệ thải “ướt” (lạc hậu và nguy hại cho môi trường hơn công nghệ thải “khô” đắt hơn), nên chất lỏng bùn đỏ phải lưu trữ trong các hồ chứa khổng lồ, có những đập chắn to lớn như đập hồ thủy điện. Vì địa thế cao của Tây Nguyên, có gió lớn về mùa khô và mưa nhiều về mùa mưa, nên việc giữ cho hàng triệu tấn bùn đỏ năm này qua năm khác trong các hồ chứa không bị gió bốc bay đi hoặc không trôi xuống các vùng dân cư chung quanh sẽ vô cùng tốn kém và mang nhiều rủi ro khôn lường sau này.

Chưa nói đến nhu cầu năng lượng để tinh chế Alumina (mà Việt Nam hiện đang thiếu hụt nghiêm trọng), việc phải tích trữ trên Tây Nguyên một số lượng khổng lồ về hoá chất cho các nhà máy bô-xít, hay việc phá hoại thô bạo thiên nhiên để xây đường sá, cầu hầm và nguy cơ ô nhiễm bãi biển trong các hải cảng tương lai để xuất khẩu quặng bô-xít sơ chế, các vấn đề nói trên cũng đủ cho thấy nguy cơ của một thảm họa môi sinh kinh hoàng, di hại cho nhiều thế hệ con em Việt Nam.

Không phải là không có lí do, khi mà trong năm 2008 chính Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa gần 100 mỏ bô-xít trong vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây và trong huyện Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây (trong đó có những mỏ chỉ vừa mới đi vào hoạt động được một năm), vì "quặng bauxite tàn phá môi trường, gây ra nhiều bệnh tật lạ cực kỳ nguy hiểm cho sức khoẻ con người" (Nhân Dân Nhật Báo).

Vấn đề thứ hai: Dự án bô-xít Tây Nguyên là một nguy cơ về an ninh, quốc phòng cho nước ta.

Nó chỉ là một lí cớ để người Trung Quốc có mặt chính thức và đông đảo trên một địa bàn chiến lược vô cùng quan trọng của Việt Nam.

Nó nằm trong cái gọi là chủ trương "hai Hành lang, một Vành đai kinh tế" của Trung Quốc (x. Bản Tuyên bố chung Việt-Trung ngày 2-6-2008, Điều 5). Hai Hành lang ở đây là quốc lộ 1 của Việt Nam và quốc lộ 13 của Lào, một Vành đai kinh tế là vùng Nam Hoa và ba quốc gia Đông Dương. Quốc lộ 13 nối liền miền Bắc Lào xuống Nam Lào vừa hoàn tất cuối năm 2008. Hiện nay Bắc Kinh đang giúp Kampuchia xây dựng lại quốc lộ 7, nối liền miền Bắc xuống hải cảng Kampot và Kompong Som trong vịnh Thái Lan, dự trù xong cuối năm nay. Nếu dự án Hành lang 2 này (nối liền các tỉnh Vân Nam và Quảng Tây với vịnh Thái Lan) hoàn tất, hàng hoá xuất khẩu và tài nguyên nhập khẩu sẽ ra vào miền Hoa Nam một cách thong dong, thẳng đuột.

Trong chiến lược này thì hai Hành lang giống như 2 ngón tay xỉa dài của Trung Quốc chọc thẳng vào cái gọi là "Vành đai Kinh tế" mà Bắc Kinh có lẽ xem như “sân nhà” của mình (tương tự như chủ trương của Trung Quốc lâu nay xem Biển Đông từ đảo Hải Nam đến Trường Sa là “ao nhà” của họ).

Trong khi Hành lang 2 được Bắc Kinh xem đã nắm chắc trong tay rồi, thì Hành lang 1 (quốc lộ 1 của Việt Nam) cần phải được bảo đảm hơn nữa bằng sự hiện diện hữu cơ và đông đảo của người Trung Quốc.

Mặc dầu các dự án khai thác quặng bô-xít chưa được thông qua, trong lúc các chuyên gia và quan chức Việt Nam còn đang tổ chức các cuộc “toạ đàm” tới lui về vấn đề “Mất và được trong việc khai thác bô-xít Tây Nguyên” v.v. và v.v… thì hơn 1000 người Trung Quốc “lạ lẫm” đã có mặt tại Đăk Nông để đo đạc, đào xới và xây dựng cơ xưởng. Còn ở Bảo Lâm (Bảo Lộc-Lâm Đồng), một cán bộ phòng Lao động Thương binh tại thị xã Bảo Lộc nói rằng hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây. Sau một hàng rào cao hơn đầu người là một dãy nhà mới xây khang trang làm nơi ở của các "chuyên gia" Trung Quốc. Cũng tại Bảo Lâm, các cửa hàng (“Trung Hoa Quán”) đã mọc lên để phục vụ các "chuyên gia" và công nhân “nước bạn”, mà tổng số trên toàn Tây Nguyên có khả năng lên tới từ 10.000 đến 20.000 người và có nhiều dấu hiệu chứng tỏ đây là những quân nhân mặc thường phục.

Vấn đề thứ ba: Dự án bô-xít Tây Nguyên sẽ đem lại nhiều bất ổn xã hội cho nước ta.

Từ xưa nay, cộng đồng người Thượng vùng Cao nguyên Trung phần (với các dân tộc lớn là Bahnar, Jarai, Radé, Kaho, Mnong và Stieng) đã chưa bao giờ thắm thiết được với các chính quyền trung ương, dù chính quyền đó là Sài Gòn trước kia, hay Hà Nội từ 1975 đến nay. Họ có những liên hệ thân thiện hơn với người Pháp hay người Mỹ trong thời chiến tranh, vì những người phương xa này có chính sách gian ngoan lấy lòng họ, huấn luyện quân sự cho họ, để dùng họ làm phương tiện áp lực chính trị với chính quyền người Kinh. Ngược lại, các chính quyền Sài Gòn hay Hà Nội không những đối xử tệ hại với họ như con ghẻ, mà còn luôn luôn nhìn họ với cặp mắt đầy nghi ngờ, đàn áp ngấm ngầm và công khai các phong trào đòi quyền sống chính đáng của họ. Tình hình đàn áp người Thượng Tây Nguyên dưới thời CSVN đã lên cao điểm, thời các quan chức đỏ tìm cách chiếm cứ đất đai, núi rừng -là không gian sinh sống của người Thượng- rồi bán cho dân di cư từ các tỉnh miền Bắc ào ạt vào trồng trọt, lập nghiệp. Dân số Tây Nguyên trước đây là 1,2 triệu, nay đã lên đến 4 triệu. Năm 2001, hàng ngàn người Thượng Tây Nguyên đã tổ chức đứng lên biểu tình ôn hoà để đòi đất sống và đòi tự do tôn giáo (nhiều người Thượng theo đạo Tin Lành, do chính sách truyền đạo của người Mỹ trong thời chiến tranh Việt Nam). Họ đã bị CSVN dồn quân đội đàn áp vô cùng man rợ. Hàng loạt những người lãnh đạo Thượng đã bị bắt trong đợt này và xử tù nặng đến 10-12 năm, nhiều người vô danh chết trong cuộc tra tấn của CSVN. Những năm sau đó, hàng ngàn người dân Thượng lũ lượt kéo nhau qua Kampuchia xin tị nạn chính trị với UNHCR. Làn sóng bất mãn này trong tương lai chắc chắn sẽ gia tăng trong cộng đồng người Thượng, nếu đất đai và núi rừng Tây Nguyên bị dự án bô-xít tàn phá một cách có hệ thống.

Các chuyên gia an ninh CSVN sẽ nghĩ sao, nếu phong trào phản kháng này của người Thượng Tây Nguyên sẽ bị các chuyên gia tình báo Trung Quốc lợi dụng và huấn luyện họ thành một lực lượng FULRO mạnh, lần này thì trung thành với Bắc Kinh ? Và họ sẽ tính sao, nếu số người kinh lên Tây Nguyên lập nghiệp lâu nay nổi lên chống đối vì sự thu nhập tại các đồn điền cao su, cà phê, trà, hột điều, hồ tiêu,… bỗng nhiên sụt giảm vì các hậu quả môi sinh tai hại của dự án bô-xít (bùn đỏ, thiếu nước canh tác, thiếu điện cho các trạm bơm…) ? Và nếu ngành du lịch và ngư nghiệp của dân cư vùng duyên hải Trung bộ cũng bị khốn đốn năm này qua tháng khác vì ô nhiễm không khí và biển cả do bô-xít gây ra ?

Trước phong trào phản kháng của nhân dân trong và ngoài nước, Thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định hôm 4-2-2009 rằng việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước” và quyết tâm theo đuổi.

Đó là một chủ trương sai lầm, và là một sai lầm cố ý ! Chủ trương sai lầm này là một tội ác của CS Hà Nội đối với con người Việt Nam và đất nước Việt Nam !

Stuttgart, 29-3-2009

(*) Tựa bài mượn 1 câu trong bài thơ “Lửa Bô-xít” của Hà Sĩ Phu.

Báo cáo các vấn đề xung quanh việc triển khai các dự án bauxite ở Tây Nguyên

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Khoảng 06-04-2009

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Khai thác khoáng sản bauxite trong thời gian gần đây nhận đã được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ. Tại quyết định số 55/2007/QĐ-TTg, công nghiệp bauxite - nhôm được coi là một trong các ngành công nghiệp ưu tiên giai đoạn 2007–2010 và tầm nhìn đến 2020. Tiếp theo đó, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 167/2007/QĐ-TTg ngày 1-11-2007 về việc “phê duyệt quy hoạch phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007–2015 có xét đến năm 2025”. Theo quyết định này, từ nay đến năm 2015 tại vùng Tây Nguyên sẽ xây dựng 6 nhà máy Alumin (Al2O3) để sản xuất từ 6,0-8,5 triệu tấn alumin; 1 nhà máy điện phân nhôm công suất từ 0,2-0,4 triệu tấn, 1 đường sắt khổ đơn dài 270km từ Đăk Nông đến Bình Thuận và 1 cảng biển chuyên dụng công suất 10-15 triệu tấn tại Bình Thuận. Theo quyết định 167, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) là đơn vị được giao làm cơ quan đầu mối quản lý các dự án khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm ở Tây Nguyên. Hiện nay, tổ hợp bauxite - nhôm Lâm Đồng đã được khởi công xây dựng tại Tân Rai, huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng với công suất 600.000 tấn alumin / năm.

Rất tiếc là trong quá trình xây dựng quy hoạch chúng ta đã bỏ qua việc đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC), một đòi hỏi bắt buộc của Luật môi trường đã được Quốc hội thông qua tháng 11 năm 2005.

Nhận thức tầm quan trọng của vấn đề cùng với chức năng tư vấn, phản biện và giám định xã hội theo Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg ngày 30 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ; Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (gọi tắt là Liên hiệp hội Việt Nam) đã thực hiện đề tài bước đầu tìm hiểu về chương trình này.

Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam thực hiện đánh giá việc triển khai các dự án bauxite Tây nguyên trên nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững, hài hoà giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

II. PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1. Các phương pháp sử dụng trong cuộc đánh giá

Cuộc đánh giá được tiến hành trên căn bản bốn phương pháp:

i. Phân tích tài liệu hiện có

Đã tập hợp các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến bauxite Tây Nguyên.

ii. Phỏng vấn sâu

Tiến hành phỏng vấn sâu các cán bộ lãnh đạo hai tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng, huyện Bảo Lộc, các sở, ban ngành có liên quan của hai tỉnh, ban quân sự huyện Tuy Đức, cán bộ các ban quản lý dự án, các công ty Nhân Cơ, Tân Rai, khu vực mỏ 1/5 và một số cư dân tại địa bàn hai nhà máy.

iii. Nghiên cứu thực địa

Đã tham gia chuyến tham quan tại Bình Quả, Quảng Tây, Trung Quốc do Bộ Công thương tổ chức và tiến hành khảo sát điền dã tại hai tỉnh Đăk Nông và Lâm Đồng.

iv. Hội thảo lấy ý kiến

Đã tổ chức 4 cuộc hội thảo lấy ý kiến các chuyên gia khoa học trong các ngành có liên quan.

2. Nhược điểm có thể của các phương pháp sử dụng

- Đã không thể có được các số liệu đầu vào sâu và đầy đủ hơn để kiểm định thật chính xác hiệu quả kinh tế các dự án đang được TKV tiến hành tại Tây Nguyên và cho cả chương trình, vì vậy chưa có điều kiện để thẩm định lại kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án Nhân Cơ (Đắc Nông) và Tân Rai (Bảo Lâm, Lâm Đồng).

- Chưa thể phỏng vấn đầy đủ đại diện các đối tượng có thể có liên quan đến việc khai thác và chế biến bauxite.

III. KẾT QUẢ

1. Trữ lượng tài nguyên bauxite và cân đối cung - cầu thị trường alumin - nhôm trên Thế giới

Trên thế giới nhôm là một trong 4 kim loại màu cơ bản được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp quan trọng như chế tạo thiết bị điện, phương tiện vận tải, xây dựng, chế tạo máy, vũ khí, vật liệu bao gói, đồ đựng nước uống giải khát và sản xuất đồ gia dụng. Tổng tài nguyên khoán sản bauxite trên thế giới ước đạt 75,2 tỷ tấn, phân bố chủ yếu tại các quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong đó Ghi nê, Australia và Việt Nam là các quốc gia có trữ lượng bauxite lớn nhất (Cục Địa chất, Khoáng sản Mỹ, 2007). Theo đánh giá địa chất, trữ lượng bauxite của Việt Nam ước đạt 2,4 tỷ tấn quặng tinh, trong đó Tây Nguyên chiếm 91,4% [1]. Xét về nguồn gốc, quặng bauxite ở Việt Nam có hai loại chính là quặng bauxite gibsit (quặng 3 nước) phân bố chủ yếu ở Tây Nguyên (các tỉnh như Đăk Nông, Lâm Đồng, Giai Lai, Kon Tum và Bình Phước) và quặng bauxite diaspor (quặng 1 nước) phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang…

Tổng lượng tiêu thụ nhôm nguyên sinh trên thế giới năm 2007 đạt 38 triệu tấn và dự báo sẽ tăng lên 51,8 triệu tấn năm 2012 và đạt 74,9 triệu tấn vào năm 2020. Trong khi đó, theo dữ liệu nghiên cứu của WBMS thì sản xuất nhôm của thế giới năm 2007 đạt 38,02 triệu tấn, năm 2008 đạt 41,9 triệu tấn và đến năm 2020 khoảng 78,5 triệu tấn. Từ năm 2008 đến 2011 thị trường nhôm sẽ xảy ra dư thừa từ 0,1–1,8 triệu tấn/năm, nhưng đến giai đoạn từ 2012 đến 2020, nhôm lại rơi vào tình trạng thiếu hụt khoảng từ 0,3 triệu tấn đến 2,6 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, Việt Nam sẽ khó có khả năng tham gia vào sản xuất và xuất khẩu nhôm trên thị trường thế giới do quá trình điện phân nhôm đòi hỏi nguồn điện với giá rẻ lớn, trong khi Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng khan hiếm năng lượng hiện nay.

Theo đánh giá của AOA VAMI RUSAL, sản lượng alumin [2] thế giới năm 2007 đạt 74,7 triệu tấn, tăng 6,9% so với năm 2006 và tăng 40,1% so với năm 2000. Sự tăng trưởng mạnh mẽ sản lượng alumin đạt được là do nhu cầu về nhôm tăng mạnh, đặc biệt là từ nhu cầu của Trung Quốc và các Quốc gia thuộc Mỹ La Tinh. Cũng theo dự báo của RUSAL sản lượng alumin trên thế giới giai đoạn 2008-2014 sẽ tăng khoảng 50 triệu tấn. Phần lớn alumin được giao dịch trên thị trường Thế giới thông qua những hợp đồng dài hạn, chỉ có một phần nhỏ, khoảng 10% tham gia vào thị trường trôi nổi. Giá alumin trên thị trường dao động bằng khoảng từ 11-15% so với giá nhôm. Nhóm Broc Hunt nghiên cứu thị trường alumin Thế giới và cho ra một dự báo dài hạn về thị trường alumina đến năm 2020 theo bảng dưới đây:

aluminium world

Nguồn: Broc Hunt

Nhìn vào bảng có thể thấy, từ năm 2008 - 2012 sẽ xuất hiện tình trạng dư thừa về nguồn cung alumin, khoảng 1,1-2,1 triệu tấn/năm. Tuy nhiên, từ năm 2013 - 2017 sẽ lại có sự thiếu hụt khoảng dưới 1 triệu tấn alumin/năm. Cần lưu ý, trong tính toán này Việt Nam chưa được đưa vào là quốc gia cung cấp alumin trên thế giới và vì thế nếu như dự báo này là đúng thì Việt Nam sẽ khó có thể tham gia vào thị trường xuất khẩu alumin trên thế giới, đặc biệt là với quy mô lớn. Chúng ta chỉ có duy nhất một đối tác là Trung Quốc. Điều đó rất bất lợi cho Việt Nam.

Một điểm cần lưu ý là tất cả các nghiên cứu và dự báo trên đây đều được thực hiện khi chưa xảy ra cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính trên Thế giới như hiện nay. Suy thoái kinh tế Thế giới đã kéo theo mức tiêu thụ nhôm giảm đáng kể, giá nhôm nguyên sinh và tất nhiên cả giá alumin giảm nhiều. Giá nhôm trên thị trường Thế giới LME nay ở mức dao động 1.400USD/tấn và giá alumin dao động 250USD/tấn. Do biến động này nhiều dự án mở rộng sản xuất alumin và nhôm nguyên sinh trên thế giới đang được xem xét tạm dừng hoặc bãi bỏ.

2. Các vấn đề sử dụng công nghệ tại các nhà máy alumin của Việt Nam

Quy trình sản xuất nhôm kim loại được tóm tắt thành các bước như sau:

KHAI THÁC TUYỂN QUẶNG SẢN XUẤT ALUMIN ĐIỆN PHÂN NHÔM

Trong 4 giai đoạn trên của quy trình sản xuất nhôm, quy trình công nghệ giai đoạn khai thác quặng và tuyển quặng tinh khá đơn giản do đặc tính phân bố của khoáng sản bauxite gibsit ở Tây Nguyên là gần như lộ thiên. Các công đoạn này đều có thể do Việt Nam đảm nhận thực hiện. Từ công đoạn thứ 3 (sản xuất alumin) Việt Nam hoàn toàn phải nhập công nghệ từ nước ngoài. Tuy nhiên, do điều kiện thiếu hụt về năng lượng nên chắc chắn trong thời gian tới Việt Nam chưa thể điện phân nhôm, hoặc nếu có thể cũng chỉ ở quy mô nhỏ. Các nhà máy hiện tại đang bước đầu triển khai ở Tây Nguyên cũng chỉ đến giai đoạn 3 là sản xuất alumin để xuất khẩu.

Trên Thế giới hiện nay có nhiều công ty, quốc gia có khả năng cung cấp công nghệ sản xuất alumin. Tuy nhiên, không phải bất cứ công ty nhôm nào cũng có thể cung cấp công nghệ tốt, đặc biệt đối với các quốc gia không có công nghệ sản xuất nguồn. Việc lựa chọn đối tác cung cấp công nghệ sản xuất alumin là hết sức quan trọng trong việc đảm bảo nhà máy xây dựng xong vận hành an toàn, cho các chỉ tiêu kỹ thuật và kinh tế tốt. Chúng ta cần rút bài học kinh nghiệm từ nhà máy đồng Sinh Quyền, tỉnh Lào Cai sử dụng công nghệ Trung Quốc, vì không cẩn trọng trong khâu lựa chọn công nghệ, nên cho đến nay trong khi vận hành nhà máy đã xảy ra nhiều sự cố liên tục và chưa bao giờ đạt công suất thiết kế. Hơn nữa, theo một số thông tin thì hàm lượng đồng còn lại trong xỉ thải quá lớn (khoảng 7%) thay vì < 1% như yêu cầu.

Trong thời gian gần đây Tập đoàn TKV đã triển khai khởi công nhà máy sản xuất alumin tại huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng. Đơn vị trúng thầu cung cấp gói thầu EPC (thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và xây dựng) cho nhà máy chính và quan trọng nhất là nhà thầu Công ty hữu hạn công trình quốc tế ngành nhôm Trung Quốc - CHALIECO với trị giá 466 triệu USD, và gần đây nhà thầu này lại tiếp tục được TKV chỉ định thầu tại nhà máy alumin Nhân Cơ, tỉnh Đăk Nông với giá trị 499,2 triệu USD. Việc cả 2 nhà máy alumin đầu tiên của Việt Nam đều sử dụng công nghệ của 1 công ty Trung Quốc là điều đáng lo ngại bởi những lẽ sau:

1. Trung Quốc không phải là quốc gia có công nghệ nguồn sản xuất alumin từ bauxite gibsit trên thế giới.

2. Quy trình kỹ thuật mà nhà thầu CHALIECO đang sử dụng ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc (nơi chúng tôi đã được đi tham quan) là quy trình công nghệ sử dụng để chế biến cho loại bauxite diaspor, khác hẳn với bauxite gibsit có nguồn gốc phong hóa ở Tây Nguyên. Khẳng định rằng quặng bauxite ở Bình Quả, Quảng Tây có đặc điểm kiến tạo khá tương đồng với quặng bauxite của Việt Nam là không chính xác (Báo cáo số 278/BC-BCSĐ ngày 11-2-2009 của Ban Cán sự Đảng Chính phủ). Quặng bauxite Bình Quả, Quảng Tây là khoáng sản trầm tích diaspor trên vùng núi đá vôi giống như ở Hà Giang, Cao Bằng của nước ta. Trong khi đó quặng bauxite gibsit ở Tây Nguyên là kết quả của quá trình phong hoá đá Bazan. Hai loại quặng này có cơ lý tính rất khác nhau, thành phần cũng khác nhau nên đòi hỏi các chế độ công nghệ khác nhau cũng như cách xử lý khác nhau sau khai thác.

3. Công nghệ thải bùn đỏ “khô” sẽ được áp dụng tại Tân Rai, Bảo Lâm, Lâm Đồng nhưng “ướt” sẽ được áp dụng tại các nhà máy alumin ở Đắc Nông. Hiện nay, công nghệ bùn đỏ “ướt” đã không còn được sử dụng nhiều trên Thế giới, đặc biệt là các nước phát triển, do có nguy cơ lớn đối với môi trường. Hiện nay, các Quốc gia (đặc biệt là các nước vùng nhiệt đới có mưa nhiều như ở Tây Nguyên, Việt Nam) đang chuyển dần từ công nghệ thải bùn đỏ “ướt” sang công nghệ “khô” bởi các lý do sau: (i) Nếu thải “khô”, các thành phần cỡ hạt khác nhau của bùn đỏ sẽ đông cứng lại thành chất rắn, ít nguy hại nếu bị trôi lấp. Còn “ướt” thì dung dịch bùn đỏ chứa xút độc hại sẽ phân ly thành nhiều pha với các cỡ hạt khác nhau, trong đó có pha cỡ hạt siêu nhỏ gồm các kim loại nặng độc hại sẽ ngấm xuống đất, còn các pha cỡ hạt lớn lại không thể liên kết lại với nhau khi gặp mưa dễ bị trôi lấp; (ii) với công nghệ thải “ướt”, các đập của hồ bùn đỏ (cao tới 25m, dài 282m, nằm trên độ cao 700-800m so với mực nước biển) sẽ có nguy cơ bị vỡ nhiều hơn bởi giống như các đập hồ thủy điện các đập này phải chịu lực do áp lực thủy tĩnh của bùn đỏ ướt tạo ra.

4. Việc lựa chọn công nghệ cho cả 2 nhà máy alumin đầu tiên của Việt Nam đều do 1 nhà thầu của Trung Quốc có thể giúp chủ đầu tư giảm chi phí nhưng có thể đó lại không phải là giải pháp tối ưu và khôn ngoan nhất, đặc biệt khi chúng ta chưa có hiểu biết về công nghệ và khi mà các công nghệ của Trung Quốc chưa được đánh giá cao, dẫn đến mức độ rủi ro và phụ thuộc sẽ rất cao. Theo chúng tôi, cần tính toán đến phương án lựa chọn 2 nhà thầu khác nhau ở hai nhà máy (hoặc lựa chọn phương án liên doanh ở nhà máy thứ hai) để có thể so sánh, đối chứng về mặt công nghệ, từ đó có những lựa chọn tốt hơn cho các nhà máy trong tương lai. Giải thích của tập đoàn TKV cho rằng các nhà thầu Quốc tế khác không tham gia bỏ thầu vì giá thầu của các nhà máy này thấp (dưới 500 triệu USD) dường như chưa thuyết phục. Một điểm lưu ý nữa đối với cách đấu thầu của nhà thầu CHALIECO đó là họ bỏ giá thầu thấp, nhưng khi thắng thầu họ lại yêu cầu tăng giá - như trong trường hợp nhà máy Tân Rai, Lâm Đồng giá bỏ thầu được chấp nhận của họ là 352,9 triệu USD, nhưng khi đàm phán hợp đồng thầu họ đã yêu cầu tăng lên thành 466 triệu USD và giải thích là có sự biến động về tỷ giá giữa đồng Nhân dân tệ và USD. Cuối cùng, Tập đoàn TKV đã phải chấp nhận giá 466 triệu USD và còn có nguy cơ tăng hơn nữa trong tương lai.

3. Các vấn đề về sử dụng tài nguyên và hiệu quả kinh tế

Như đã trình bày ở trên, do đang phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt năng lượng nên trong thời gian tới Việt Nam chưa thể điện phân nhôm mà chủ yếu chỉ sản xuất alumin, một dạng sản phẩm chế biến thô để xuất khẩu. Điều này sẽ dẫn tới lãng phí tài nguyên và hiệu quả kinh tế rất thấp, cụ thể như sau:

3.1. Sử dụng tài nguyên

Theo quy hoạch của Chính phủ, đến năm 2025 Việt Nam sẽ sản xuất và xuất khẩu khoảng từ 12-18 triệu tấn alumin/năm với tổng kinh phí đầu tư lên đến hàng chục tỷ USD [3] nhưng chưa có một chiến lược tổng thể tối ưu, cân nhắc thấu đáo mọi mặt cho việc phát triển toàn diện, bao gồm cả quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng cho Tây Nguyên trong mối liên quan chung với phát triển tổng thể của cả nước. Kế hoạch này cũng chưa đưa ra được những tính toán toán về hiệu quả kinh tế tổng thể của chương trình. Theo báo cáo của Tập đoàn TKV tại hội thảo Đăk Nông, với chất lượng quặng bauxite ở Việt Nam, nếu muốn sản xuất 1 tấn alumin cần khoảng 2,5 tấn quặng bauxite tinh (công thức 1:2:5 tức là – 1 tấn nhôm cần 2 tấn alumin và cần 5 tấn bauxite). Như vậy, với trữ lượng ước đạt 2,4 tỷ tấn quặng tinh tài nguyên bauxite của Việt Nam sẽ hết sau 64 năm sản xuất alumin vì để sản xuất 15 triệu tấn alumin, chúng ta cần sử dụng 37,5 triệu tấn quặng tinh bauxite mỗi năm. Cần lưu ý rằng giá alumin trên thị trường Thế giới thông thường chỉ bằng khoảng 11-15% giá nhôm.

3.2. Hiệu quả kinh tế của chương trình

Hai nhà máy Nhân Cơ và Tân Rai đang được xây dựng, nếu được hạch toán đầy đủ có nguy cơ thua lỗ lớn về mặt tài chính. Trong bảng tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế tài chính của hai dự án, nhà máy alumin Tân Rai có vốn đầu tư ban đầu là 628 triệu USD, nhà máy alumin Nhân Cơ là 697 triệu USD. Với hệ số chiết khấu [4] 9,41%, nhà máy Tân Rai với chỉ số IRR là 11,57% với giá alumin là 362USD/tấn, còn IR của nhà máy Nhân Cơ chỉ có 9,42%, với giá bán alumin 344 USD/tấn. Theo bản quản lý dự án của tập đoàn TKV, vốn đầu tư ban đầu của nhà máy Tân Rai đã tăng lên đến 800 triệu USD, còn của nhà máy Nhân Cơ tăng lên đến 714 triệu USD. Như vậy IRR của nhà máy Nhân Cơ sẽ nhỏ hơn hệ số chiết khấu, còn đối với nhà máy Tân Rai nếu tính với giá bán alumin 344 USD/tấn và vốn đầu tư ban đầu tăng lên như nêu ở trên thì IRR chắc chắn sẽ thấp hơn hệ số chiết khấu nhiều. Điều đó thể hiện hai nhà máy alumin này không khả thi.

Giá thành một tấn alumin của nhà máy Tân Rai là 223 USD, còn của nhà máy Nhân Cơ là 241 USD. Cần lưu ý giá thành này chưa bao gồm các chi phí khác như:

- Chi phí vận chuyển từ nhà máy xuống cảng biển: Cước phí vận tải bằng ô-tô trên đường bộ miền Trung dao động giữa 2000–3000 VNĐ cho 1km/tấn, như vậy riêng tiền vận tải bằng ô-tô để đưa được 1 tấn alumin khoảng 300 km từ mỏ tới cảng biển miền Trung (bao gồm cả chi phí hai chiều: lượt lên núi mang nguyên liệu phục vụ sản xuất alumin, lượt xuống núi chở sản phẩm alumin) ước tính tối thiểu khoảng 50 USD. Đó là chưa kể đến các chi phí duy tu, bảo dưỡng đường ô tô từ khu mỏ xuống cảng biển.

- Chi phí chiết khấu đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông (đường bộ, đường sắt) cảng biển;

- Chi phí giảm thiểu tác động văn hóa - xã hội và hỗ trợ ổn định sinh kế cộng đồng bị ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp;

- Chi phí cơ hội (mất nguồn thu từ các ngành nghề kinh tế khác do chiếm dụng đất, vốn và cơ sở hạ tầng);

- Thuế các loại: VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp và đặc biệt là thuế thương quyền 10% theo tinh thần thông báo số 2728/TB-CP ngày 2/5/2008 kết luận của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế đầu tư, hợp tác trong các dự án bauxite - alumin.

Trong giải trình của Ban Nhôm với Hội đồng quản trị Tập đoàn TKV đã nêu lên rằng dự án xây dựng nhà máy Nhân Cơ sẽ không có hiệu quả kinh tế khi chỉ cần một trong các trường hợp sau xẩy ra:

- Tăng thuế xuất alumin > 5%

- Tăng phí môi trường > 15.000 đồng/tấn quặng nguyên khai. Điều này chắc chắn sẽ xảy ra.

- Tăng phí hoàn nguyên, phục hồi môi trường > 25.000 đồng/tấn quặng nguyên khai. Điều này cũng chắc chắn sẽ xảy ra.

- Giảm giá bán alumin xuống dưới 5% so với giá dự án dự báo của CRU (giá dự án chọn 310 USD/tấn).

Gần đây, giá nhôm và alumin trên thị trường đang sụt giảm một cách nghiêm trọng. Giá Nhôm tại thị trường LME tháng 3 năm 2009 giao động khoảng 1.400 USD / tấn và giá alumina giao động khoảng 250 USD / tấn. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế và suy thoái hiện nay giá cả thị trường sẽ vẫn còn lên xuống thất thường, khó dự đoán. Tuy nhiên, nếu lấy thời điểm này để tính toán thì mỗi tấn alumin sản xuất ra sẽ có mức lỗ giao động từ 50–100 USD. Với công suất 2 nhà máy là 1,2 triệu tấn / năm, mỗi năm TKV sẽ phải bù lỗ cho 2 nhà máy này từ 60 triệu - 120 triệu USD.

4. Các vấn đề về cơ sở hạ tầng và năng lượng

4.1. Vấn đề về vận tải

- Hai dự án Tân Rai và Nhân Cơ tuy đã triển khai nhưng đến nay vẫn chưa có lời giải xác đáng cho vấn đề giao thông vận tải. Nếu sản xuất alumin trên Tây Nguyên, chúng ta chỉ có 2 phương án vận chuyển để lựa chọn, đó là đường bộ và đường sắt. Tại Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01-11-2007 của Thủ tướng Chính phủ dự kiến sẽ xây dựng đường sắt khổ đôi rộng 1.34m từ Đăk Nông qua Lâm Đồng, xuống xuống Bình Thuận. Hiện tại, chương trình này đang được Công ty tư vấn thiết kế giao thông vận tải (TEDI) tiến hành nghiên cứu tiền khả thi nhưng một số khó khăn đã bộc lộ:

* Về kỹ thuật: Tuyến đường sắt có chiều dài 270km và phải vượt độ chênh cao tương đương 700m, có nhiều khúc cua quanh co, nguy hiểm vượt quá mức cho phép của đường sắt thông thường. Vì thế, phải thiết kế đường sắt đặc biệt, kéo dài tuyến đường, chạy vòng vèo theo các sườn núi, sao cho vừa đạt độ dốc cần thiết, vừa đảm bảo bán kính cong tối thiểu để an toàn cho vận hành tàu, đặc biệt trên cung đường từ rìa Tây đồng bằng Phan Thiết vượt sườn Đông của dải Nam Trường Sơn. Nhìn chung, việc xây dựng tuyến đường sắt này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong thiết kế kỹ thuật và đảm bảo độ an toàn vận hành tàu, cũng như chi phí cao.

* Về tài chính và mục đích sử dụng: Theo báo cáo nghiên cứu của cơ quan tư vấn tổng chi phí cho tuyến đường sắt này vào khoảng trên 55.000 tỷ đồng (tương đương 3,1 tỷ USD), cao gấp gần 2,5 lần so với dự kiến trước đây trong quy hoạch của Chính phủ (1,3 tỷ USD). Các đối tác nước ngoài đã từ chối việc đầu tư vào dự án đường sắt khi cho rằng đó là trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam, vì ngoài việc phục vụ chuyên chở alumina tuyến đường sắt còn phục vụ các mục đích kinh tế - xã hội khác. Gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo tập đoàn TKV xây dựng phương án thiết kế đường sắt đa mục tiêu, đồng nghĩa với việc sẽ phải bỏ tiền ngân sách hoặc đi vay để đầu tư. Vấn đề này cần được tính toán, cân nhắc một cách thận trọng vì lộ trình tuyến đường sắt đi qua là những nơi thưa, vắng dân cư, không có các cơ sở kinh tế lớn nên hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội sẽ rất thấp. Ngoài ra, theo nghiên cứu của TEDI, nếu khẩn trương xây dựng, thì tuyến đường sắt cũng chỉ có thể hoàn thành và đưa vào vận hành năm 2017 (chưa kể những khả năng dẫn đến chậm trễ do quá trình nghiên cứu và ra quyết định kéo dài, thiếu vốn trong quá trình thi công). Câu hỏi đặt ra là trong trường hợp có thể xây dụng được đường sát thì từ nay cho đến đó chúng ta sẽ vận chuyển alumin và các nguyên liệu bằng cách nào? Câu trả lời duy nhất chỉ là: Vận chuyển bằng đường bộ.

- Với nhà máy alumin Nhân Cơ có thể vận chuyển theo đường 14, 13 và 51 ra cảng biển Phú Mỹ với khoảng cách khoảng 305km, còn nhà máy Tân Rai sẽ vận chuyển theo đường 20,28,55,714 và 712 có chiều dài 185km, hoặc vận chuyển ra cảng Phú Mỹ theo đường 20 với chiều dài 295km. Do alumin là sản phẩm đặc biệt, khi vận chuyển phải dùng xe chuyên dụng, không thể lợi dụng để vận chuyển hàng đi, hàng về được. Với công suất 600.000 tấn alumin/nhà máy/năm, cùng với nguyên vật liệu phải chuyển từ nơi khác đến (than, kiềm, dầu, vôi…) hàng năm mỗi nhà máy sẽ phải huy động 120.000 chuyến xe chuyển sản phẩm alumin từ nhà máy xuống cảng biển (loại 10 tấn / xe) và nguyên liệu theo chiều ngược lại. Cơ sở hạ tầng trên các tuyến đường này vốn đã quá tải, khó có thể đáp ứng được nhu cầu này và chắc chắn khả năng mở rộng thêm quy mô sản xuất hoặc các nhà máy sản xuất alumin mới trên Tây Nguyên theo quy hoạch là điều hoàn toàn không khả thi. Chi phí vận chuyển ra vào hàng năm của mỗi nhà máy tốn hàng chục triệu USD.

4.2. Vấn đề về năng lượng (điện)

Nhu cầu điện cho quá trình sản xuất alumin là không lớn, hơn nữa trong mỗi nhà máy alumin đòi hỏi phải xây dựng 1 nhà máy nhiệt điện chạy bằng than để dùng hơi nước cấp nhiệt cho dây chuyền công nghệ (như nhà máy alumin Nhân Cơ dự kiến sẽ xây dựng nhà máy nhiệt điện công suất 30MW ở trong nhà máy). Vì thế, việc cấp điện không có khó khăn.

Tuy nhiên, vấn đề điện sẽ trở nên nghiêm trọng khi sản xuất nhôm kim loại vì quá trình này đòi hỏi tiêu hao năng lượng lớn. Trung bình để sản xuất một tấn nhôm cần một lượng điện tương đương 13.500 - 14.000 KWh và phải là nguồn điện giá rẻ. Theo kinh nghiệm thế giới thì giá điện dùng để sản xuất nhôm phải dưới 0,4 US cent/KWh. Vì thế, nguồn điện được sử dụng cho điện phân nhôm thường là thủy điện. Mặc dù hệ thống sông Đồng Nai có khả năng sản xuất lượng điện năng tương đối lớn (ước đạt khoảng 3000MW), trong đó tập đoàn TKV đã được Chính phủ giao xây dựng nhà máy thủy điện Đồng Nai 5 với công suất khoảng 300 MW. Tuy nhiên, trong bối cảnh thiếu năng lượng hiện nay của Việt Nam và thủy điện Đồng Nai 5 chưa được khởi công thì việc điện phân nhôm trong giai đoạn này là không khả thi, đặc biệt với mục tiêu sản xuất 0,2-0,4 triệu tấn nhôm/năm theo như quy hoạch đề ra.

5. Các vấn đề về môi trường

Chương trình khai thác bauxite ở Tây Nguyên tiềm ẩn nhiều nguy cơ về môi trường.

5.1. Nguy cơ cạn kiệt và xung đột sử dụng nước

Quá trình khai thác bauxite và chế biến alumin cần một lượng nước rất lớn, trung bình để sản xuất 1 tấn alumin (bao gồm cả việc tuyển 2,5 tấn quặng tinh) cần 30m3 nước. Với hệ số tuần hoàn đạt 60% thì lượng nước cần bổ sung để sản xuất mỗi tấn alumin là 12m3. Nếu công suất alumin năm 2015 đạt 6 triệu tấn theo quy hoạch, chúng ta cần 72 triệu m3 nước mỗi năm để sản xuất. Theo tính toán của các nhà thủy văn, lượng nước có thể thu gom ở trên Tây Nguyên là rất lớn và hoàn toàn có thể đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng do mực nước ngầm của Tây Nguyên hiện đã xuống rất thấp nên chỉ có thể sử dụng phương án tích tụ nước mặt để sản xuất alumin. Trong khi mùa mưa Tây Nguyên chỉ kéo dài khoảng 4-5 tháng và trên địa bàn Đăk Nông không có nhiều sông suối có lưu lượng lớn nên việc xây dựng các hồ chứa nước lớn để sản xuất alumin gặp rất nhiều khó khăn. Tập đoàn TKV đang dự kiến bơm nước từ sông Đồng Nai lên để sử dụng cho nhà máy Nhân Cơ, phương án này sẽ rất tốn kém vì phải bơm nối nhiều lần để vượt qua độ chênh cao gần 400m và trên một quãng đường dài gần 40km. Nghiêm trọng hơn nữa là việc xung đột về sử dụng nước tại chỗ giữa sản xuất alumin và các hoạt động khác như thủy điện, tưới cây công nghiệp, nhu cầu dân sinh trên địa bàn Tây Nguyên. Xung đột sử dụng nước giữa thượng nguồn và hạ nguồn. Đặc biệt, thiếu nước có thể gây thiệt hại rất lớn cho khu vực trọng điểm kinh tế Quốc gia là cụm công nghiệp TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai và các tỉnh hạ lưu sông Đồng Nai.

5.2. Hoàn thổ đất đai sau khai thác - nguy cơ xói mòn và suy thoái đất

Do đặc tính thân quặng mỏng và dàn trải nên quá trình khai thác bauxite sẽ phải sử dụng một diện tích khai trường lớn. Chỉ riêng 2 nhà máy Nhân Cơ và Tân Rai quá trình khai thác sẽ phải thu hồi và sử dụng khoảng 100 ha đất/nhà máy/năm. Tổng diện tích khai trường của 2 nhà máy này ở giai đoạn I là 4.000 ha và sẽ lên tới 7.000-8.000 ha ở giai đoạn II. Đến năm 2015, nếu mỗi năm Việt Nam sản xuất 6 triệu tấn alumin, tương đương diện tích khai trường khoảng 1.000 ha/năm. Quy trình hoàn thổ đất đai mà tập đoàn TKV đưa ra bao gồm 4 giai đoạn: (1) chuẩn bị mặt bằng khai thác, (2) khai thác, (3) hoàn thổ đất, và (4) tái tạo lại thảm thực vật tưởng sẽ vô cùng đơn giản, nhưng trên thực tế quy trình này không dễ dàng thực hiện được bởi các lý do sau:

- Xói mòn, rửa trôi đất: Vùng Bảo Lộc và Đăk Nông có lượng mưa lớn (trung bình từ 2200 - 2800mm/năm) nhưng lại chỉ phân bố trong 1 khoảng thời gian ngắn của mùa mưa (tháng 5 - 9) nên cường độ mưa rất lớn trong mỗi trận mưa. Thông thường hoạt động khai thác chỉ có thể tiến hành được trong mùa khô và hoàn thổ trước mùa mưa. Tuy nhiên, khi đất được hoàn thổ trở lại các tính chất lý tính, kết dính trong đất chưa thể phục hồi, cùng với việc thảm thực vật trên mặt đất đã bị phát dọn trong quá trình khai thác khoáng sản nên nguy cơ xói mòn, rửa trôi đất trong mùa mưa là vô cùng nghiêm trọng. Nước mưa mang theo đất đỏ sẽ đổ vào sông, suối ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nước sẽ chảy về vùng Đông Nam bộ và các vùng hạ du khác.

- Suy thoái đất: Ở một số vùng tại Đăk Nông lớp đất mặt trên tầng quặng bauxite rất mỏng (thậm chí lộ thiên) sẽ không có đất để hoàn thổ. Còn ở những nơi khác sau hoàn thổ, lớp đất mỏng nằm trên mặt đất dễ bị trộn lẫn với lớp kết von laterit và quặng bauxite nghèo thành một hỗn hợp chua và độc hại với phần lớn các loại cây trồng. Kinh nghiệm hoàn thổ sau 32 năm khai thác bauxite của Công ty hóa chất cơ bản Miền Nam tại Bảo Lộc, Lâm Đồng đã phần nào cho thấy công việc hoàn thổ, tái tạo lại cây trồng là vô cùng khó khăn. Trong tổng số 36 ha diện tích đã khai thác cho đến nay công ty chỉ mới trồng lại được 2 ha cây keo tai tượng nhưng cây cũng khá còi cọc. Trong khi đó cây Mai Dương (một loại cây thuộc họ Trinh nữ, có nhựa rất độc nên các loài vật không dám ăn và nơi nào có cây này mọc thì không cây nào có thể mọc, trừ một số loài cây lá nhọn dễ cháy về mùa khô) lại đang phát triển và phân tán rất nhanh tại các vùng đất sau khai khoáng. Nếu tích cực cải tạo, đầu tư (chuyển đất mặt ở nơi khác đến, sử dụng phân bón vi sinh…) thì cũng ít nhất vài chục năm sau mới có hy vọng trồng lại được, và như thế chi phí tài chính sẽ đội lên rất cao. Vì thế, việc cho rằng “khai thác bauxite chỉ là mượn đất sản xuất của dân, khai thác xong sẽ hoàn thổ, trả lại cho dân canh tác trong vòng 1-2 năm” là điều không khả thi và không có cơ sở khoa học. Nếu không được tiến hành một cách cẩn thận, kỹ lưỡng vùng đất sau khai thác bauxite sẽ trở thành vùng đất “chết”. Kinh nghiệm khai thác khoáng sản khác ở nước ta (đặc biệt đối với vùng Than ở Quảng Ninh) đã cho thấy điều này.

5.3. Ô nhiễm môi trường từ bùn đỏ và bùn thải quặng đuôi

Trong thời gian gần đây vấn đề bùn đỏ trong khai thác bauxite Tây Nguyên là vấn đề môi trường được quan tâm nhiều nhất. Bùn đỏ (Red Mud) là chất thải không thể tránh khỏi trong quá trình sản xuất alumin. Bùn đỏ bao gồm các thành phần không thể hòa tan, trơ và khá bền vững trong điều kiện phong hóa như Hematit, Natrisilicat, aluminate, Canxi-titanat, Mono-hydrate nhôm… và đặc biệt là chứa một lượng xút, một hóa chất độc hại dư thừa từ quá trình sản xuất alumin. Cần phải hiểu rằng mặc dù trong quá trình sản xuất các doanh nghiệp sẽ cố gắng tối đa để thu hồi lượng xút dư thừa để giảm thiểu chi phí tài chính và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, lượng xút dư thừa vẫn có thể gây độc hại, nguy hiểm cho con người, vật nuôi và cây trồng nếu bị phát tán ra ngoài. Với chất lượng bauxite như ở Tây Nguyên của Việt Nam, để sản xuất 1 tấn alumin sẽ thải ra ngoài khoảng 1 tấn bùn đỏ. Cho đến nay, trên Thế giới đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng bùn đỏ (làm vật liệu xây dựng…) nhưng vẫn chưa có các giải pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này. Cách thức phổ biến về xử lý bùn đỏ vẫn là xây hồ chứa hoặc chôn cất bùn đỏ ở nơi hoang vắng, gần bờ biển, xa các vùng đầu nguồn các sông suối và các mạch nước ngầm.

Sở dĩ vấn đề xử lý bùn đỏ ở Việt Nam được nhiều người quan tâm là vì các hồ bùn đỏ sẽ được lưu giữ lại trên Cao Nguyên, đất có độ thẩm thấu cao và là vị trí đầu nguồn của các hệ thống sông suối, trong đó quan trọng nhất là hệ thống sông Đồng Nai và Sre Pok. Chỉ tính riêng dự án Nhân Cơ, dung tích hồ thải bùn đỏ sẽ lên tới hơn 8,7 triệu m3 và ở dự án Tân Rai, tổng lượng bùn đỏ phải tích trên cao nguyên cho cả đời dự án vào khoảng 80-90 triệu m3. Các hồ bùn đỏ sẽ vĩnh viễn nằm lại trên cao nguyên. Rõ ràng, để đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, việc xây dựng hồ bùn đỏ ở Tây Nguyên sẽ đắt hơn các nơi khác rất nhiều, đặc biệt khi Tập đoàn TKV sử dụng công nghệ thải bùn đỏ “ướt” tại nhà máy Nhân Cơ. Các nguy cơ như vỡ đập, hoặc sự cố tràn (khi lượng mưa quá lớn đột xuất) vẫn sẽ là mối nguy thường trực hàng ngày. Nếu điều đó xảy ra, chắc chắn các vùng hạ lưu các con sông sẽ phải chịu hậu quả nặng nề.

Một vấn đề về ô nhiễm môi trường khác cũng cần được quan tâm đó là bùn thải quặng đuôi trong quá trình tuyển quặng. Để sản xuất 600.000 tấn alumina như ở nhà máy Nhân Cơ hay Tân Rai, cần phải khai thác 3 triệu tấn quặng nguyên khai và thải ra ngoài 1,5 triệu tấn bùn quặng đuôi (chưa kể nước). Cùng với nước trong quá trình tuyển quặng, lượng bùn thải này sẽ trôi xuống các con suối, con sông và như bài học kinh nghiệm rút ra từ Tĩnh Tây, Quảng Tây, Trung Quốc các con suối sẽ trở nhuộm một màu đỏ quạch (màu đỏ là màu của đất đỏ bazan) và sẽ trở thành các dòng “suối máu”. Nguy cơ ô nhiễm lưu vực sông sẽ trở nên lớn hơn khi chúng ta dự kiến sản xuất 6 triệu tấn alumina vào năm 2015 và lên đến 18 triệu tấn năm 2025.

5.4. Thảm thực vật

Vùng Bảo Lâm, Bảo Lộc thuộc tỉnh Lâm Đồng là vùng đất bazan màu mỡ, thảm thực vật đa dạng, cây trồng (chè, cao su, cafe) cho hiệu quả kinh tế cao, rừng còn khá nhiều, điều kiện khí hậu lại phù hợp cho phát triển nông lâm nghiệp toàn diện. Còn ở Đăk Nông số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Tây Nguyên tại xã Nhân Cơ (nơi có mỏ bauxite Nhân Cơ) cho thấy diện tích đất nông nghiệp ở xã này chiếm tới 83,03%, đất lâm nghiệp 0,08% và chỉ có 2,1% đất chưa sử dụng. Ảnh vệ tinh cho thấy rừng ở vùng này đã bị tàn phá nặng nề. Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Nhân Cơ có 4.573 ha, trong đó có 3039,5 ha trồng cây công nghiệp là cà phê (2264 ha), cây điều (515 ha), cây tiêu (136 ha), và cao su (124,5 ha).

Sự tranh chấp trong sử dụng 2 nguồn tài nguyên cơ bản là: Tài nguyên không tái tạo - quặng bauxite trong lòng đất với tài nguyên đất và thảm thực vật, cây trồng trên mặt đất là điều rất đáng quan tâm. Giải quyết hài hòa mâu thuẫn đó là nhiệm vụ rất quan trọng để hướng tới sự phát triển bền vững lãnh thổ. Mặc dù trong quá trình khai thác một số vùng (như đất có rừng, hoặc các khu vực phòng hộ…) sẽ bị cấm khai thác nhưng dẫu sao quá trình khai thác quặng bauxite phải bắt buộc dọn sạch thảm cây trồng trên mặt đất và sẽ ảnh hưởng đến các tài nguyên sinh vật, và như đã phân tích ở trên việc tái tạo lại vật nuôi, cây trồng trên mặt đất sau khai thác bauxite là vô cùng khó khăn, đòi hỏi thời gian dài (hàng chục năm) và một lượng đầu tư rất lớn.

5.5. Ô nhiễm không khí do bụi đất đỏ

Các vùng đất khai thác bauxite ở Tây Nguyên còn nguyên sơ, với thảm cây rừng, cây công nghiệp và nông nghiệp phong phú. Mật độ giao thông cơ giới ít nên nhìn chung không khí vẫn còn trong lành. Hoạt động khai thác mỏ sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường không khí do bụi và chất thải khí của các phương tiện cơ giới từ khu mỏ đến nhà máy tuyển quặng. Ở mỗi nhà máy như Nhân Cơ hay Tân Rai, để sản xuất 600.000 tấn alumin mỗi năm, vùng khai trường sẽ phải khai thác 3 triệu tấn quặng nguyên khai, tương đương với việc hàng năm có khoảng 300.000 chuyến xe, hay mỗi ngày có 1.000 chuyến xe từ khu mỏ về nhà máy tuyển quặng (làm việc 300 ngày/năm và tải trọng mỗi xe là 10 tấn). Mùa khô Tây Nguyên kéo dài nhiều tháng (từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau) nên lượng bụi phát sinh trong quá trình khai thác và vận chuyển quặng bauxite là nguy cơ tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng trong vùng.

6. Các vấn đề về văn hóa – xã hội

6.1. Ảnh hưởng đến văn hóa bản địa Tây Nguyên

Tây Nguyên là vùng đất đa dân tộc và là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc thiểu số bản địa. Đồng bào các dân tộc Tây Nguyên chủ yếu sống bằng nghề nông, đất và rừng có vị trí quan trọng trong cuộc sống hàng ngày và cuộc sống tâm linh của họ. Đối với người Tây Nguyên đất rừng không chỉ là không gian sinh tồn, mà còn gắn liền với đời sống văn hóa. Suy giảm về tài nguyên rừng kéo theo suy giảm về văn hóa. Không một buôn làng nào không gắn với rừng như gắn với thần linh riêng của mình.

Nghiên cứu của nhóm nhà khoa học Đại học Tây Nguyên đưa ra cảnh báo rằng toàn bộ văn hóa truyền thống Mnông đã mai một và sẽ bị đặt trước nguy cơ mai một thêm và hoàn toàn biến mất khỏi cộng đồng nếu chương trình khai thác bauxite được triển khai một cách ồ ạt tại đây. Xói mòn quan hệ tín ngưỡng sẽ dẫn đến những biến đổi sâu sắc trong mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Tín ngưỡng của cộng đồng nơi đây luôn gắn với “không gian văn hoá rừng”, “không gian thảm thực vật”, với đất canh tác.

Mất không gian truyền thống, người Tây Nguyên nói chung và người Mnông sẽ đứng trước sự chông chênh, khó bền vững. Theo nhà văn Nguyên Ngọc, người có gần 50 năm gắn bó với Tây Nguyên thì “cú sốc lớn nhất đối với Tây Nguyên là làn sóng di dân tự do” và có lẽ cú sốc tiếp theo sẽ là sự thay đổi địa bàn cư trú, nếu chúng ta không có những phương án tái định canh, định cư bền vững nhằm đảm bảo sinh kế và bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của dân cư tại địa phương trước khai thác mỏ quặng, sẽ còn có những tác hại lớn hơn không lường trước được.

6.2. Vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương

Như đã trình bày ở trên, quá trình khai thác bauxite sẽ chiếm dụng một diện tích đất rất lớn nhưng hiệu quả về tạo công ăn việc làm lại không cao. Dự án Tân Rai có diện tích chiếm đất tới 4200ha, nhưng chỉ tạo công ăn việc làm cho 1668 lao động. Như vậy, bình quân các dự án bauxite cần tới 2,5 ha đất để tạo ra 1 việc làm cho người đã được đào tạo. Trong khi đó, 1 ha đất dùng để phát triển cây công nghiệp sẽ có thể đáp ứng việc làm cho 5 người mà không cần phải trải qua các chương trình đào tạo quá phức tạp. Ngoài ra, cần phải đặt vấn đề rằng ai sẽ là người được tạo công ăn việc làm tại các nhà máy, công trường của các dự án alumin ở thời điểm hiện tại và trong tương lai?

Mặc dù nhà máy alumin Tân Rai đã được khởi công xây dựng và cần một lượng nhân công tương đối lớn trong 2 năm đầu tiên xây dựng nhà máy. Nhưng do phương thức đấu thầu EPC giữa chủ đầu tư (Tập đoàn TKV) và đơn vị trúng thầu (Công ty CHALIECO) nên phần lớn công ăn việc làm trong thời gian xây dựng nhà máy (kể cả lao động thủ công) lại được tạo ra cho người Trung Quốc, số lượng người Việt Nam tham gia là rất ít. Trong khi chúng ta đang phải đối đầu với tình trạng thất nghiệp của hàng trăm ngàn công nhân do hậu quả của suy thoái kinh tế thì việc đấu thầu như thế này cần phải được xem xét lại.

Trong thời gian gần đây, Tập đoàn TKV đã gửi đi đào tạo hàng trăm con em địa phương để trở thành các kỹ sư và công nhân cho các nhà máy về sau, nhưng phần lớn lại là con em người Kinh từ vùng xuôi di cư lên sinh sống ở trên này. Số lượng con em đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ như Mơ Nông, Châu Mạ được đào tạo là rất ít.

6.3. Khoảng cách giàu nghèo và phân tầng xã hội

Do không tạo được nhiều công ăn việc làm cho những người dân tại chỗ, cùng với dự báo sẽ có một làn sóng người nhập cư mới đến để làm việc tại các nhà máy và triển khai các dịch vụ ăn theo thì nguy cơ phân tầng xã hội và nới rộng khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm người trong các vùng khai thác khoáng sản bauxite sẽ có nguy cơ gia tăng và ngày càng rộng ra. Việc thu hồi đất đai cho khai thác khoáng sản và nguy cơ cộng đồng dân tộc bản địa Tây Nguyên sẽ bị đẩy ra ngoài cuộc sống xã hội ngay trên quê hương của mình sẽ là mối nguy thường trực cho các xung đột xã hội tiếp theo. Cần phải đề cao cảnh giác và quan tâm đặc biệt đối với các nguy cơ xung đột xã hội như đã từng xảy ra ở Tây Nguyên trong các năm đầu của thập kỷ này.

7. Các vấn đề về an ninh quốc phòng

Tây Nguyên là “nóc nhà Đông Dương”. Từ xưa đến nay, khi nghiên cứu về Việt Nam, người ta thường đánh giá Tây Nguyên là địa bàn chiến lược, có giá trị rất lớn về mặt quân sự, kinh tế, chiến lược. Cha ông ta từ xa xưa đã nhận định rằng nếu ai chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được Việt Nam và Đông Dương. Trong cuộc tổng tấn công giải phóng Miền Nam năm 1975, Tây Nguyên được lựa chọn là vùng đầu tiên để nổ súng bằng trận đánh Buôn Ma Thuột.

Trong thời gian gần đây tình hình an ninh, chính trị vùng Tây Nguyên có nhiều điểm không thuận lợi cụ thể là các cuộc nổi loạn năm 2001, 2002 và sau đó là một số người dân vượt biên sang biên giới CamPuChia. Vài năm trở lại đây tình hình đã lắng dịu nhưng vẫn còn chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn, đặc biệt khi các thế lực thù địch vẫn luôn để mắt dòm ngó, tìm kiếm cơ hội để chống phá cách mạng Việt Nam từ đây (chic).

Hơn thế, việc triển khai các dự án với Trung Quốc tại khu vực Tân Rai, Bảo lâm vi phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam trong việc sử dụng lao động nước ngoài (Nghị định 105/2003 và 34/2008), ảnh hưởng nặng nề đến công ăn việc làm của cư dân tại chỗ. Cũng đã không thể quản lý được hoạt động của công nhân Trung Quốc vào làm việc theo visa du lịch ở đó, điều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh địa phương.

Những phân tích về các vấn đề về kinh tế, môi trường, văn hóa và xã hội như đã nêu ở trên, nếu không được giải quyết một cách thấu đáo, kín kẽ sẽ có thể dẫn đến các nguy cơ bất ổn về an ninh chính trị và an ninh quốc phòng, cũng như ảnh hưởng xấu đến quan hệ ngoại giao. Vấn đề này lại trở nên càng lo lắng khi gần đây đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đến xây dựng nhà máy alumin ở Tân Rai, Lâm Đồng. Trung Quốc cũng đang hoạt động rất mạnh ở các tỉnh của Campuchia và Lào ngay sát với các tỉnh Tây nguyên của nước ta.

IV. KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ

Việc khai thác, chế biến tài nguyên để xuất khẩu hoặc sản xuất các sản phẩm có giá trị nhằm đóng góp cho phát triển đất nước, mang lại lợi ích cho người dân địa phương và các tập đoàn/công ty là việc làm bình thường trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia có tài nguyên. Tuy nhiên, khai thác tài nguyên vào lúc nào? Quy mô ra sao? Và bằng cách nào? là những câu hỏi quan trọng cần được đặt ra cho quá trình phát triển và lập định chính sách của quốc gia, ngành và địa phương. Đặc biệt đối với Việt Nam, việc khai thác tài nguyên và xuất khẩu nguyên liệu thô trong giai đoạn ban đầu khi hòa bình mới lập lại nhằm tạo lực và đà cho quá trình xây dựng đất nước là cần thiết. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại chúng ta cần điều chỉnh phát triển kinh tế đất nước theo hướng bền vững, hài hòa giữa các yếu tố về kinh tế, xã hội và môi trường.

Quá trình lập quy hoạch, kế hoạch và bước đầu triển khai chương trình khai thác khoáng sản bauxite, chế biến alumin và luyện nhôm ở Tây Nguyên còn nhiều điểm bất cập, cụ thể như sau:

1. Hiệu quả kinh tế rất thấp, hiệu quả sử dụng tài nguyên không cao

2. Nguy cơ thua lỗ tài chính nặng nề ở các dự án đang bước đầu được triển khai và sẽ là gánh nặng lớn cho ngân sách quốc gia về sau này;

3. Không tạo được nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương, đặc biệt là đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ;

4. Chưa có lời giải thích đáng cho các vấn đề về cơ sở hạ tầng như đường sắt, đường ô tô, điện. Đặc biệt khi Chính phủ phải bỏ tiền ra xây dựng tuyến đường sắt không có hiệu quả cao về mặt kinh tế xã hội;

5. Công nghệ chưa rõ ràng và có thể lặp lại những hậu quả do công nghệ Trung Quốc mang lại như đã xảy ra với xi măng lò đứng, thép Thái Nguyên, đồng Sinh Quyền, các nhà máy mía đường…

6. Nguy cơ ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm nguồn nước, xung đột sử dụng nước giữa thượng nguồn, hạ nguồn, giữa các ngành sản xuất và tiêu dùng; xói mòn và suy thoái đất hậu khai khoáng và ô nhiễm không khí trong quá trình khai thác khoáng sản. Đặc biệt, thiếu nước có thể gây thiệt hại rất lớn cho khu vực mang lại thu nhập lớn nhất cho quốc gia là cụm công nghiệp TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai và các tỉnh lân cận.

7. Nguy cơ mai một bản sắc văn hóa bản địa, phân tầng xã hội và xung đột xã hội.

8. Nguy cơ đe dọa đến an ninh quốc phòng và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Với tinh thần trách nhiệm của mình, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam xin kiến nghị:

1. Tiến hành đánh giá môi trường chiến lược (DMC) cho quy hoạch và kế hoạch khai thác, chế biến khoáng sản bauxite ở Tây Nguyên: Mục tiêu là nhận dạng và đánh giá tổng hợp các hậu quả môi trường chính yếu của quy hoạch và kế hoạch trên cơ sở đó lồng ghép mục tiêu bảo vệ môi trường vào quá trình điều chỉnh và thực hiện quy hoạch, kế hoạch. Mặt khác quy hoạch, kế hoạch cần phải dựa vào phân tích dự báo xu thế cung cầu của thị trường thế giới và trong nước và tích hợp đầy đủ các phương pháp đánh giá được khuyến nghị dựa trên nguyên tắc xây dựng các kịch bản (phương án) phát triển khác nhau cho việc xây dựng các nhà máy alumin và điện phân nhôm. Trong đó, phương án cao nhất là sẽ vẫn được thực hiện chương trình theo quy hoạch đã được phê duyệt và phương án thấp nhất là chỉ sẽ triển khai 1 nhà máy đã khởi công ở Lâm Đồng (thậm chí không triển khai nếu thấy nhiều nguy cơ bất lợi về mặt kinh tế, xã hội và môi trường), ở giữa 2 phương án này cũng có thể xem xét thêm vài phương án trung gian nữa để dưa vào tính toán.

2. Triển khai chương trình điều tra, nghiên cứu Tây Nguyên: Đối với vùng Tây Nguyên, kiến nghị Chính phủ sớm đưa chương trình nghiên cứu Tây Nguyên III (chương trình Tây Nguyên II đã được triển khai nghiên cứu cách đây hơn 20 năm) vào cuộc để làm cơ sở cho quy hoạch phát triển tổng thể khu vực này, trong đó bauxite sẽ tham gia như một ngành công nghiệp đáng lưu tâm. Cần nghiên cứu, phân tích và đặt việc khai thác khoáng sản bauxite trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế vùng Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Đông Nam bộ để đề ra chiến lược phát triển vĩ mô cấp vùng.

3. Xây dựng chương trình khai thác khoáng sản thí điểm: Trong bối cảnh hiện nay, chỉ nên tập trung vào xây dựng 1 nhà máy thí điểm Tân Rai, Lâm Đồng. Chưa nên nóng vội triển khai xây dựng nhà máy alumin Nhân Cơ vì không khả thi bởi thị trường alumin trên Thế giới giai đoạn này chưa ổn định, hơn nữa chúng ta chưa có những chuẩn bị chu đáo và cần thiết để đáp ứng các yêu cầu về hạ tầng kỹ thuật và lực lượng nhân công vì vậy rủi ro rất lớn.

4. Các nhà khoa học, các nhà đầu tư nước ngoài cũng như nhiều chuyên gia của TKV đều thống nhất rằng hợp lý hơn cả là xây dựng nhà máy alumin ở vùng duyên hải Bình Thuận, vận chuyển quặng tinh bằng đường ống. Trong trường hợp đó thì hiệu quả kinh tế chắc chắn sẽ cao hơn, xử lý bùn đỏ dễ dàng hơn và vấn đề đảm bảo an ninh, quốc phòng cũng hiệu quả hơn. Quyền lợi của các tỉnh Tây nguyên cũng có thể được đáp ứng thích đáng theo cách mà Chính phủ đã giải quyết về chia sẻ quyền lợi giữa Nghệ An và Thanh Hoá khi xây dựng nhà máy xi măng Hoàng Mai.

5. Với chức năng, nhiệm vụ của mình và khả năng tập hợp chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác nhau, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia chương trình đánh giá môi trường chiến lược cho quy hoạch bauxite và chương trình nghiên cứu Tây Nguyên III để tham mưu, góp phần tư vấn cho Trung ương Đảng và Chính phủ lựa chọn phương án phát triển Tây Nguyên và bauxite ở Tây Nguyên khả thi nhất. Kính đề nghị Ban Bí thư Trung ương và Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định./.

Chú thích

[1] Theo số liệu quyết định 167/QĐ-TTg

[2] Alumin- là sản phẩm được chế biến từ bauxite, và là nguyên liệu dùng để điện phân nhôm.

[3] Đây mới chỉ là dự tính ban đầu còn khi vào triển khai chắc chắn sẽ còn cao hơn nhiều, lấy ví dụ nhà máy Tân Rai, Lâm Đồng riêng gói thầu EPC cung cấp nhà máy chính khi trúng thầu là 352,9 triệu USD thì nay đã là 466 triệu USD – tương đương gần 8.000 tỷ đồng)

[4] khi chỉ số IRR= hệ số chiết khấu, dự án hoà vốn, khi nhỏ hơn thì dự án sẽ lỗ.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter