lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

Dư luận xôn xao về dự án bauxite ở Tây Nguyên

Gs Trần Khuê trả lời pv RFA 25-02-2009

Trong thời gian gần đây, xem chừng như ngày càng có nhiều ý kiến phản đối dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Dựa theo thông tin liên quan và ghi nhận ý kiến trong nước, Thanh Quang trình bày vấn đề này sau đây:

Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên gặp nhiều phản ứng

Dự án khai thác bauxite Tây Nguyên hiện trở thành vấn đề gây xôn xao dư luận, khi nhiều thành phần trong xã hội bày tỏ quan ngại qua báo mạng trong nước, chẳng hạn như “Tây Nguyên sẽ ‘chết’ vì… khai thác bô-xít”, “Khai thác quặng bô-xít ở Tây Nguyên: Nhiều nguy cơ, chưa có giải pháp”…

Nói chung, những mối quan ngại cảnh báo về nguy cơ tác hại từ hệ sinh thái, xã hội, thua lỗ kinh tế, bản sắc văn hóa Tây Nguyên, cho tới an ninh quốc phòng–và nhất là để lại di hại dài lâu cho đất nước.

Một trong những hình ảnh di hại ấy– như blogger tên Linh mô tả : “núi rừng bị cày nát”, “những dòng suối đỏ ngầu màu bùn và chất thải”, “những cánh đồng cà phê bị khát cháy vì thiếu nước”, và “mảnh đất giữa lòng VN bị một nhát dao xé nát ngang hông, chia Bắc Nam thành hai nửa”. Cho dù có những phản ứng mạnh mẽ như vậy, được biết giới cầm quyền, ít ra cho tới giờ, tỏ ra không chùn bước trước một dự án được gọi là “Chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, theo như lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Chúng tôi nhân dịp này tìm hiểu nhận xét của một người có tâm huyết với đất nước là Giáo sư Trần Khuê về dự án khai thác bô-xít, và được ông cho biết như sau:

Phản ứng từ mọi ngành mọi giới

GS Trần Khuê: Vấn đề dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên hiện nay đang là vấn đề thời sự vì mọi người bàn luận rất là sôi nổi, đặc biệt là trong giới trí thức và giới văn nghệ sĩ, và kể cả giới quân sự mà trong đó có ông Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Giáo sư Nguyễn Văn Triển, một vị giáo sư vừa được kỷ niệm thọ 90 tuổi, đặc biệt là nhà văn Nguyên Ngọc lên tiếng rất mạnh mẽ về vấn đề này.

Trước khi nói vấn đề này thì tôi muốn nêu một cái ý thế này: Về vấn đề đảng hay nhà nước, hay chính phủ có chủ trương lớn, cái đó là quyền hạn của các vị rồi; các vị có chủ trương, các vị thực hiện chủ trương thì cái đó là quyền của mình. Mình muốn có chủ trương thì mình có chủ trương, muốn thực hiện thế nào thì thực hiện, nhưng mà quá trình một vài thập kỷ vừa qua cho thấy rằng có những chủ trương mà nếu mình không cân nhắc mà mình cứ thực hiện thì nó tai hoạ lắm. Đặc biệt nếu mình không quan tâm đến những người hiểu biết là các nhà khoa học, những người trí thức, những văn nghệ sĩ thì nó tai hại lắm.

Vấn đề bô-xít Tây Nguyên không phảỉ bây giờ người ta mới nói mà cách đây khoảng độ một chục năm thì người ta đã nói rồi. Tức là gì? Tức là chúng ta cần khai thác tài nguyên để phục vụ cho việc phát triển kinh tế, đó là về pháp lý, nhưng biện pháp phải như thế nào để đảm bảo về môi trường, về đời sống văn hoá - xã hội, về quan hệ dân tộc, rồi về an ninh quốc phòng, v.v. là đều phải tính đến cả.

Thanh Quang : Thưa Giáo Sư, trong nhiều ngày qua những người có tâm huyết với đất nước rất lo ngại về nhiều nguy cơ do dự án này gây ra về các mặt như là an ninh, môi trường, quân sự, địa bàn chiến lược, văn hoá, bản sắc đồng bào Tây Nguyên, v.v. thì theo Giáo Sư, lo ngại như vậy có hữu lý không?

Tai hại cho môi trường, nguy hiểm cho an ninh quốc phòng

Gs Trần Khuê : Tôi cho lo ngại đó là chính đáng. Cụ thể là khi rừng Tây Nguyên mà mình phá thì như thế là cả một tai nạn cho vùng đồng bằng ven biển Miền Trung. Và ngay cả trên Tây Nguyên, cái lũ quét là do một trong nguyên nhân là mất rừng thôi. Cái thứ hai tức là cái mâu thuẫn dân tộc sẽ rất là nặng nề. Nhưng mà hiện nay, trước mắt là vấn đề quốc phòng. Tôi thấy là nhân dân rất lo lắng, các nhà khoa học lo lắng mà chưa nói ra, tức là người ta lại giao cái vùng Tây Nguyên này cho những chuyên gia và những công nhân Trung Quốc khai thác. Tức là các nhà đầu tư là Trung Quốc, mà Trung Quốc với ta hiện nay đang có vấn đề, mà địa bàn Tây Nguyên là địa bàn "địa chính trị, địa quân sự" rất quan trọng cho nên không thể không lưu ý là cái vùng người ta khai thác bô-xít ở Đức đã gây tai hoạ như thế nào cho môi trường. Và bản thân Trung Quốc khai thác bô-xít ở vùng Nam Trung Quốc hiện nay cũng phải dừng, thế mà mình lại mời người ta sang khai thác, tức là người ta làm nát đất nước người ta nên người ta thấy nguy quá mà người ta phải dừng lại, vậy mà bây giờ mình mời người ta sang để làm nát đất nước của mình. Và không phải chỉ làm nát mà có thể mất, nguy hiểm là ở chỗ đó.

Cho nên tôi có nói với một số anh em như thế này: Tôi nói là tôi xin Ban Chấp hành và Ban Thường vụ Trung ương Đảng Dân chủ XXI kêu gọi chính phủ Nguyễn Tấn Dũng là nên dừng ngay việc này lại, vì nếu không thì địa bàn Tây Nguyên là nơi khởi đầu của những thắng lợi mới của nhà nước CHXHCN tức nhà nước cộng sản, và có thể nếu không thì nơi đó cũng là kết thúc sự nghiệp của các vị.

Thanh Quang : Thưa Giáo Sư, theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì sẽ có thêm những cuộc hội thảo để thu thập ý kiến về dự án khai thác bô-xít. Giáo sư nghĩ là những cuộc hội thảo như vậy có thực chất gì không? Cụ thể là có giúp thay đổi được gì về cái chủ ý của giới cầm quyền trong vấn đề này không?

Gs Trần Khuê : Không. Tôi thấy là hội thảo bao nhiêu rồi cũng vô ích thôi. Tất nhiên họ có nghe đâu mà hội thảo. Trên đất nước này chính bản thân tôi đã dự hàng trăm cuộc hội thảo từ cấp quốc gia, cấp quốc tế và địa phương, người ta có tổ chức thì cũng không phải dưới nhiệm vụ một cuộc hội thảo đâu vì các nhà quản lý, các nhà lãnh đạo có lắng nghe các nhà khoa học đâu. Thế hội thảo để làm cái gì? Cũng như gần đây tôi thấy thế này là người ta thấy không được sửa cái luật tự do báo chí và xuất bản thì người ta phải gửi bằng cái luật tiếp cận thông tin. Nhưng tôi hiểu rằng luật nào thì luật dù có ban hành nhưng mà không có sự giám sát, không có sự chế ngự quyền lực thì luật đó cũng vô ích. Cho nên các nhà khoa học, các nhà trí thức kể cả người có uy tín lừng lẫy là Đại tướng Võ Nguyên Giáp có ý kiến mà người ta không lắng nghe cũng vô ích. Cho nên ở đây chỉ trông vào công luận và áp lực của hàng chục triệu người, và đặc biệt đây là áp lực của lịch sử.

Thanh Quang : Dạ. Cảm ơn GS Trần Khuê rất nhiều.

Liên quan vấn đề này, báo Tuổi Trẻ online cách nay không lâu trích dẫn lời nhà văn Nguyên Ngọc cho biết (nguyên văn) rằng “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ứ to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa, và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”.

Dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Kỹ sư Đỗ Nam Hải trả lời pv Chân Trời Mới 01-03-2009

Kính thưa quý thính giả, 

Trong thời gian qua, vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã gây ra nhiều xôn xao trong dư luận. Khi đọc được những thông tin báo động về việc gây tác hại cho môi trường của vấn đề khai thác bauxite, không ai có thể làm ngơ và không thể hiểu được vì sao những dự án loại này có thể được quyết định tiến hành. Trong phần phỏng vấn hôm nay, chúng tôi xin mới quý thính giả chia sẻ những ưu tư của anh Đỗ Nam Hải, hiện đang sống tại Sài Gòn.

1/ Xin kính chào anh Đỗ Nam Hải và xin mời anh lên tiếng chào quý thính giả nghe đài. 

Trả lời: Vâng, xin kính chào anh Hoàng Hà, xin kính chào quý thính giả của đài Chân Trời Mới. Tôi là Phương Nam–Đỗ Nam Hải đang phát biểu từ thành phố Sài Gòn, Việt Nam.

2/ Thưa anh, là người theo dõi tin tức thời sự thường xuyên trong nước, xin anh có thể chia sẻ những suy nghĩ của anh khi đọc những thông tin liên quan đến vụ khai thác bauxite tại Việt Nam?

Trả lời: Vâng, tôi được đọc và được nghe những thông tin liên quan đến việc Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (NCQ CSVN) đã thỏa thuận với Nhà cầm quyền cộng sản Trung Quốc (NCQ CSTQ) cho phép các công ty Trung Quốc khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên của Việt Nam. Những thông tin này đến với tôi từ những nguồn cả trong và ngoài nước. Đặc biệt, ngày 4-2-2009 vừa qua, các báo, đài ở Việt Nam có đưa tin về kết luận của ông Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, rằng: “Ngày 5-1-2009, tại Văn phòng chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp về thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm. Tham dự có các Phó thủ tướng: Nguyễn Sinh Hùng, Trương Vĩnh Trọng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ: Công Thương, Tài nguyên và Môi trường, Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, Khoa học & Công nghệ, Giao thông vận tải, Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai; Văn phòng chính phủ, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.

Sau khi nghe Bộ Công thương báo cáo, ý kiến của lãnh đạo các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau:Việc khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm tại Tây Nguyên là phù hợp với chủ trương của Đảng và Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxite giai đoạn 2007–2015, có xét đến 2025 đã được TTg CP phê duyệt tại QĐ số 167/2007/ QĐ-TTg ngày 01-11-2007…”.

Như vậy, rõ ràng đây không phải là tin đồn đại nữa mà là tin thật 100%. Theo kế hoạch thì dự án này sẽ diễn ra tại tỉnh Đắk Nông ở Tây Nguyên. Qua nghiên cứu tài liệu, tôi được biết rằng: khi dự án này triển khai thì nó sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho Việt Nam. Cụ thể như sau:

+ Không có hiệu quả về tất cả các mặt kinh tế, tài chính và xã hội.

+ Với trình độ công nghệ khai thác bauxite của Trung Quốc hiện tại vẫn còn khá lạc hậu thì dự án này sẽ phá hủy môi trường tại chỗ của Tây Nguyên. Nó sẽ gây thảm họa về sinh thái trên diện rộng cho cả các tỉnh Nam Trung Bộ và một số tỉnh của Campuchia. Đất đai tại vùng khai thác bauxite sau đó sẽ biến thành vùng đất chết và người nông dân Việt Nam sẽ không thể canh tác được nữa.

+ Vùng khai thác bauxite lại ở đầu nguồn của các con sông Đồng Nai và sông Sêrêpốc, nên dự án khi triển khai thực hiện sẽ vừa làm ô nhiễm, vừa làm cạn kiệt nước của 2 con sông này. Trong khi chúng lại đóng vai trò rất quan trọng trong việc ổn định và phát triển về kinh tế, xã hội của các khu vực đông dân cư và rộng lớn như: Sài Gòn, Biên Hòa, Bình Dương, …

+ Nó cần nhiều nước trong khi Tây Nguyên lại đang thiếu nước! Nó cần nhiều điện trong khi Việt Nam vẫn còn đang thiếu điện! Nó cần nhiều lao động nhưng theo thỏa thuận giữa 2 nước thì lại là lao động Trung Quốc, chứ không phải lao động Việt Nam! Nó chiếm một diện tích đất rộng lớn, trong khi hiện tại người dân Tây Nguyên lại đang thiếu đất!

+ v.v…

Đã có nhiều người ở cả trong và ngoài nước lên tiếng phản biện về dự án này như các ông: Võ Nguyên Giáp, Nguyên Ngọc, Nguyễn Lân Dũng, Dương Trung Quốc, Nguyễn Trung, Bùi Tín, Ngô Nhân Dụng và các nhà khoa học như các tiến sỹ: Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải, Trần Bỉnh Chư, Phạm Duy Hiến, Nguyễn Ngọc Sinh, Hoàng Cơ Định, Mai Thanh Truyết, v.v… và đề nghị các nhà lãnh đạo Việt Nam xem xét không cho phép triển khai dự án. Tuy nhiên, với những gì đã và đang diễn ra ở Việt Nam, xuất phát từ chế độ chính trị độc tài toàn trị thì theo tôi, khả năng ngăn chặn được nó sẽ là rất khó khăn.

Theo tôi, nếu dự án này cứ tiếp tục được thực hiện thì đây là mối nguy hiểm lớn cho dân tộc Việt Nam về tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh và quốc phòng. Với tư cách là một công dân Việt Nam, tôi kịch liệt phản đối dự án khai thác bauxite này và cũng xin đề nghị mọi người hãy đóng góp công sức, trí tuệ để cùng lên tiếng phản đối nó.

3/ Cũng khắc khoải như mọi người, chúng tôi có cơ hội đọc qua tài liệu của một số nhà nghiên cứu, đặc biệt là bài "10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bô-xít Tây Nguyên" của hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc. Các vị ấy đã chứng minh rất khoa học rằng khai thác các quặng bauxite trên vùng Tây Nguyên hoàn toàn bất lợi. Theo anh thì tại sao chính quyền Việt Nam vẫn quyết định tiến hành dự án này bất chấp sự cảnh báo của các nhà khoa học ? 

Trả lời: Trước hết, tôi xin được khẳng định quan điểm của mình rằng: họ chỉ là Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam thôi, chứ họ không phải là chính quyền Việt Nam, theo đúng nghĩa cao quý của từ “chính quyền”. Bởi vì, nếu gọi là chính quyền thì chính quyền ấy phải thực sự do nhân dân Việt Nam bầu ra bằng những lá phiếu thực sự dân chủ. Trong khi, sự cầm quyền của những nhà lãnh đạo cộng sản Việt Nam từ trước đến nay là hoàn toàn không theo tiến trình bầu cử dân chủ thực sự, mà chỉ là thứ dân chủ giả hiệu, lừa mị theo cách “đảng cử, dân bầu” mà thôi.

Cũng chính vì vậy mà NCQ CSVN đã tự ý đánh đồng họ với đất nước và dân tộc. Họ đã nhiều lần xưng danh đất nước và dân tộc để quyết định nhiều vấn đề phản dân, hại nước trong suốt hơn 63 năm qua, tính từ ngày 2-9-1945 đến nay. Chẳng những là lần này, với dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên mà còn là nhiều lần khác trước đó như: chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc, từ năm 1953 đến 1957; ký Hiệp định Genève ngày 20-7-1954 về việc khôi phục hòa bình ở Đông Dương; Công hàm bán nước của ông Phạm Văn Đồng gửi ông Chu Ân Lai ngày 14-9-1958; Hiệp ước biên giới trên đất liền ký ngày 30-12-1999 và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ ký ngày 25-12-2000, v.v… Tất cả đều có hại cho Việt Nam và có lợi cho Trung Quốc! Tất cả đều có sự can thiệp xấu xa của NCQCS Trung Quốc đối với dân tộc Việt Nam.

Như vậy, một vấn đề cần đặt ra ở đây là: NCQCS Việt Nam trước đây và hiện nay có biết được bản chất xấu xa đó của NCQCS Trung Quốc hay không? Nếu biết thì tại sao họ vẫn cứ chấp nhận cúi đầu làm theo? Theo tôi, câu trả lời là rõ ràng: họ có biết, không những thế họ còn biết rất rõ! Chúng ta hãy nghe sau đây một đoạn văn trong cuốn sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam–Trung Quốc trong 30 năm qua”, do Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố và được Nhà xuất bản Sự thật - Hà Nội, phát hành vào tháng 10/1979 để chứng minh cho khẳng định trên:

“… Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào mang danh là “cách mạng”, là “xã hội chủ nghĩa” và dùng những lời lẽ “rất cách mạng” để thực hiện một chiến lược phản cách mạng, cực kỳ phản động như những người lãnh đạo Trung Quốc. Trên thế giới chưa có những người lãnh đạo một nước nào về mặt chiến lược đã lật ngược chính sách liên minh, đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện như những người lãnh đạo Trung Quốc. Từ chỗ coi Liên Xô là đồng minh lớn nhất, họ đi đến chỗ coi Liên Xô là kẻ thù nguy hiểm nhất. Từ chỗ coi đế quốc Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất mà bản chất không bao giờ thay đổi, họ đi đến chỗ coi đế quốc Mỹ là đồng minh tin cậy, câu kết với đế quốc Mỹ và trắng trợn tuyên bố: “Trung Quốc là NATO phương Đông”

… Họ tập trung mọi cố gắng để dấy lên một cuộc “thập tự chinh quốc tế” của các lực lượng đế quốc và phản động chống Liên Xô dưới chiêu bài “chống bá quyền”, theo công thức của Chủ tịch Mao Trạch Đông “Ngồi trên núi xem hổ đánh nhau”. Như nhiều nhà chính trị và báo chí Tây Âu nhận định, Trung Quốc quyết tâm “đánh Liên Xô đến người Tây Âu cuối cùng” cũng như Trung Quốc trước đây đã quyết tâm “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.

Chiến lược quốc tế ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc, mặc dầu núp dưới chiêu bài nào, đã phơi trần tính chất cực kỳ phản cách mạng của nó và những người lãnh đạo Trung Quốc đã hiện nguyên hình là những người theo chủ nghĩa sô-vanh nước lớn, những người dân tộc chủ nghĩa tư sản. Chính sách ngày nay của những người lãnh đạo Trung Quốc đối với Việt Nam, mặc dầu được ngụy trang khéo léo như thế nào, vẫn chỉ là chính sách của những hoàng đế “thiên triều” trong mấy nghìn năm qua, nhằm thôn tính Việt Nam, khuất phục nhân dân Việt Nam, biến Việt Nam thành một chư hầu của Trung Quốc”.

Theo tôi, toàn bộ các ủy viên Bộ chính trị ĐCSVN khóa 10 hiện nay và khóa 9 trước đó - Những người đã quyết định chủ trương ký kết dự án khai thác bauxite mà chúng ta đang bàn, cũng như ký 2 Hiệp định năm 1999 và 2000 nói trên nhất định đã phải “quán triệt sâu sắc” tài liệu quan trọng này. Vì vậy, họ không thể không nắm rõ bản chất xấu xa của NCQ CS Trung Quốc đối với Việt Nam. Thế nhưng, họ vẫn cứ quyết tâm làm. Chỉ có một cách giải thích duy nhất: Tất cả họ đều đã ấn quyền lợi của dân tộc xuống đáy và đẩy “tinh thần” bán nước cầu vinh, cầu lợi của họ lên trên!

4/ Anh có thể cho biết dư luận của đồng bào trong nước ra sao về dự án khai thác bauxite trên?

Trả lời: Nếu tôi được tự do đi lại, nhất định tôi sẽ lên Tây Nguyên, lên Đắk Nông và nhiều vùng khác của Tổ quốc để tìm hiểu kỹ hơn về nhiều vấn đề, trong đó có vấn đề trên. Thế nhưng, từ ngày 8-4-2006 đến nay, khi bản Tuyên ngôn 8406 ra đời thì công an Việt Nam bám chặt tôi như hình với bóng ở mọi lúc mọi nơi. Qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với những người có nhận được những thông tin trên thì tất cả họ đều rất căm phẫn. Họ căm phẫn về dã tâm của NCQCS Trung Quốc 1, thì họ căm phẫn sự phản dân hại nước; sự hèn hạ, bạc nhược của NCQCS Việt Nam 10.

Về điểm này, trong bài “Việt Nam Đất Nước Tôi”, được gửi lên Internet vào tháng 6-2000, khi còn sinh sống tại Australia, tôi cũng đã đề cập, đại ý: “Một khi đã biết được dã tâm xấu xa của cha con Triệu Đà, Trọng Thủy muốn đánh tráo nỏ thần rồi, mà vẫn cứ cho họ được “ở rể” thì những kẻ có tội lớn đối với đất nước và dân tộc chính là những “An Dương Vương” thời nay!”. Không nghi ngờ gì nữa: chính họ sẽ phải trả lời trước dân tộc và lịch sử về những tội lỗi trời không dung đất không tha của họ, khi dân tộc này chuyển mình!

5/ Trong cơ chế của các nước dân chủ, quốc hội có quyền ngăn cản những dự án có hại cho quốc gia như thế này. Theo anh thì chúng ta có thể làm gì để thay đổi quyết định tai hại này của nhà cầm quyền CSVN để may ra còn có thể cứu vãn cả một vùng đất của quê hương? 

Trả lời: Đây cũng là thêm một động lực nữa cho những người Việt Nam yêu nước hôm nay quyết tâm đấu tranh để đất nước phải có một nền dân chủ thực sự. Cụ thể là phải thay thế được một cách triệt để từ chế độ chính trị độc tài toàn trị hiện nay sang chế độ dân chủ đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ trong tương lai. Chỉ có khi ấy thì các cơ quan quyền lực của quốc gia như: hành pháp, lập pháp, tư pháp; kể cả cơ quan quyền lực thứ tư là truyền thông mới phát huy được tốt chức năng, nhiệm vụ của nó. Chỉ có khi ấy nó mới có thể ngăn chặn hoặc thay đổi được những chủ trương, chính sách sai lầm của một nhóm thiểu số nắm quyền lực bất lương. Còn với chế độ phản dân chủ và phản dân tộc hiện nay ở Việt Nam thì câu trả lời rõ ràng và dứt khoát là: không thể!

Quan điểm cho rằng: có thể chống Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc hiện đại bằng cách “Đoàn kết xung quanh Đảng cộng sản Việt Nam quang vinh”, miễn là phải làm sao để “Đảng của chúng ta” trở nên trong sạch, vững mạnh hơn (!?) là hoàn toàn sai lầm. Theo tôi, đây chính là điều không tưởng. Thực tiễn đã chứng minh một cách hùng hồn rằng: tất cả các chế độ độc tài độc đảng không chấp nhận sự cạnh tranh trên chính trường chỉ ngày càng tha hóa, biến chất đi mà thôi. Đây là vấn đề mang tính quy luật và ở Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ: những kẻ “thẻ đỏ, tim đen” không hề giảm đi mà ngược lại, chúng ngày càng xuất hiện nhung nhúc và đậm đặc trong lòng xã hội hôm nay!

Tất nhiên, trong khi Việt Nam chưa có được một nền dân chủ thực sự thì chúng ta cũng có thể cùng quyết tâm làm một số việc cụ thể sau đây, nhằm hạn chế được càng nhiều càng tốt những thiệt hại mà dự án trên có thể gây ra, khi mà NCQ CSVN vẫn bất chấp dư luận xã hội để triển khai nó:

+ Bằng mọi phương tiện và khả năng, chúng ta thông tin những tác hại về mọi mặt của dự án khai thác bauxite trên cho đồng bào trong nước biết, nhất là cho đồng bào Tây Nguyên. Từ đó, họ sẽ tạo ra những áp lực phản đối liên tục, thường xuyên lên cả nhà cầm quyền địa phương lẫn trung ương. Kể cả khi dự án này đã được triển khai.

+ Tuyên bố nhân dân Việt Nam không chấp nhận dự án này, cũng như không chấp nhận Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14-9-1958 và 2 Hiệp định giữa Việt Nam–Trung Quốc, ký năm 1999 và 2000, như đã nói ở trên. Vì tất cả chúng đều là những thỏa thuận bán nước cầu vinh của tập đoàn phản động “Nông Chiêu Thống” hiện nay và trước đó. Họ chỉ là một thiểu số nắm thực quyền bất lương trong ĐCS Việt Nam. Họ là tội phạm! Họ không xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt Nam!

+ Tranh thủ sự ủng hộ của thế giới tiến bộ, tranh thủ sự ủng hộ của chính phủ và nhân dân Campuchia, vì chính họ cũng phải chịu những ảnh hưởng xấu của dự án này; để họ cùng gây áp lực với NCQCS Trung Quốc và NCQCS Việt Nam hủy bỏ dự án tai hại này.
+ v.v…

6/ Anh nhìn nhận thế nào về hiểm họa của sự hiện diện đông đảo người Hoa Lục được đưa vào vùng Tây Nguyên để thực thi kế hoạch khai thác bauxite này?

Trả lời: Rất nguy hiểm. Tình cảnh của dân tộc ta hôm qua và hôm nay thật là bi đát, không chỉ những gì liên quan đến vùng Tây Nguyên:

+ Trên biển Đông thì ngư dân đi đánh cá bị bắt, bị đánh đập, bị tịch thu tài sản và bị bắn bởi lính trên tầu tuần duyên Trung Quốc. Máu của người Việt Nam đã đổ!

+ Các công ty khai thác dầu hỏa nước ngoài thăm dò dầu khí trên vùng biển Việt Nam theo thỏa thuận với Việt Nam đã bị phía Trung Quốc phản đối và họ đã phải rút lui. Trong khi đó thì phía Việt Nam phản đối rất yếu ớt, lúng búng như gà mắc tóc.

+ Trên biên giới phía Bắc thì phía Trung Quốc tìm mọi cách xâm nhập gặm nhấm bao năm qua, mà bất cứ người dân Việt Nam nào ở vùng biên giới cũng đều đã tận mắt chứng kiến.

+ Nay họ táo tợn tiến thêm một bước nữa là vào sâu trong nội địa Việt Nam. Tây Nguyên lại là vùng có tính chất hiểm yếu về an ninh và quốc phòng. Tại đây, họ sẽ có những điều kiện thuận lợi để chuyển các phương tiện do thám quân sự hoặc hơn thế nữa, mà việc khai thác bauxite có khi chỉ là cái cớ. Do vậy, nguy cơ mất nước kiểu mới mà Trung Quốc không cần phải tiến hành một cuộc chiến tranh quân sự theo kiểu truyền thống là điều hoàn toàn có thể xảy ra đối với dân tộc ta.

+ v.v…

Tuy nhiên, nếu nhìn ở một góc độ khác thì tôi lại thấy xuất hiện những yếu tố tích cực. Đó là: chính sự hèn hạ bạc nhược, chính sự xa hoa thối nát đến cùng cực của NCQCS Việt Nam, cộng với dã tâm xâm lược thâm độc của NCQCS Trung Quốc sẽ làm tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Qua đó, tạo nên một sức mạnh mới có thể nhấn chìm cả bè lũ bán nước lẫn lũ cướp nước.

Tôi luôn tin tưởng một cách mãnh liệt rằng: truyền thống hào hùng của những Chi Lăng, Bạch Đằng, Đống Đa,… của dân tộc ta từ ngàn năm xưa nhất định sẽ được phát huy cao độ trong cuộc chiến đấu và nhất định sẽ chiến thắng hôm nay. Đó là cuộc chiến đấu giành tự do dân chủ cho dân tộc ta! Đó là cuộc chiến đấu của dân tộc ta chống lại chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc hiện đại!

Cuối cùng, xin kính chúc quý thính giả của đài Chân Trời Mới luôn mạnh khỏe và gặp mọi sự an lành. Xin chúc cho nền dân chủ Việt Nam đến sớm.

Xin thành thật cám ơn anh Đỗ Nam Hải đã dành cho chúng tôi cuộc phỏng vấn hôm nay và xin hẹn gặp lại anh trong một dịp khác.

Nghĩ về chủ trương lớn của đảng và nhà nước CSVN khai thác mỏ bauxite Tây Nguyên

Đan Tâm 01-03-2009

Với tham vọng trở thành một cường quốc trên toàn cầu, Trung cộng (TC) đã đẩy mạnh mọi ngành kỹ nghệ, từ khai thác tài nguyên thiên nhiên tới chế biến hàng hoá đủ loại. Những hoạt động này tuy đã đưa số dự trữ ngoại tệ lên mức cao hàng nhất thế giới nhưng cũng tạo những vấn đề ô nhiễm môi sinh trầm trọng. Nhờ thế vận hội Bắc Kinh, người ta được biết không khí Bắc Kinh ô nhiễm một cách đáng sợ, vượt bực. Người ta cũng biết TC khai quặng nhôm bauxite ở Quảng Tây để có nhôm dùng trong kỹ nghệ máy bay và phi thuyền không gian. Sau một thời gian, cặn bã và phó sản hoá chất thải ra sau qui trình lấy nhôm đã làm ô nhiễm môi trường nặng nề, các nguồn nước thiên nhiên trong mát biến thành suối bùn đỏ, độc hại, vì chứa chất kiềm (NaOH).

Để bảo vệ môi sinh trên lãnh thổ, TC quyết định di chuyển môi trường ô nhiễm sang các nơi khác bằng cách mua gỗ ở Phi Châu và khai quặng bauxite ở VN. Bauxite là một khoáng thạch quan trọng, dùng để làm nhôm, được khám phá bởi nhà địa chất Pháp, ông Pierre Berthier năm 1921 tại làng Les Baux-de-Province thuộc miền Nam nước Pháp. Bauxite bao gồm 3 khoáng chất, khoáng chất chính là AL2O3, gộp chung với chất sắt và một phần nhỏ Anatase TiO2.

Hai dự án khai thác bauxite của tập đoàn TC đã được gửi lên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để cứu xét. Tháng 11-2007, Nguyễn Tấn Dũng đã phê chuẩn dự án khai thác và chế biến bauxite Tây Nguyên. Hoạt động sẽ trải dài từ Lâm Đồng sang Đắk Nông xuống Bình Phước. Trong dự án, còn có kế hoạch xây dựng nhà máy điện phân nhôm, làm tuyến đường sắt Tây Nguyên-Bình Thuận, xây dựng các cơ sở chứa nhôm ở Bình Thuận và xây dựng phương tiện để chuyên chở nhôm ra khỏi Tây Nguyên. Khai thác nhôm là chủ trương lớn của đảng và nhà nước CSVN, theo như tuyên bố của viên thủ tuớng này.

Đã có đông đảo ý kiến phản đối của các khoa học gia và chuyên gia, ngay cả Võ Nguyên Giáp cũng gửi thư lên Thủ Tướng chính phủ để ngăn cản. Họ phân tích những nguy hại về môi trường mà VN sẽ phải gánh chịu sau khi quặng đã được khai. Họ ví Tây Nguyên cũng như mái nhà của Đông Dương. Tàn phá môi trường vùng Tây Nguyên sẽ gây ra những thiên tai lớn, không chỉ Tây Nguyên mà cả những vùng dưới nữa. Tuy nhiên, Nguyễn Tấn Dũng vẫn họp báo và cương quyết tuyên bố: “Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và nhà nước, phải tiến hành tới cùng, cho dù dự án này gặp phản đối từ nhiều phía”.

Tuy nhiên ô nhiễm môi trường không phải chỉ đơn độc là môt vấn đề cần quan tâm trong việc khai thác bauxite. Tây Nguyên là một vị trí chiến lược quan trọng của VN. Hai giải cao nguyên nối tiếp nhau làm thành một hành lang thiên tạo là môt căn cứ địa vững chắc. Khi xưa Đại Tướng Pháp de Lattre de Tassigny đã nói: “Ai làm chủ được vùng cao nguyên Trung Phần và Hạ Lào thì sẽ làm chủ được chiến trường Đông Dương”.

Ngày nay, CSVN vì ham lợi trước mắt mà quên đi cái họa mất nước kề bên. Hãng Xina Pu Dien của Tàu cộng đã được phép đem nhân lực vào vùng Tây Nguyên để xây dựng cơ sở. Vùng này đã được treo bảng cấm người ngoài lai vãng, kể cả chính quyền VN. Mai này, TC đem mấy chục ngàn nhân công sang khai thác quặng bauxite. Ai bảo đảm là những công nhân này không bỏ kìm búa để cầm súng khi có bất đồng hai nước?

Có lẽ các ủy viên trong Bộ Chính trị không được dịp tới trường học “Lịch sử”, hoặc là học Lịch sử theo kiểu CS thì dị hợm hơn bình thường.

Mấy ngàn năm lịch sử của VN đã chứng minh bản chất thủ đoạn và tham vọng của TC. Trong việc giao dịch với người láng giềng đầy nguy hiểm và có tính chất “đạo tặc” này, Phạm Văn Đồng vì cuồng tín nơi chủ nghĩa đại đồng không biên giới nên đã coi Hoàng Sa Trường Sa của VN hay thuộc TC thì cũng thế mà viết công hàm gửi Chu Ân Lai năm 1958, đồng ý với quan điểm TC về những quần đảo này. Cuối thập niên 90 lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN sau khi Liên Sô sụp đổ vì muốn giữ quyền nên đã nhượng thêm một phần lãnh thổ để được sự ủng hộ của TC. Nay lại bỏ lơ nguy cơ chính sách “vết dầu loang” của TC để thêm một chút tiền bỏ túi mà cho người nước này vào khai thác mỏ bauxite ở Tây Nguyên để mọc rễ nơi miền chiến lược này.

Nhìn cho kỹ toàn cảnh chúng ta thấy gì? Biển Đông TC ép sát tới bờ biển, miền Bắc thì lấn vào biên giới, miền Tây Nguyên đầy tài nguyên thì mọc rễ ăn sâu, miền đồng bằng Cửu Long thì khô cạn vì hệ thống thuỷ điện TC chặn nước đầu nguồn. Nước Việt Nam như thế thì còn gì dưới chế độ Cộng sản toàn trị và được thổi lên hiện nay là đổi mới với Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh? Số tiền 2 tỷ rưỡi trên lý thuyết thu được do TC khai thác bauxite có xứng đáng với việc tàn phá thiên nhiên và nguy cơ mất nước hay không? Hơn nữa số tiền này còn lại bao nhiêu sau khi bị Đảng và chính quyền CS xâu xé?

Và chúng ta cũng nên đặt một câu hỏi: Chúng ta cần phải làm gì trước nguy cơ mất nước và tàn phá môi trường sinh thái ở nước ta?

Tây Nguyên trước nguy cơ bị tàn phá bởi dự án khai thác bauxite

Nhà văn Nguyên Ngọc trả lời pv RFI 03-03-2009

Bất chấp những ý kiến phản đối của giới chuyên gia và của dư luận Việt Nam nói chung, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng giêng vừa qua đã tuyên bố là chính phủ vẫn cương quyết thực hiện dự án khai thác bauxite tại vùng Tây Nguyên. Dự án này đã được phê duyệt từ đầu năm 2007. Trong bản thông báo, thủ tướng Việt Nam giao cho Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải tổ chức một Hội thảo khoa học về việc thăm dò khai thác bauxite, cũng như ảnh hưởng của dự án này đến môi trường. Thế nhưng, ông Nguyễn Tấn Dũng còn yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo cho báo chí là không được đưa tin về ảnh hưởng của dự án khai thác bauxite đến môi trường ở Tây Nguyên.

Sự bưng bít thông tin này lại càng khiến cho nhiều người dân Việt Nam nói chung và người dân Tây Nguyên nói riêng vẫn mơ hồ về tác động của một dự án mà theo nhiều chuyên gia, không hề có lợi chút nào cả về mặt kinh tế lẫn môi trường, mà lại gây tác hại về nhiều mặt cho vùng Tây Nguyên.

Tuy không phải là một nhà khoa học, nhưng nhà văn Nguyên Ngọc là người vẫn rất gắn bó với Tây Nguyên và hiểu rất rõ về vùng này. Hôm nay, chúng tôi xin mời quý vị nghe phần ý kiến của nhà văn Nguyên Ngọc về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

RFI : Ban Việt ngữ RFI rất hân hạn được tiếp chuyện với nhà văn Nguyên Ngọc hôm nay. Thưa ông, trước hết xin ông nhắc lại những phản ứng của giới chuyên gia và dư luận nói chung về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên ?

Nhà văn Nguyên Ngọc : Trước hết cũng phải nói rằng, thật ra, có hai luồng dư luận : dự luận phản đối những dự án bauxite ở Tây Nguyên và dư luận đồng tình với những dự án đó. Tuy nhiên, số ý kiến không đồng tình thì nhiều hơn rất nhiều. Những ý kiến phản biện đều cho là những dự án đó đều không được về tất cả mọi phương diện. Chiến lược lấy khai thác tài nguyên làm chính là một khái niệm rất cũ, thế giới người đã đi qua cái đó rồi.

Vừa rồi anh Trần Văn Thọ có một bài viết rất hay về quan hệ Bắc - Nam trong sự phát triển. Theo tác giả, phía Nam phải vượt qua giai đoạn chỉ khai thác tài nguyên cho phía Bắc. Điều đó rất đúng. Việt Nam mà cứ lay hoay trong cái đó thì rất nguy hiểm. Ngoài ra, theo tính toán của các chuyên gia, những dự án này hoàn toàn không có lợi, mà thậm chí bị thua thiệt rất nhiều về mặt kinh tế. Đó là nói về ý kiến của giới chuyên gia, còn dư luận nói chung quan tâm nhiều đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hóa xã hội của Tây Nguyên.

RFI : Thưa ông Nguyên Ngọc, theo ông, như vậy những dự án khai thác bauxite sẽ có tác động như thế nào về môi trường và văn hóa, xã hội đối với Tây Nguyên ?

Nguyên Ngọc : Về môi trường tự nhiên, như ta đã biết, Tây Nguyên giống như mái nhà của Đông Dương. Mình làm gì trên cái mái nhà đó, nếu không khéo có thể làm rúng động toàn bộ khu vực. Khai thác bauxite thì sẽ hủy hoại rừng, điều đó đã rõ. Như ở Đắk Nông chẳng hạn. Các mỏ bauxite của Tây Nguyên có đặc điểm là lớp quặng rất mỏng, chỉ từ 3 đến 5 mét hoặc nhiều lắm là 5 đến 7 mét. Vì vậy, diện phân bố của nó rất rộng. Trước khi lấy bauxite thì phải phá rừng ở trên, sau đó bóc một lớp đất, rồi sau đó mới đến lớp bauxite.

Cho nên, diện sinh thái bị hủy hoại, bị thay đổi là rất rộng và như vậy là nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến bản thân Tây Nguyên và đến toàn khu vực Nam Đông Dương. Nếu nó ảnh hưởng đến sườn của Cam Bốt thì có nghĩa là nó ảnh hưởng đến cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Vùng Tây Nguyên giống như là máy điều hòa khí hậu cho cả vùng Đông Dương. Nếu bị tàn phá thì nó sẽ có ảnh hưởng đến khiu hậu của toàn bộ khu vực này.

RFI : Thưa ông Nguyên Ngọc, người dân Tây Nguyên đa số sống nhờ vào các cây công nghiệp. Vậy thì họ có thật sự cảm thấy lo lắng khi thấy chính phủ sẽ triển khai dự án khai thác bauxite, một dự án sẽ phá rất nhiều diện tích canh tác ?

Nguyên Ngọc : Đúng là đa số dân Tây Nguyên sống dựa rất nhiều vào các loại cây công nghiệp, như cao su hay cà phê. Ở trên tôi chỉ mới nói đến tác động về môi trường, về đất đai, nhưng còn phải nói đến nguồn nước nữa. Vấn đề nước ở Tây Nguyên hết sức khó khăn, vì ở vùng này sáu tháng mưa, sáu tháng nắng. Bây giờ, kiếm đủ nước để tưới cho các cây công nghiệp cũng đã là khó khăn. Nếu thực hiện dự án bauxite thì sẽ đòi hỏi rất nhiều nước, cho nên, chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc canh tác cao su, cà phê.

Thế nhưng, do đa số người dân ở Tây Nguyên không được thông tin đầy đủ, cho nên, có nhiều người nghĩ rằng làm bauxite có nghĩa là công nghiệp hóa, tức là sẽ làm giàu cho các địa phương. Thật ra, kinh nghiệm suốt mấy chục năm qua cho thấy là ở Tây Nguyên chưa bao giờ có nơi nào đưa được người dân bản địa vào trong các nhà máy hiện đại cả. Ngay cả việc trồng cao su, cà phê, nếu sử dụng máy móc hiện đại thì cũng đã khó mà đưa người dân bản địa vào.

Nhiều chuyên gia đã tính toán rằng với số vốn đầu tư đó, thay vì đổ vào dự án bauxite, nếu đổ vào cho cao su và cà phê thì sẽ có lợi hơn rất nhiều, cả về mặt thu nhập lẫn tạo ra công ăn việc làm. Thế nhưng, do không được thông tin đầy đủ, những người nào có quyền lợi bị động chạm trực tiếp thì mới lo lắng, nhưng cũng có những người hy vọng vào dự án đó. Những người chủ trương làm thì chỉ tuyên truyền những cái hay ho, những kết quả tốt đẹp mà bauxite có thể đem lại. Cho nên, không phải ai cũng thấy ngay sự nguy hại, sự thiệt thòi. Chính vì thế mà các chuyên gia phải cố gắng thông tin nhiều hơn nữa cho nhân dân.

RFI : Thưa ông Nguyên Ngọc, là một người thường xuyên đến vùng Tây Nguyên, ông đã chứng kiến những tác hại hại đến môi trường ở Tây Nguyên như thế nào trong những năm qua ?

Nguyên Ngọc : Những năm phát triển vừa qua đã tàn phá Tây Nguyên rất nhiều. Rừng Tây Nguyên nay còn rất ít. Tôi biết rõ là nơi có rừng tốt, tức là nhìn đẹp mắt, nay chỉ còn ở khu vực núi Ngọc Linh, phía bắc Kon Tum và vùng Kon Plông ở phía tây Kon Tum. Kon Tum là nơi giữ được rừng tương đối tốt hơn cả. Ngoài ra cũng có một số khu bảo tồn. Nhưng ngay cả những khu đó cũng bị phá nhiều.

Nói chung, so với thời chiến tranh, rừng Tây Nguyên về cơ bản đã mất gần hết. Điều này rất nguy hiểm vì nó ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, vì nó gây nên khô hạn, làm đảo lộn khí hậu, ảnh hưởng rất xấu đến đời sống văn hóa xã hội của Tây Nguyên. Dân Tây Nguyên có nền văn hóa gắn rất chặt với tự nhiên, cho nên khi tự nhiên bị tàn phá thì nó ảnh hưởng rất xấu đến văn hóa và xã hội.

RFI : Vậy thì trong những dự án lớn như vậy, theo ông, chính phủ cần phải công bố rộng rãi cho dân chúng để mọi người biết và tham gia đóng góp ý kiến ?

Nguyên Ngọc : Những việc liên quan trực tiếp đến người dân, dù lớn hay nhỏ, người dân đều phải được thông tin. Bưng bít thông tin với người dân là sai. Người dân phải có quyền được thông về những việc có liên quan đến họ chứ! Khai thác bauxite là dự án lớn nhất ở Tây Nguyên từ trước đến nay, vậy mà người dân không được thông tin đầy đủ là không được. Những ý kiến có thể là khác nhau, nhưng phải thông tin cho người dân cả nước biết, đặc biệt là ngươi dân ở Tây Nguyên.

Có những điều mà các nhà khoa học gọi là tri thức bản điạ. Người dân Tây Nguyên sống trong cái môi trường tự nhiên và văn hóa đó từ hàng bao nhiên nghìn năm nay rồi. Họ có những tri thức đặc biệt, nhờ đó mà họ đã tồn tại và vượt qua những thử thách từ hàng nghìn năm nay. Khi tiến hành những dự án lớn như vậy, nếu không quan tâm xử trí vấn đề tri thức này thì sẽ rất nguy hiểm.

RFI: Trước đây, khối COMECON (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) đã từng dẹp bỏ dự án bauxite vì thấy không có lợi. Theo ông thì chúng ta có nên tham khảo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài, để ít rút tỉa những kinh nghiệm từ những nước khác đã từng có những dự án tương tự.

Nguyên Ngọc: Tôi thấy việc thủ tướng giao cho phó thủ tướng Hoàng Trung Hải nhiệm vụ chuẩn bị tổ chức một hội thảo về vấn đề này, trong đó mời cả chuyên gia trong và ngoài nước, là tốt, bởi vì khai thác bauxite là việc mà nhiều nước đã làm. Họ đã từng gặp những thách thức và ta phải xem họ đã giải quyết những thách thức như thế nào, như vấn đề môi trường, bùn đỏ, ảnh hưởng đến tự nhiên và xã hội.

Có nơi giải quyết thành công, nhưng cũng có nơi giải quyết không thành công. Theo tôi biết thì Trung Quốc đã đóng cửa hàng trăm mỏ bauxite và chủ trương là đưa cái đó ra nước ngoài. Tôi nghĩ là cần phải tham khảo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài.

RFI: Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Nguyên Ngọc.

Nên hay không nên khai thác quặng bauxite?

TS Mai Thanh Truyết trả lời pv RFA 05-03-2009

Những vụ tranh cãi về việc nên hay không nên khai thác quặng bauxite trên vùng Tây Nguyên tiếp tục là đề tài chính trong nước đối với giới khoa học hiện nay. Liệu khi khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến môi trường như thế nào và ảnh hưởng này có đáng để làm dừng lại việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này hay không? Mặc Lâm tìm câu trả lời qua bài phỏng vấn Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam ở hải ngoại, về vấn đế này như sau đây.
Tiến trình khai thác

Mặc Lâm:Thưa Tiến sĩ, xin ông cho biết việc khai thác quặng bauxite sẽ được tiến hành như thế nào và liệu Việt Nam có đủ năng lực để thực hiện công việc khai thác khó khăn này hay không?

TS Mai Thanh Truyết: Quặng bauxite là một loại quặng lộ thiên, nghĩa là chúng ta có thể khai thác thẳng quặng từ mặt đất chứ không cần phải đào đường hầm như khai thác mỏ than hay các quặng kim loại khác. Quy trình khai thác gồm có hai giai đoạn:
Giai đoạn đầu là đào xới các quặng mỏ. Dĩ nhiên trong quặng mỏ đó có trộn đất đá và một số kim loại độc hại lẫn trong quặng bauxite, do đó cần phải tách rời ra bằng các phương pháp cơ học, nghĩa là tẩy rửa bằng nước và bằng sút để ra quặng alumina. Alumina là một hợp chất oxýt của nhôm (Al2O3). Còn lại chất phế thải là bùn đỏ trộn lẫn với sút và nước mà chúng ta gọi là một chất bẩn độc hại âm thầm.

Giai đoạn thứ hai thực sự ra quan trọng hơn, vì từ alumina người ta phải sử dụng điện phân để tách ra nhôm ròng. Đây là giai đoạn quan trọng nhứt vì nó đòi hỏi công nghệ cao cũng như cơ sở sản xuất trích ly điện phân rất là cao, trong khi giai đoạn đầu chỉ đòi hỏi những nhu cầu dụng cụ, thiết bị đào xới và nhân công không cần chuyên môn.

Ô nhiễm môi trường, nguồn nước

Mặc Lâm: Các nhà khoa học cho rằng khi khai thác quặng bauxite thì nhiều vấn đề về ô nhiễm sẽ xảy ra, xin Tiến sĩ đơn cử một vài thí dụ điển hình về ô nhiễm mà người dân sẽ chịu trực tiếp ảnh hưởng sau này.

TS Mai Thanh Truyết: Nói về vấn đề ô nhiễm do khai thác quặng mỏ lộ thiên thì vấn đề bụi là vấn đề đầu tiên chúng ra đặt ra. Bụi ở đây không phải là bụi nằm trong vùng khai thác mà bụi đó sẽ chiếm lĩnh toàn vùng kể cả khu dân cư và khu nông nghiệp. Những bụi đỏ đó sẽ bám trên lá cây trồng trọt trong nông nghiệp, do đó cây trồng không thể phát triển được. Đối với con người, theo quy định của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ thì bụi phải dưới 10 micro. Khi bụi đó đi vào đường khí quản và vào trong phổi trong một thời gian dài thì người bị nhiễm sẽ đi đến ung thư phổi. Qua kinh nghiệm ở những vùng khai thác mỏ than ở các quốc gia bên Tây Phương, người ta thấy tình trạng ung thư phổi vì bụi là rất cao.

Mặc Lâm: Ngoài bụi là vật có thể thấy và cảm nhận được ngay trước mắt thì các nhà môi trường còn lo về vấn đề nguồn nước sẽ bị độc chất tấn công, nhất là nguồn nước ngầm sử dụng trong sinh hoạt. Tiến sĩ có chia sẻ gì về những quan tâm này, thưa ông?

TS Mai Thanh Truyết: Dĩ nhiên khi đào xới thì lớp đất thịt ở trên mặt sẽ không còn nữa và bùn đỏ có trộn lẫn hóa chất như sút và một số kim loại độc hại cũng như arsenic (thạch tín) là một kim loại kết hợp ái lực với sắt trong thiên nhiên chiếm tỷ lệ 4-5% trong đất, thì tất cả loại bùn đỏ đó sẽ chiếm một diện tích lớn trong việc khai thác. Người ta ước tính muốn khai thác một hecta quặng bauxite thì sẽ tái sinh ra 2 hecta bùn đỏ, và qua thời gian, qua mưa bão thì bùn đỏ có thể xâm nhập vào nguồn nước ngầm làm cho nguồn nước ngầm bị ô nhiễm. Thứ hai nữa, nước bùn đỏ, đặc biệt là tại vùng Đắk Nông và Nhân Cơ, thì bùn đỏ đó qua mưa có thể di chuyển theo các rạch nước để đi vào sông suối thượng nguồn của sông Đồng Nai. Và như chúng ta đã biết, sông Đồng Nai là nguồn nước cung cấp cho toàn vùng miền đông Nam Bộ và đặc biệt là Tp. HCM. Đó là những nguy cơ rất quan trọng, tức là nguy cơ về không khí và nguy cơ về nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt và nước ngầm.

Hiệu quả kinh tế?

Mặc Lâm: Những người ủng hộ việc khai thác bauxite cho rằng trong tình hình khó khăn hiện nay, quặng bauxite trong thiên nhiên sẽ giúp Việt Nam tăng thêm nguồn thu nhập rất lớn. Liệu sự đánh giá này có làm giảm bớt sự lo ngại về môi trường hay không, thưa ông?

TS Mai Thanh Truyết: Câu hỏi này, về phương diện hiệu quả kinh tế và về phương diện điều kiện hiện có ở Việt Nam, chúng tôi thấy hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế. Lý do là hiện nay khu Nhân Cơ và Đắk Nông là hai khu trồng tiêu và cà phê, đây là hai nguồn lợi rất lớn. Tính ra một hecta tiêu hay một hecta cà phê có thể đem lại nguồn lợi cho người dân hiệu quả kinh tế từ 2 đến 3 ngàn đôla, trong lúc đó khai thác một diện tích bauxite 4 hecta chỉ cho ra 2 tấn alumina. Một tấn alumina có giá trị khoảng 3-4 trăm đôla mà thôi. Nhưng cả vùng đất đó sẽ bị hoang hóa trong tương lai. Vậy xét về hiệu quả kinh tế thì hoàn toàn không có hiệu quả kinh tế, nhưng thảm nạn về môi trường, về dân sự, chính trị, văn hóa sẽ ảnh hưởng về lâu về dài.

Mặc Lâm: Nhưng cũng chính những bản nghiên cứu của tỉnh Đắk Nông cho biết là các loại cây công nghiệp như cà phê hay tiêu thì không phát triển tốt được trong vùng đất có quặng bauxite vì quặng nằm sát mặt đất cản trở cho hệ thống phát triển của các loại cây này. Ông nghĩ sao về những quan điểm như vậy?

TS Mai Thanh Truyết: Tôi hoàn toàn không đồng ý. Những cây trồng trong hiện tại như cà phê, trà hay tiêu là những cây trồng thuộc loại cây nhỏ, nghĩa là chỉ bám trên mặt đất mà thôi. Vùng Tây Nguyên là vùng đất trước kia là vùng núi lửa cách đây hàng triệu năm, do đó vùng đất này gọi là đất bazan (đất đỏ) rất tốt cho việc trồng cao su, trà, cà phê. Những lập luận của các nhà gọi là khoa học gia đó cho rằng đất không tốt cho cây cỏ thì tôi nghĩ rằng cách nói đó chỉ để đáp ứng cái quyết tâm của chính phủ Việt Nam hiện tại là muốn khai thác bauxite.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn TS Mai Thanh Truyết đã dành cho chúng tôi thời gian cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

Xin hãy cứu lấy Tổ quốc!

Chu Tất Tiến 05-03-2009

Lịch sử của dân Việt là một chuỗi những biến cố vừa hùng tráng, oai phong, vừa phẫn nộ và đau đớn chập chùng. Những giai đoạn hùng cứ biển Ðông xen lẫn với những thời gian chịu áp bức của ngoại nhân. Nhưng nổi bật lên trên tất cả và kéo dài hơn 4000 năm là cuộc đối kháng với Bắc Phương, cho đến ngày nay, vẫn chưa ngừng nghỉ. Tùy theo tinh thần và khả năng của giới lãnh đạo mà có lúc dân tộc ta hiên ngang đánh đuổi được quân xâm lược tràn từ phía Bắc xuống, làm kinh động cả thế giới, hay đành chấp nhận tủi nhục làm nô lệ, dù tạm thời, cho các lực luợng Thanh, Minh, Nguyên, hay Mông Cổ. Ðiều kinh sợ nhất là trong khi đất nước ta không thiếu những danh tướng lừng lẫy được toàn thể thế giới ngưỡng mộ từ Hai Bà Trưng, Bà Triệu, đến các đời Ðinh, Lê, Lý, Trần, Lê, với Trần Hưng Ðạo, Lý Thường Kiệt, Phạm Ngũ Lão, theo sau là Quang Trung Ðại Ðế, rồi các vị Vua anh hùng như Hàm Nghi, Duy Tân, cũng có những kẻ hèn hạ, rước voi về dầy mồ tổ tiên, bán nước cho giặc. Những Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, và cả họ Mạc cũng tỏ ra khiếp nhược, dâng nước cho Tầu. Và, một nhân vật, tuy có tài quản lý, nhưng cũng là một kẻ, cuối cùng, cũng hiện nguyên hình là làm hại đất nước: Hồ quý Ly. Từ cuối thế kỷ 14 sang đầu thế kỷ 15, Nguyễn Trãi đã viết bài hịch hùng tráng “Bình Ngô Ðại Cáo”, vạch tội họ HỒ: “Nhân họ HỒ chính sự phiền hà. Ðể trong nước lòng dân oán hận. Quân cuồng Minh thừa cơ gây loạn. Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh. Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn. Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ...”

Ðau đớn thay, hơn năm trăm năm sau, một người tự xưng họ HỒ lại tái diễn trò bán nước, buôn dân, cống nộp giang sơn ta cho kẻ thù truyền kiếp Bắc Phương. Cũng dưới sự cai trị của họ HỒ, dân đen cũng bị tiếp tục “nướng trên ngọn lửa hung tàn”, con đỏ cũng bị “vùi xuống dưới hầm tai vạ”. Ðau đớn hơn nữa là mặc dù ngày nay, dưới ánh sáng của văn minh đầu thế kỷ 21, khi việc thông tin đã lan tràn trên khắp mọi miền thế giới, khi trình độ hiểu biết của dân ta gấp trăm lần các thế kỷ cũ, nước ta vẫn tiếp tục bị bán đứng một cách ngang nhiên, trơ trẽn, khốn khổ khốn nạn, bởi những tay lãnh đạo, là con cháu của họ HỒ. Nếu không có biện pháp gì ngăn chặn, thì chỉ trong một thập niên nữa, Việt Nam sẽ trở thành một đất nước nô lệ dưới sự quản lý của Trung Cộng. Nhiều sự việc liên tiếp, công khai, đã chứng minh nhóm lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đang tiếp tục BÁN NƯỚC, để đổi lấy sự vinh thân phì gia của họ, mặc kệ cho danh dự Tổ Tiên bị chà đạp nhục nhã; mặc kệ vong linh của hàng trăm triệu dân Việt, qua bốn ngàn năm, đã hy sinh bảo vệ từng tấc đất giang sơn; mặc kệ cho những thế hệ sau hứng chịu hậu quả cay nghiệt của đời làm tôi mọi cho Tầu Cộng. Sau việc dâng Hoàng Sa, Trường Sa, và dải đất cực Bắc cho Tầu Cộng, bây giờ Nguyễn Tấn Dũng và đồng bọn đang tiến hành một chương trình bán luôn miền Nam cho giặc, qua kế hoạch khai thác mỏ Bauxite tại Đắk Nông.

Tất cả mọi chiến lược gia từ xưa đến nay đều biết rằng miền Cao Nguyên Trung Phần là điểm chiến lược nhìn bao quát toàn bộ ba xứ Ðông Dương: Việt, Miên, Lào. Người Pháp cũng từng đồng ý: “Ai chiếm được Cao Nguyên Trung Phần là chiếm được toàn bộ bán đảo Ðông Dương”. Vậy mà bây giờ, Nguyễn Tấn Dũng, Nông Ðức Mạnh, và Ðảng Cộng Sản đang âm mưu bán đứt miền này cho Trung Cộng, dưới nhãn hiệu “khai thác mỏ Bauxite”.

Thử nhìn về các vấn đề liên quan đến việc khai thác mỏ Bauxite tại Đắk Nông:

1- Về tính chất kinh tế và khoa học

Bauxite là loại quặng, nằm ngay trên mặt đất, hay ở một độ nông, có mầu đỏ nâu (brown mud), lẫn trong đất và đất sét, được sử dụng từ rất lâu trước khi được chế biến thành Aluminum (nhôm). Ở Guana, từ nhiều thế kỷ trước, người ta dùng loại đất này để làm nhà. Sau khi biết được đặc tính “nhôm” trong bauxite, thì nhiều nước trên thế giới đã khai thác bauxite, và đem lại lợi nhuận khổng lồ cho giới đầu tư, vì nhôm hầu như hiện diện trong khắp mọi đồ dùng, vật dụng, từ thìa, nĩa đến máy xe hơi hay vỏ máy bay. Tùy theo đất đai, trung bình cứ 4 tấn quặng, lấy ra được 2 tấn “alumina”, từ 2 tấn “alumina”, người ta lấy ra được 1 tấn nhôm ròng. Theo ước tính của các “chuyên viên” khoa học của Ðảng Cộng Sản, thì bauxite có nhiều tại miền Bắc, và Cao Nguyên Trung Phần. Riêng tại Đắk Nông, trữ lượng nhôm có từ 1 đến 2 triệu tấn. Trên thế giới, nơi nhiều Bauxite nhất là Guinê, với hơn 8 triệu tấn, Úc hơn 7 triệu tấn, Hoa Kỳ chỉ có chừng 40,000 tấn. Nhu cầu về nhôm rất cao, tuy nhiên vì tác hại môi trường của nó, nhiều nước đã giảm sự khai thác bauxite và chỉ khai thác bauxite ở những miền sa mạc hoang vắng. Gần đây, chính Trung Cộng đã đóng cửa trên 150 địa điểm khai thác bauxite vì bị các nhà khoa học và dân chúng phản đối kịch liệt. Ðể tiếp tục khai thác lợi nhuận này, Trung Cộng tỏa đi khắp nơi trên thế giới để tìm nhôm. Một trong những nơi mà Trung Cộng đang tiến hành khai thác là Việt Nam.

2- Về lợi ích kinh tế

Một khi đã ký nhượng đất cho Trung Cộng sử dụng, lợi nhuận dĩ nhiên là về phía Trung Cộng. Nhà cầm quyền Cộng Sản có thể chỉ được chia phần trăm và tiền thuế. Mà cho dù được chia lãi và tiền thuế, người dân Việt Nam cũng chẳng được hưởng lợi lộc gì. Dưới chế độ được liệt kê vào những nước tham nhũng nhất thế giới, tiền chia này nhất định vào túi lãnh đạo đến 9/10, và chỉ vào quỹ quốc gia một chút xíu. Nếu chia đầu người, chắc không đến chục đô la một năm. Kinh nghiệm Tết năm vừa qua, quỹ xóa đói giảm nghèo của Liên Hiệp Quốc chui gần hết vào túi cán bộ. (Tại sao lại có quỹ xóa đói giảm nghèo khi mà Việt Nam có những sân golf, khách sạn 5 sao, nơi giải trí, ăn chơi vào bậc nhất thế giới? Những lãnh đạo Cộng Sản, từ giai cấp công nông năm 1975, nay ai cũng có tài sản khổng lồ. Nếu công khai tài sản, chắc có nhiều lãnh đạo được kê tên vào danh sách những kẻ giầu nhất thế giới của Forbes.)

3- Về tác hại của môi trường

Theo những nhà khoa học, trong đó có Tiến sĩ Richard Yokel của University of Kentucky School of Pharmacology, nhôm là một chất độc hại gây tổn thương cho óc não và hệ thần kinh. Nhôm gây nên chứng “encephalopathy”, làm hủy mô não, làm mềm xương và gây nên bệnh thiếu máu (anemia), giảm thọ, và có thể gây nên bệnh Parkinson. Nhôm không chỉ hại đến não bộ của con người mà cũng là một vấn nạn lớn trong nông nghiệp ở chỗ làm suy đồi đất đai. Chất nhôm được dẫn qua nước chẩy vào sông ngòi sẽ tiêu diệt tất cả mọi thủy sản. Tôm cá đều chết hết. Với súc vật, nhôm có thể gây ra triệu chứng run rẩy giống như Parkinson, và chết sớm. Sau khi mỏ nhôm được khai thác, đất đai biến thành hàng dẫy những lỗ hố khổng lồ không thể lấp nổi, nước đọng ao tù đỏ quạch, không có sinh vật gì sống sót. Ðiều quan trọng là muốn rửa quặng, kẻ khai thác phải cần đến nước. Với chỉ tiêu khai thác 1 triệu tấn nhôm ở Đắk Nông, người ta cần đến cả chục đập nước. Như thế toàn bộ nguồn nước tiêu dùng, nước uống cho cao nguyên sẽ bị trưng dụng. Dân Cao Nguyên rồi uống nước ở đâu? Mực nước Sông Cửu Long hiện nay đang bị thấp vì Trung Cộng xây quá nhiều đập nước ở thượng nguồn, nay lại bị trưng dụng để rửa nhôm, thì đất đai hạ nguồn sẽ dần thành sa mạc. Hơn nữa, sau khi rửa quặng xong, nước lại chẩy xuống chỗ đất thấp và ra biển. Toàn bộ dân sử dụng nước để tưới ruộng vườn, sẽ bị ảnh hưởng. Ðời sống nông dân rồi khốn khổ. Cửa biển nơi nước nhôm chẩy ra sẽ không còn cá, vì sẽ chết hết cả. Ðời sống ngư dân rồi cũng khốn khổ.

Thêm vào đó, khi sử dụng máy để đào xới, độ rung chuyển của những cái máy cạp khổng lồ hoạt động suốt ngày đêm, sẽ làm chấn động địa chất. Cao Nguyên Trung Phần vốn có những núi lửa đang ngủ, nay bị kích thích, có thể hoạt động lại. Riêng phạm vi tiếng ồn phát ra 24 giờ một ngày có thể làm cho những cư dân trong vùng bị điếc tai, hoặc nhức óc kinh niên. Bệnh tật có thể phát ra mà không thể chữa trị. Bụi nhôm cũng là một vấn đề lớn. Người ta chỉ cần hít thở bụi nhôm, cũng bị nhiễm bệnh khó thở, nghẹt phổi và các bệnh về phổi khác. Khi thành phẩm đã xong, kẻ khai thác phải dùng đường bộ và đường biển để chuyển về nước họ. Trên đường đi, các thành phẩm ấy sẽ tiêu diệt nhiều loại côn trùng có ích, đồng thời rải ra rất nhiều vi khuẩn gây nên các sự nhiễm trùng và nhiều căn bệnh quái dị, trong khi giết tôm cá chết hàng loạt.

Ở Jamaica, các mỏ nhôm đã tàn phá đất đai, biến rừng thành sa mạc. Miền Nam Jamaica, 3 triệu tấn chất thải từ bauxite vẫn còn ảnh hưởng lâu dài đến sông ngòi và đất đai chung quanh. (http://www. jamaicaobserver.com/columns/html/) Ðiều kinh hoàng là trong cuộc nghiên cứu gần đây, các khoa học gia thấy đa số trẻ em sống gần nơi đó, đều bị uể oải và thích tự tử hàng loạt.

4- Về tác hại xã hội

Muốn khai thác 1 triệu tấn nhôm, người ta phải cần một diện tích mênh mông. Tùy theo địa chất, có thể từ vài chục ngàn, trăm ngàn, đến cả triệu mẫu rừng tương đương với hàng chục thành phố phải khoanh lại. Như thế, phải đuổi dân đi. Dân chúng quanh vùng sẽ phải di tản. Ði đâu? Vào thành phố lân cận? Có chỗ ở không? Những thành phố lân cận sẽ bị xáo trộn về tài chánh, về xã hội, về kinh tế. Những người bị đuổi có được bồi thường thỏa đáng không? Hay lại như ở Móng Cáy, Hưng Yên, Ðồng Nai, Cần Thơ… những nơi đầy dẫy Dân Oan bị cướp nhà, cướp đất cho sân Golf, Khách Sạn, Sân Chơi của lãnh đạo? Nếu có bồi thường thì ai bồi thường cho sự rối loạn sinh hoạt của gia đình? Bao nhiêu thanh thiếu niên phải rời xa cha mẹ, đi làm phu mỏ, nô lệ cho Tầu Cộng? Bao nhiêu vợ chồng tan rã? Bao nhiêu oan trái, thương đau với những cô gái phải bán thân, nuôi miệng? Khi chiếm được Cao Nguyên rồi, bọn Trung Cộng sẽ mang văn hóa người Hoa, dụng cụ Hoa, phương tiện Hoa, ngôn ngữ Hoa lấn chiếm những vùng đất chung quanh, tiêu diệt văn hóa người Thượng, người Nam. Trung Cộng sẽ hủ hóa các thiếu nữ quanh vùng, hoặc hãm hiếp, hoặc cho tiền, biến họ thành nô lệ tình dục, rồi đẻ con mang tên Trung Hoa. Có thể một loại thẻ căn cước được cấp riêng cho những người làm việc cho mỏ, và những ai có quan hệ với mỏ, biến họ thành công dân Trung Cộng.

Ðể giao thông và chuyên chở thuận tiện, nhất định bọn bán nước và quân xâm lược sẽ thực hiện những xa lộ xuyên suốt từ Trung Hoa qua Việt. Cạnh đường đi, sẽ có văn hóa và nhạc Trung Hoa đón tiếp. Dần dần rồi đất nước chỉ còn nghe nhạc Hoa từ Bắc vào Nam. Việt Nam rồi thành thuộc địa của Tầu như ngàn năm trước.

5- Về tác hại chính trị và quân sự

Đắk Nông và những vùng chung quanh vốn là nơi định cư của nhiều sắc tộc Thượng. Trong số những người Thượng hòa bình, cũng có những người Thượng luôn mong ước có một tiểu quốc cho riêng họ. Phong trào đòi Tự Trị đã nhiều lần được châm lửa. Nay, nếu Trung Cộng mang miếng mồi ngon ra chiêu dụ, có thể phong trào đòi ly khai sẽ nổ lên nữa. Một khi phong trào được hỗ trợ của quan thầy Trung Cộng, thì đệ tử Việt Cộng chỉ có khoanh tay đứng nhìn, không dám càn quét như hồi tiêu diệt phong trào đòi tự do tôn giáo của người Tin Lành. Một điều dễ sợ hơn tất cả là lực luợng gọi là “công nhân, kỹ thuật viên” người Hoa đến làm việc, có thể toàn là Công An hay quân nhân Trung Cộng. Với số lượng từ 7,000 người đến 10,000 người Hoa Cộng, tương đương với 2 Sư Ðoàn chiếm đóng ở đây, cộng thêm số thân nhân vợ con đến thăm nuôi đều đặn, và số gián điệp giả dạng báo chí, truyền thanh, truyền hình đến phục vụ cho khu mỏ độc lập này, ước tính thêm cả ngàn người nữa, sẽ không có lực luợng người Việt nào có thể chống cự lại hoặc đuổi chúng đi. Một hệ thống Rada phòng không sẽ được thiết lập. Nhiều cơ quan ngầm dưới đất để làm những chuyện ma quỷ gì đó sẽ được xây dựng trong vòng đai Nội Bất Xuất, Ngoại Bất Nhập này. Chúng có thể nghe lén toàn bộ các cuộc điện đàm tư tình, kiếm “gái gọi”, hoặc buôn bán lậu của các lãnh đạo mà “black mail”, nghĩa là gửi thư hăm dọa, thì các lãnh đạo sẽ phải im như hến, mặc cho Trung Cộng muốn làm gì thì làm. Như thế, MIỀN CAO NGUYÊN VIỆT NAM SẼ MẤT vào tay Trung Cộng một cách rất hòa bình. NƯỚC VIỆT NAM SẼ BỊ CẮT LÀM HAI MẢNH, Ở GIỮA LÀ TRÁI ÐỘN TRUNG CỘNG. Nếu có sự xâu xé, giành ăn giữa các lãnh tụ nẩy ra, Trung Cộng có thể đưa người của chúng vào Ban Lãnh Tụ, từ đó, khống chế toàn bộ Việt Nam. Lúc đó, Việt Nam đương nhiên trở thành tiểu quốc của Trung Cộng, mà không phải tốn phí một viên đạn!

6- Tính chất cực kỳ lì lợm của Ðảng Cộng Sản Việt Nam

Gần đây, nhiều nhà khoa học trong nước, nhiều cựu chiến sĩ, tướng lãnh, cán bộ, đảng viên, trong đó có cả Võ Nguyên Giáp và một cựu đại sứ Cộng Sản đã lên tiếng chống đối lại dự án khai thác Bauxite này. Nhưng mặc cho các người này kêu gọi, Nguyễn Tấn Dũng và Nông Ðức Mạnh vẫn cứ chứng tỏ rằng mình là những tên cực kỳ lì lợm, bỏ ngoài tai mọi lời khuyên răn của dân chúng, và tiếp tục cho Trung cộng khai thác khu mỏ. Dũng và Mạnh dư biết rằng tên tuổi và dòng họ của họ sẽ bị phỉ nhổ, khinh miệt, nhưng họ vẫn ngoan cố tuyên bố lếu láo về kế hoạch này, cố tình làm ngơ trước mọi chỉ trích của thế giới và người dân Việt về mọi hành động bán nước, buôn dân của họ. Dũng, Mạnh và Lãnh Tụ Ðảng Cộng Sản Việt Nam chính là tội đồ của dân tộc. Họ đã theo chân Tầu Cộng gây ra cuộc chiến Nam Bắc, làm chết trên 4 triệu người cả hai miền, rồi ký kết dâng đất, dâng biển, nay lại bán đứng Cao Nguyên. Ngày 13 tháng 5 năm 2009, hạn kỳ cuối cùng để Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển sắp tới mà Dũng, Mạnh vẫn khoanh tay làm ngơ, mặc cho Trung cộng làm chủ lãnh hải, có nơi vào sát gần bờ, mặc cho ngư dân rồi sẽ bỏ thuyền vì hết chỗ đánh cá. Nếu “xâm nhập vào lãnh hải Trung Cộng sẽ bị bắn chết!” Người Việt rồi sẽ hết cá để ăn!

7- Việc làm của chúng ta

Bởi vậy, tất cả những ai có lòng nghĩ đến đất nước phải đồng loạt bắt tay nhau, lên tiếng, hò la, chuyển tin đến mọi miền đất nước, đến những ngõ ngách của thế giới, mong họ cùng giúp chúng ta đòi lại đất tổ đã bao đời gầy dựng với sinh mạng của bao triệu chiến sĩ.

- Nhân dân Đắk Nông: xin hãy xuống đường, chống đối việc khai thác mỏ đến cùng. Nhất định không di chuyển, không bỏ đi, và không làm tôi mọi cho Tầu Cộng.

- Những ai từng ở Tây Nguyên và vùng cao nguyên như Ðà Lạt, Pleiku, KonTum, Ðắc Lắc, Di Linh, Buôn Mê Thuột: Xin hãy cất lên tiếng nói đòi lại đất đai thân yêu đang bị Dũng, Mạnh bán cho Trung Cộng.

- Sinh viên, học sinh, giới trẻ trong nước: Hãy xuống đường! Xuống Ðường! Ðòi lại danh dự cho dân tộc đang bị bôi nhục bởi một nhóm lãnh tụ hèn nhát, khiếp nhược, công khai làm nô lệ cho kẻ thù! Ðừng sợ bắt bớ, mà nên sợ không dám nhìn vào mặt con cái, phải cúi đầu không trả lời được câu hỏi: “Tại sao cha ông lại hèn nhát để kẻ thù chiếm mất đất ta?” Hãy để “quê hương là chùm khế ngọt” mãi, đừng để quê hương biến thành trái chua của Bắc Phương!

- Ðồng bào hải ngoại: Xin hãy đoàn kết cùng nắm tay nhau, phổ biến tin tức Bán Nước này đến cùng trời cuối đất, đồng thời lật mặt nạ Bán Nước, buôn dân của Dũng, Mạnh và lãnh tụ đảng Cộng Sản Việt Nam. Kêu gọi công lý nơi những người bạn ngoại quốc có tình cảm với dân Việt, xin họ tiếp tay chận đứng việc bán nước công khai này. Xin phối hợp với những người ở trong nước đang cất lên tiếng nói chống lại Ðảng Bán Nước, bảo vệ họ cho khỏi bị trù dập. Lập những chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí liên tục chống lãnh tụ đảng Cộng Sản bán nước. Kêu gọi sự thức tỉnh lương tâm của các đảng viên Cộng Sản, chống lại Dũng, Mạnh, đang vì quyền lợi riêng tư mà tàn hại quê hương.

Tha thiết mong tiếng kêu đau thương, uất hận này được sự đón nhận và tiếp tay của toàn thể dân Việt, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo, giai cấp, dân thường, cán bộ hay đảng viên, tư thương hay công nhân viên chức, để cho đất nước được vẹn toàn, để cho lịch sử không ghi lại một khúc quanh nhục nhã, để cho thế hệ sau không đau khổ sống trong sự nô lệ Tầu Cộng.

Hãy vùng lên, VIỆT NAM ƠI!

Ðả đảo Dũng, Mạnh, bán nước cầu vinh! Ðả đảo Dũng, Mạnh hèn nhát, khiếp nhược, dâng đất nước cho kẻ thù. Ðả đảo Dũng, Mạnh tiêu diệt nguồn sống của nông dân và ngư dân! Ðả đảo Dũng, Mạnh tàn hại sinh hoạt và đời sống của trăm thế hệ tương lai! Ðả đảo Dũng, Mạnh PHẢN BỘI TỔ QUỐC!

Chu Tất Tiến

Phản ứng của các khoa học gia về chuyện khai thác bauxite

Mặc Lâm, phóng viên đài RFA 06-03-2009

Sau khi nhận được quyết định của thủ tướng chính phủ chính thức cho phép khai thác bauxite tại Tây Nguyên, giới khoa học và môi trường trong nước ngỡ ngàng vì những nghiên cứu, bài viết hay ý kiến của họ về vấn đề này trở thành vô ích.

Sau khi nhận thấy dư luận không thuận lợi, văn phòng thủ tướng cho biết sẽ tổ chức một cuộc hội thảo để nghe ý kiến từ giới khoa học vào thời gian sắp tới.

Giới khoa học e ngại cho việc khai thác bauxite

Quặng bauxite tại Tây Nguyên vẫn là vấn đề đang được quan tâm hàng đầu hiện nay mặc dù quyết định của thủ tướng chính phủ đã bật đèn xanh cho các công ty khai thác chuẩn bị bắt tay vào việc. Giới khoa học gia bồn chồn trước quyết định này nhưng họ vẫn không bỏ cuộc. Người tiếp tục lên tiếng trên các tờ báo lớn trong nước, có người lặn lội lên tận vùng đất sắp bị khai thác để nghiên cứu thêm những dữ kiện đang gây tranh luận trước một dự án có tầm cỡ lớn lao này.

Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng trước khi ký quyết định cho phép khai thác quặng bauxite, đã nhiều lần tuyên bố là sẽ xem xét dự án này dưới nhiều góc cạnh để tìm giải pháp tối ưu khi khai thác tài nguyên quốc gia. Trong một lần tiếp xúc với báo Tuổi Trẻ, khi được ký giả Võ Văn Thành hỏi về bức thư đề nghị ngưng dự án bauxite Tây Nguyên của đại tướng Võ Nguyên Giáp, thủ tướng Dũng đã trả lời rằng dự án này là một chủ trương lớn của nhà nước và Bộ Chính Trị đã ba lần nghe, kết luận và chính phủ đã phê duyệt dự án này. Thủ tướng Dũng cũng nhất quyết cho rằng sẽ chú trọng tới vấn đề ô nhiễm và bảo đảm an ninh đất nước.

Giới khoa học đã chứng minh bằng những dữ liệu hùng hồn cho thấy, khai thác bauxite dứt khoát sẽ gây ô nhiễm trầm trọng cho môi sinh và không có biện pháp tân tiến nào có thể bảo vệ an toàn cho con người trong khu vực, kể cả các vùng hạ lưu sông Đồng Nai. Giới khoa học đưa ra những phản biện về vấn đề môi trường, hay lợi ích kinh tế không hiệu quả lẫn việc khai thác sẽ gây xáo trộn đời sống cho người bản xứ trong đó có một số lớn các bộ tộc của dân tộc ít người sinh sống.

Trung Quốc đã có mặt trên Tây Nguyên

Vấn đề an ninh đất nước như thủ tướng Dũng hứa đã bị dư luận nghi ngờ khi phát hiện một số lớn công nhân người Trung Quốc đã có mặt tại khu vực có quặng mỏ, mặc dù chính quyền đánh tiếng cho rằng họ là công nhân sẽ làm việc trong các công ty Trung Quốc nhưng hình như thông tin này không làm dư luận an tâm.

Nhà văn hóa Nguyễn Huệ Chi, lên tiếng về vấn đề này cũng đồng tình với những lo ngại mà nhiều người cho là trước mắt: Việc khai thác sẽ gây xáo trộn cho người dân tộc trên vùng Tây Nguyên nhưng nghiêm trọng hơn là người ta đem những người mà dân tộc Việt Nam cảnh giác từ hàng ngàn năm nay vào đấy khai thác mới đáng nói.

Giáo sư TSKH Lê Huy Bá, khoa trưởng khoa Địa lý môi trường thuộc đại học Khoa học Nhân văn Tp. HCM cho biết những ưu tư của ông và đồng viện về vấn đề này: Chuyện khai thác bauxite ở Đắk Nông họ đã thông qua và đặt các nhà khoa học vào một chuyện đã rồi.

TSKH Nguyễn Văn Khải cũng tỏ ra quan ngại khi để cho người nước ngoài khai thác khi nhà nước không có một kiến thức nào về vấn đề này: Nhà nước không làm được việc thì chờ cho thế hệ sau này làm, chứ giao cho nước ngoài thì con cháu chúng ta còn gì?

Tổ chức cuộc hội thảo với sự tham gia của giới khoa học

Chính phủ đưa ra quyết định cho các chính sách lớn là một việc làm đúng đắn vì không thể hỏi hết ý kiến của tất cả các nhà khoa học hay văn hóa của cả nước. Tuy nhiên, trước những vấn đề có tầm cỡ quốc gia, sự quan tâm của xã hội trở thành một quan tâm chung thì cần được sự lắng nghe từ phía nhà nước. Cơ quan cao nhất nước là Quốc hội cũng cần được chính phủ báo cáo để việc thi hành chính sách đạt được sự đồng thuận của toàn dân.

Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho biết ý kiến của ông: Tôi đồng tình vơí ý kiến cho rằng nhà nước nên hỏi ý kiến các nhà khoa học và những chuyên gia có quan tâm đến vấn đề. Làm như vậy tốt cho cả hai phía.
Mới đây, trước sự phản hồi mạnh mẽ của dư luận, thủ tướng chính phủ cho biết sẽ tổ chức một cuộc hội thảo để hỏi ý kiến các nhà khoa học có quan tâm đến vấn đề này. Chúng tôi hỏi ý kiến GS Lê Huy Bá và ông tỏ ra nghi ngờ khi nói vắn gọn: Hội thảo thì mấy ông ấy mời những người ủng hộ mà thôi.

Phía sau quyết định của thủ tướng người ta cho rằng có sự lobby mạnh mẽ của những thế lực trong cũng như ngoài nước. Những thế lực này vận động để kiếm lợi nhuận khi việc khai thác quặng bauxite tại Tây Nguyên lọt vào tay họ. Chưa có bằng chứng nào về những nghi ngờ này thế nhưng việc mời và lắng nghe ý kiến của các chuyên gia một cách trân trọng là phương cách chứng minh sự vô tư của chính quyền trước những lời đồn đoán không hề có lợi cho các chủ trương chính sách trong lúc này.

Bô-xít Tây Nguyên: ông Mạnh, ông Dũng và tướng Giáp

Blog Change We Need 08-03-2009

Rất nhiều người đang bức xúc về việc Trung Quốc đưa người qua khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Cuối năm 2007, tôi nghe dự án này bị chính ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng không ủng hộ, thế nhưng đến cuối năm 2008 thì cũng chính ông ấy đã mở cửa một cách quá hớp cho nó. Điều này đã thôi thúc tôi đi tìm sự thật.

Ý tưởng của đề án này có từ thời ông Phan Văn Khải còn làm Thủ Tướng, nhưng với bản tính dè dặt ông Khải đã không thúc đẩy dự án này. Để không mất lòng ông Mạnh, ông Khải trì hoãn tiến trình nghiên cứu đề xuất của các cơ quan chức năng chứ không lên tiếng phản đối. Khi nhậm chức vào giữa năm 2006, ông Dũng tiếp tục kéo dài cách thức trì hoãn này hơn nữa. Đến đầu năm 2008 khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào khủng hoảng trong lúc nội bộ Đảng đang lục đục. Đầu tháng 6 ông Mạnh đi thăm Trung Quốc để tìm kiếm giải pháp cho vấn đề kinh tế, sau đó 2 tuần ông Dũng đi Mỹ cho cùng một mục tiêu. Trung Quốc nói với ông Mạnh rằng sẽ bỏ tiền ra cứu kinh tế Việt Nam với điều kiện tiên quyết là phải cho Trung Quốc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và chấp nhận có đến khoảng 20 ngàn công nhân làm việc tại đây. Còn Mỹ thì hứa với ông Dũng để đặt bẫy rằng sẽ tiếp ứng cho Việt Nam 20 tỷ USD mà không cần phải kêu gọi đến WB hay IMF.

Ông Dũng trở về với thái độ hân hoan và cả huênh hoang về kết quả mình đạt được, còn ông Mạnh thì nặng trĩu vì với yêu cầu của TQ như vậy thì ông chẳng nghĩ ra cách nào để thông qua Bộ Chính trị. Nhưng ông Hồ Cẩm Đào vẫn động viên rằng chỉ cần ông Mạnh quyết tâm thì ắt sẽ có cách đạt được, và 2 bên đồng ý thiết lập đường dây điện thoại nóng để kịp thời thông tin ứng cứu “cho nhau”. Ngay sau đó bộ Ngoại giao TQ liên tục đề nghị Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng sang thăm chính thức TQ nhưng ông Dũng đều tìm cách thoái thác. Vào lúc ấy mọi người đều thấy rằng ông Dũng đang nghiêng về phía Mỹ và đang trông đợi vào sự giúp đỡ của Mỹ, đang tìm một cửa để lấy điểm với Mỹ để củng cố cho thế lực, đặc biệt là các tập đoàn kinh tế của ông ấy. Nhưng chờ mãi chẳng thấy kết quả lời Mỹ hứa, chỉ thấy hết đoàn này đến đoàn khác vào VN để ký những thỏa thuận ràng buộc nhằm xí chỗ. Tình hình kinh tế trong nước diễn biến ngày càng xấu: tháng 8, tháng 9, tháng 10 năm ngoái căng như dây đàn sắp đứt. Thời điểm để TQ ra tay đã chín mùi. Ông Dũng không còn cách nào khác, buộc phải đi TQ trong một tình thế bị động.

Các yêu cầu về nghi lễ ngoại giao long trọng lúc đó đều bị TQ bác bỏ trước chuyến đi. Nhưng ông Dũng không còn cách nào khác phải chấp nhận lên đường. Nhưng thật bất ngờ, nghi lễ đón tiếp đã diễn ra long trọng nhất mà TQ đã từng dành cho các nguyên thủ quốc gia. Kết quả của chuyến đi được loan báo là thành công ngoài mong đợi. TQ đã đạt được lời hứa sẽ phê duyệt ngay dự án bô-xít Tây Nguyên cho TQ trước cuối năm 2008, không những được phép đưa người vào VN, TQ còn được những quy chế quản lý công nhân, công trường tại khu vực khai thác theo những những đặc thù riêng của mình, gần như một lãnh địa theo quy chế ngoại giao riêng. Ngược lại, TQ sẵn sàng ứng trước tiền cho VN trong việc khai thác này một cách “lặng lẽ” để VN có nguồn lực đối phó với khủng hoảng kinh tế. Con số là bao nhiêu thì đến giờ vẫn chưa có ai tiết lộ được. Khi tôi “khen” TQ đi một nước cờ cao tay thì một trợ lý trước đây của ông Mạnh nói rằng: “Đối xử với người tham như ông Dũng thì có khó gì, ông ta có quyền lợi thì chuyện gì cũng xong hết”.

Các công việc nghiên cứu đề xuất của các cơ quan chức năng nhanh chóng được hoàn thành một cách sơ xài với đa số các ý kiến đồng ý. Chính phủ trình ngay lên cho BCT và được biểu quyết thông qua với đa số tuyệt đối. UBTVQH cho ý kiến ủng hộ mà chẳng hề thông qua Quốc hội. Việc phê duyệt nhanh chóng như vậy gây bất bình cho rất nhiều tầng lớp nhân dân, kể cả các thành phần trong quân đội. Những ai am hiểu quân sự đều biết rằng Tây Nguyên là một dãy đất hẹp nhưng rất trọng yếu, chính nhờ khống chế được Tây Nguyên dễ dàng vào đầu năm 1975 mà Chiến dịch Mùa xuân sau đó đã kết thúc nhanh chóng vào 30-4. Ai chiếm được Tây Nguyên thì sẽ khống chế được toàn vùng Nam bộ, và vì nó hẹp nên cũng sẽ dễ dàng cắt đôi đất nước Việt Nam tại Tây Nguyên này. Trong quân đội có một số tướng lĩnh rất bất bình với kiểu “bán nước” này nhưng không làm gì được. Họ phải nhờ đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dù biết rằng sức khỏe tướng Giáp rất yếu và tránh bị chấn động, nhưng không còn cách nào khác, mọi người hy vọng uy tín của ông sẽ làm thay đổi được vấn đề này. Và quả thật, tướng Giáp khi nghe chuyện đã thật sự bị sốc, ông không ngờ người ta dâng Tây Nguyên một cách dễ dàng như vậy.

Bức thư ông gửi cho ông Dũng đăng trên Vietnamnet chỉ là một phần rất ngắn để đưa ra công luận. Toàn bộ nội dung những lời của tướng Giáp phân tích rất rõ nguy cơ mất nước như thế nào khi để TQ khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Nó được gửi đến cho cả BCT chứ không chỉ cho ông Dũng. Nhưng kết quả thì mọi người đã biết, cái dự án chết tiệt đó vẫn được tiến hành bất chấp lời can ngăn của vị tướng già hết mực yêu nước. Vì lý do này mà tướng Giáp đã bị suy sụp phải nhập viện, tưởng đã không qua khỏi hồi đầu năm. Có người bảo rằng ông đã không có hồng phúc để ra đi trước khi phải chứng kiến cái sự suy tàn của chế độ mà ông đã góp phần xây dựng nên nó bằng chính tấm lòng yêu nước yêu dân của mình. Nhưng tôi cho rằng việc ông đã vượt qua được kỳ thập tử nhất sinh vừa rồi là điều phúc lớn cho nhiều người.

Ông Dũng từ chỗ “lơ là” quay qua ủng hộ và đẩy mạnh tiến độ dự án một cách bất ngờ. Để “xoa dịu” Tướng Giáp, ông ấy đã chỉ đạo dành những dự án đầu tư béo bở của nhà nước cho những người con của tướng Giáp. Có lẽ đoán trước được điều này, tướng Giáp đã nhắc nhở những người con của mình phải cẩn thận, giữ mình. Những người con của tướng Giáp không đi theo nghiệp chính trị, các anh là những doanh nhân. Không biết là những Võ Điện Biên, Võ Hồng Nam có đứng vững trước những sự tấn công các loại đặc quyền không. Một người thân (đang còn trong quân đội) với tướng Giáp hiện nay nói rằng các anh này là những người hiếu thảo, sẽ biết giữ thanh danh cho gia đình. Người này cũng nói rằng may mà bây giờ Trương Gia Bình, chủ tịch FPT không còn là con rể của Tướng Giáp, nếu không thì dễ dàng mua chuộc nhân vật này để gây ảnh hưởng trong gia đình tướng Giáp. Tướng Giáp đang khỏe dần lên, đã có thể nghe được người khác đọc sách báo và truyền đạt lại ý của mình.

Một nguồn tin cho hay rằng trong chuyến đi TQ nói trên, ông Mạnh đã gặp phải một đòn độc thủ của TQ. Một nhân vật cấp cao trong Đảng CSTQ nói với một nhân cũng cấp cao (xin được giấu tên) trong đoàn VN đi theo ông Mạnh rằng nếu phía VN không đáp ứng các yêu cầu của phía TQ thì rất có thể một số tài liệu liên quan đến thỏa thuận của lãnh tụ Hồ Chí Minh với lãnh tụ Mao Trạch Đông về vấn đề biên giới lãnh hải sẽ được công bố, mà điều này thì hoàn toàn bất lợi cho uy tín của Đảng CSVN. Ông Mạnh ở vào thế không còn lựa chọn nào khác.

Một số người am hiểu cho biết rằng hiện nay số công nhân TQ có ở Tây Nguyên đã lên đến con số gần 1 vạn người dù rằng công việc khai khoáng chưa thực sự bắt đầu, chỉ đang trong giai đoạn chuẩn bị.

Blog Change We Need.

Thị trấn bô-xít tại Lâm Đồng

Lý Nam Bình 08-03-2009

Theo quốc lộ 20 từ Sài Gòn về Đà Lạt, đến Bảo Lộc ngay tại ngã 3 Lộc Sơn quẹo trái 15 cây số nữa sẽ tới thị trấn Bảo Lâm. Nơi đây là tổng hành dinh điều hành khai thác bô-xít ở Lâm Đồng. Đến trung tâm thị trấn, ngay chỗ chợ Bảo Lâm, theo mũi tên chỉ dẫn quẹo trái vào 200m sẽ đến khu điều hành khai thác bô-xít. Nơi đây bao gồm nhà ở của các chuyên gia Trung Quốc và các quan chức của Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam. Còn mỏ bô-xít thì cách đó chừng 5 km. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: thị trấn Lộc Thắng, xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm

Khác với sự dè dặt trên Đắk Nông, tại Bảo Lâm người ta thoải mái nói về bô-xít hơn. Từ quốc lộ 20 có bảng chỉ dẫn đường vào vùng khai thác mỏ và nơi điều hành khai thác. Và an ninh cũng có phần lỏng lẻo hơn Đắk Nông nhiều.

Người Trung Quốc bao gồm các chuyên gia và công nhân tràn ngập thị trấn Lộc Thắng. Các hàng quán phục vụ người Trung Quốc mọc lên rất nhiều bằng các bảng hiệu song ngữ Việt - Tàu. Theo một cán bộ phòng Lao động Thương binh tại thị xã Bảo Lộc thì hiện nay có khoảng 500 người Trung Quốc gồm các chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽ có hơn 6000 người Trung Quốc phục vụ tại đây.

Các chuyên gia Trung Quốc thì ở ven thị trấn Lộc Thắng trong khu cao cấp biệt lập nằm bên một hồ nước thơ mộng. Cuối tuần khu này vắng vẻ, do họ về Sài Gòn hay lên Đà Lạt ăn chơi. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì ở ngay tại khu mỏ. Từ thị trấn Lộc Thắng đi 5 cây số về hướng Đắk Nông đến ngã 3 Cát Quế, sẽ thấy họ sống trong những ngôi nhà thấp lè tè lợp tôn màu xanh. Hiện có khoảng 8 dãy nhà dành cho công nhân ở. Chúng tôi gặp chị Hương đang lo nấu ăn cho 1 dãy nhà gồm 45 công nhân Trung Quốc. Chị cho biết: “Hiện có khoảng 300 công nhân Trung Quốc ở đây, mỗi dãy nhà họ thuê 2 người nấu ăn, lương mỗi người là 150.000 VND”. Theo chị Hương thì cách ăn uống của công nhân Trung Quốc khác lạ: buổi sáng ăn cháo trắng với cá khô kho mặn và họ sống rất hà tiện. Họ giao 700 ngàn đồng (cỡ 40 mỹ kim) cho chị Hương bảo phải đi chợ nấu ăn cho 45 người. Không riêng gì nhóm chị Hương mà người nấu cho các nhóm khác đều kêu ca. Người dân thị trấn Lộc Thắng cho hay mỗi sáng sớm và chiều tối, hàng tốp công nhân Trung Quốc kéo nhau đi dạo và vào các hàng quán. Một điều dễ nhận là họ mua cái gì cũng trả giá từ cục xà phòng, hộp kem. Dù giá bán lẻ in ngay ngoài vỏ hộp, họ cũng trả thấp hơn một phân nửa.
Anh Hoàng Văn Xướng, một công nhân lao động phổ thông, 20 tuổi, ở ngay thị trấn Lộc Thắng, cho hay hiện có rất nhiều người dân địa phương và người miền Bắc vào làm công nhân tại mỏ. Giá tiền công là 90 ngàn cho một ngày làm việc. Đó là công giá sau khi qua các tay cò trung gian. Nếu liên lạc trực tiếp với các tay thầu Trung Quốc thì được trả 150 ngàn VND. Công việc chính của các công nhân Việt Nam là đào móng và các việc lặt vặt khác. Mỗi ngày có khoảng 300 người Việt Nam làm việc nơi đây.

Anh Nguyễn Văn Quốc, 25 tuổi, người Đà Nẵng, kỹ sư tốt nghiệp Đại học Bách khoa Đà Nẵng làm việc tại đây được 3 tháng, cho biết anh đang làm việc chung với nhóm chuyên gia Trung Quốc và có 4,5 thông dịch viên. Công việc của anh là hướng dẫn công nhân Việt Nam đào các móng. Mỗi trụ móng 1mét vuông nhưng chiều sâu đến 13,5 mét. Khu nhà máy rộng đến 60 hecta. Làm đúng kích cỡ do các chuyên gia Trung Quốc chỉ dẫn, sau đó họ đem nhà máy của họ qua đây lắp vào các trụ móng xây sẵn. Anh Quốc cũng cho biết lương kỹ sư của anh là 6 triệu đồng 1 tháng, thấp hơn lương công nhân Trung Quốc là 10 triệu đồng. Công nhân Trung Quốc đến từ các vùng miền núi, nông thôn, không có học hành gì. Anh Quốc dẫn chúng tôi vào sâu trong vùng mỏ. Đi đâu cũng thấy bảng chỉ dẫn bằng 2 thứ tiếng Việt-Hoa.

Một cán bộ làm việc tại văn phòng UBND huyện Bảo Lâm cho biết nhà máy đã khởi công gần 1 năm nay rồi, nhưng công tác đào tạo đã chuẩn bị trước đây 4 năm. Học Đại học 4 năm thì ở Trung Quốc: các sinh viên là con em địa phương, thi đại học Bách khoa Sài Gòn hay Bách khoa Đà Nẵng bị rớt mà trên 10 điểm cho 3 môn thì được gởi đi học 4 năm ở Trung Quốc. Toàn bộ chi phí do phía Trung Quốc đài thọ. Khóa đầu tiên hơn 50 em đã đi học được 3 năm rồi. Còn học hệ Cao đẳng thì tại Hải Phòng, công nhân học hệ Trung cấp thì ở Bảo Lộc.

Anh Nguyễn Tín, người dân thị trấn Lộc Thắng cho biết thêm: toàn bộ đợt đầu đi học là con của cán bộ huyện Bảo Lâm và thị xã Bảo Lộc, còn dân thường muốn gởi con đi học thì phải tốn 25 triệu đồng lo lót. Các đợt sau thì rẻ hơn, chỉ 20 triệu thôi. Anh cũng muốn gởi con mình đi học ngoại quốc cho biết nhưng con anh không chịu, do sợ tốn kém cho gia đình.

Người dân Lộc Thắng thì đi đâu cũng bàn tán xôn xao về mỏ bô-xít. Họ kể về những gia đình được nhận tiền đền bù giải tỏa để giao mặt bằng trên 1 tỷ đồng nhưng ra thị trấn hay xuống thị xã mua nhà vẫn không đủ. Có người không chịu đi bị cưỡng chế, sau đó tiền đền bù mất hơn 400 triệu trừ vào chi phí cưỡng chế. Có người tiếc vườn chè vườn cà phê, quyết ôm cột nhà không đi, bị xe múc vào múc bể đầu chết ngay tại chỗ mà còn bị kết tội là chống người thi hành công vụ. Cũng có nhiều người nhận ra là bô-xít rất độc hại. Họ biết rõ là Trung Quốc đóng cửa các nhà máy bô-xít của họ và qua đây khai thác bô-xít của mình nhằm tránh độc hại cho dân họ, còn dân mình thì lãnh hết hậu quả.

Từ ngã 3 Cát Quế, ngay tâm điểm vùng mỏ tại Bảo Lâm, đi khoảng 40 cây số nữa sẽ đến mỏ bô-xít ở Đắk Nông. Dọc đường chúng tôi bắt gặp nhiều người dân tộc Châu Mạ sống đói khổ trong những căn nhà sàn xập xệ rách nát. Họ vẫn hồn nhiên trên những nương chè ngút màu xanh. Mùa này chè tươi được mua với giá 1000 đồng/1 kílô. Những thung lũng mát màu xanh của thông, chè, cà phê có nguy cơ bị hủy diệt, lần này không phải bởi chất độc màu da cam mà bởi những bụi đỏ và bùn đỏ của bô-xít.

Rồi đây 20 năm nữa, vùng hạ lưu sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, và hồ Trị An sẽ nhiễm độc và các cháu bé bại liệt, què quặt, ngây ngô chắc sẽ được công kênh qua Tàu để kiện Bắc Kinh chăng? Những người đang nhẫn tâm đặt bút ký đủ loại quyết định cho Trung Quốc vào khai thác Bô-xít tại Trung Nguyên liệu lúc đó có còn sống để thấy hậu quả việc họ làm không?

Lý Nam Bình

Tường trình từ Bảo Lâm- Lâm Đồng.

Chủ trương lớn hay mồ chôn đất nước?

Blog Người Buôn Gió 11-03-2009

Phát súngtrên cao nguyên.

Ngày 22-2 -1957, cách đây hơn nửa thế kỷ, anh hùng lực lượng vũ trang Hà Minh Trí đã nổ phát súng nhắm tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm. Do hơi run tay lên vụ ám sát đã không thành. Rút kinh nghiệm từ hơn 50 năm trước, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước ta đã phối hợp chặt chẽ nổ một phát đạn trên cao nguyên. Do có ''chủ trương lớn" từ đầu nên đã hoàn toàn trúng đích. Phát đạn tương đương với sức công phá của một quả bom nguyên tử này có tên là ''bô-xít Tây Nguyên''.
Cuối cùng người Trung Quốc thông qua Tây Nguyên đã rửa sạch những món nợ tích lũy qua bao nhiêu thế kỷ từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... muôn vàn những trận đánh oai hùng của quân dân Việt Nam từ xưa đến nay đều bị lu mờ bởi một trận đánh cực lớn trên Tây Nguyên mà người Trung Quốc dùng bô-xít làm chủ công. Chiến thắng này của người Trung Quốc trên đất Việt là một chiến thắng vĩ đại để rửa hờn cho bao thế hệ đi trước của họ đã bị thất bại ở Việt Nam.

Một thảm Tây Nguyên xanh sau khi bị tàn phá sau năm 1975 bởi những giám đốc lâm trường - trong số đó giờ có người là ủy viên trung ương - làm giàu cho bao kẻ bất lương. Những gì trên mặt đất đã cạn kiệt từ cây cỏ đến muông thú. Nhưng thế chưa phải là xong, vì Tây Nguyên còn nhiệm vụ cao cả thiêng liêng mà chủ trương lớn đã phó thác. Nhiệm vụ đó là:

Tây Nguyên mồ chôn nước Việt.

Về giá trị bô-xít trong lòng đất Tây Nguyên, các chứng minh đều cho thấy đây là thứ quặng rẻ tiền. Muốn khai thác được bô-xít cần phải đào bới, sàng lọc rất nhiều đất đá để lấy được chúng. Tóm lại các báo cáo nghiêm túc đều nói rằng việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên về giá trị kinh tế hoàn toàn không nên làm. Thế nhưng người ta vẫn làm với một chủ trương lớn là sao ?

Bởi vì đám con cháu của Mã Viện ngày nay ngồi ở Bắc Kinh muốn dứt điểm cái dân tộc suốt mấy nghìn năm ngo ngoe chống đối thiên triều. Không khác gì trận Xích Bích, các tay chân, quân sư thầy dùi cho nước Ngụy kết tàu thuyền lại thành miếng mồi cho đòn hỏa công. Trung ương Bắc Kinh thấy thời cơ để rửa các món nhục đã chín muồi. Khi phần đông lãnh đạo Việt Nam đã không còn nghĩ đến lợi ích dân tộc, đất nước. Lúc mà chủ nghĩa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang phổ biến thành tư tưởng hàng đầu ưa thích ở Việt Nam. Chỉ cần chút mồi, hứa hẹn cuộc sống sau này cho vài cá nhân và gia đình họ là người Trung Quốc dễ dàng thực hiện mọi kế sách như đã định.

Chưa bao giờ giá cả đất nước và dân tộc Việt Nam rẻ mạt như bây giờ. Kể cả những triều đại mà sử nay gọi là phong kiến thối nát thì sự bóc lột thuế má, khai thác tài nguyên cũng chỉ ở mức độ giới hạn. Cho dù xa hoa và hưởng thụ nhưng những vị vua phong kiến kỵ nhất câu kết với ngoại bang để hút linh khí của đất nước. Sự tham tàn của chế độ phong kiến chỉ hạn chế ở mức tự họ bóc lột nhân dân mình, chứ không tàn tệ đến nỗi giúp cả kẻ thù truyền kiếp bày thế trận tàn khốc để hủy diệt đúng xương sống đất nước. Để giúp kẻ thù đánh đòn tuyệt hậu xuống đất nước mình. Đây là chiến lược phá hoại lớn của Trung Quốc và "'chủ trương lớn" của Việt Nam.

Còn chưa xa chuyện người TQ sang giúp ta làm đường các tỉnh biên giới, họ đã làm gì để năm 1979 quân đội họ nhanh chóng xâm chiếm các tỉnh Việt Nam. Còn vô vàn các chứng cứ để làm rõ những tác hại mà người anh hữu nghị, đồng chí lớn đã để lại cho nhân dân đất nước Việt Nam. Hậu quả hình dung không quá khó, vì những điều hiển nhiên đã xẩy ra.

Nếu Tây Nguyên đã là phần của người Trung Quốc làm ăn, thì việc tranh cãi về Hoàng Sa- Trường Sa có thể đoán kết quả là vô nghĩa. Không phải ngẫu nhiên mà khi các nhà sử học Bắc Kinh được tài trợ quy mô, bài bản để sưu tập tài liệu hay chế biến lịch sử để chứng minh là của họ. Thì chính phủ VN vẫn bình chân như vại, một số nhà nghiên cứu có tâm huyết do điều kiện hạn chế chỉ sưu tầm tìm hiểu trong khả năng của mình, kinh phí tự túc do bản thân bỏ ra. Thậm chí việc Hoàng Sa-Trường Sa không được báo chí nhắc đến là khó khăn cho những tri thức, học giả trong quá trình tìm tòi tài liệu,vô hình chung biến hai quần đảo này thành đề tài bí mật không bàn công khai. Mong sao đây chỉ là giả tưởng xấu trong quan hệ Trung-Việt của người bi quan.

Láng giềng hữu nghị.

Đồng chí TBT Nông Đức Mạnh trong hai nhiệm kỳ lãnh đạo đã nỗ lực cực kỳ hoàn thành tốt nhiều việc lớn trong đối ngoại với TQ. Như hiệp định biên giới, trao đổi kinh nghiệm quản lý, hiệp ước kinh tế, hiệp ước an ninh....... Hy vọng các đồng chí kế tiếp sau này có những quan hệ mật thiết, giữ gìn ''đường dây nóng giữa lãnh đạo hai nước'' để có hòa bình, ổn định hợp tác phát triển.

Blog Người Buôn Gió 11-03-2009

Bức màn bauxite, âm mưu Tây nguyên !!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 7115-03-2009

Khi thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng, vào ngày 01-11-2007, ký quyết định số 167 cho phép các nhà thầu Trung Quốc khai thác quặng bauxite và sản xuất nhôm tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắc Nông), trong một dự án kéo dài từ 2007 đến 2015, nhiều nhân vật trong bộ máy cai trị của CSVN đã hết sức thắc mắc. Thắc mắc vì lẽ họ nghe biết ông ta trước đó không ủng hộ chuyện này. Ý tưởng của dự án có từ thời người tiền nhiệm Phan Văn Khải, nhưng Phan Văn Khải cũng đã chẳng thúc đẩy cho nó thực hiện. Cả hai vẫn nhớ lời cảnh báo của Khối COMECON (Khối Tương trợ kinh tế giữa các nước CS) vào thập niên 1980. Sau khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, Khối này đã khuyến nghị nhà cầm quyền CSVN chớ nên khai thác bauxite trên Tây Nguyên do những tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được, chẳng những đối với cư dân địa phương mà còn với cả cư dân vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Thành ra khi ấy, CSVN đã quyết định không khai thác thứ quặng bẩn này, trái lại gìn giữ thảm rừng và phát triển cây công nghiệp (cao su, cà phê, chè...) trên Tây Nguyên.

Vậy mà đùng một cái, Nguyễn Tấn Dũng đã xoay một góc 180 độ, khiến cho nhiều người ưu tư về đất nước đã nhảy vào cuộc để nghiên cứu cặn kẽ vấn đề. Gần một năm sau, qua báo cáo của tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn “Những sai lầm chiến lược và những rủi ro hiện hữu trong việc phát triển các dự án bauxite trên Tây Nguyên của Việt Nam”, qua tham luận của nhà văn kiêm nhà văn hóa Nguyên Ngọc và nhiều tham luận khác tại hội thảo Gia Nghĩa - Đắc Nông ngày 22 và 23-10-2008, rồi qua Kiến nghị ngày 05-11-2008 của một số khoa học gia và nghiên cứu gia gửi lãnh đạo Đảng và Nhà nước CSVN đề nghị tạm dừng khai thác bauxite ở Tây Nguyên, người ta thấy rõ công luận đã lên tiếng cảnh báo về những hiểm họa có thể xảy đến cho vùng Tây Nguyên và cho cả nước. Thế nhưng, bất chấp những tiếng nói có uy tín trong lãnh vực khoa học, môi trường, văn hóa, xã hội… bất chấp tiếng nói đòi quyền sống của nhân dân, đặc biệt các Dân tộc thiểu số bản địa, trong cuộc họp báo đầu năm nay vào ngày 04-02-2009, thủ tướng CSVN vẫn tuyên bố rằng việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”! Ông ta còn hứa hẹn rằng “chính phủ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về các phương án khai thác nguồn tài nguyên to lớn này một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái…”. Thế rồi, các công việc nghiên cứu đề xuất của các cơ quan chức năng đã nhanh chóng được hoàn thành một cách sơ sài với đa số ý kiến đồng thuận. Chính phủ trình ngay dự án lên cho Bộ chính trị và nó được biểu quyết thông qua với đa số tuyệt đối. Ủy ban Thường vụ Quốc hội CS cũng cho ý kiến ủng hộ mà chẳng thông qua Quốc hội chút nào. Rồi những tay chân trong bộ máy cai trị lại phụ họa theo: Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường đã trả lời khi bị chất vấn: “Trước đây ta nhìn nhận tài nguyên bauxite không như hiện nay, ít quan tâm từ khai thác đến nhập khẩu. Gần đây do bauxite có giá trị cao nên các nước, nhất là doanh nghiệp trong nước mới quan tâm như vậy”. Lãnh đạo tỉnh Đắc Nông thì cho rằng nguy cơ môi trường trong các dự án bauxite là có thật nhưng không lớn lắm. Đổi lại, bauxite sẽ đem đến tăng trưởng kinh tế và việc làm cho người dân địa phương: "Mình không làm thì bauxite vẫn chỉ là đất thôi". Những kẻ hỗ trợ kế hoạch khai thác quặng này còn cho rằng nó sẽ giúp phát triển kinh tế trong khu vực và công tác khai thác sẽ sử dụng kỹ thuật hiện đại để giảm thiểu tối đa những hậu quả đối với môi sinh !?!

Thế nhưng tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, thuộc Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam (TKV) vốn là chủ đầu tư, đã cùng với Tiến sĩ Nguyễn Đông Hải và nhà văn Nguyên Ngọc, đã chứng minh qua bài viết “10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bauxite Tây Nguyênngày 13-01-2009 rằng (1) việc triển khai các dự án bauxite là không cần thiết, (2) không làm tăng ngân sách địa phương, (3) không hề có hiệu quả kinh tế, (4) phải đầu tư xây dựng một hệ thống đường sắt và cảng biển lãng phí, (5) không an toàn về môi sinh, (6) không phù hợp với năng lực của Tập đoàn Công nghiệp than-khoáng sản Việt Nam, (7) không đảm bảo sinh kế cho các đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, (8) không phát triển bền vững Tây Nguyên, (9) không mang tính công khai minh bạch, (10) không tuân thủ Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường. Tóm lại là việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên chẳng có lời mà chỉ có lỗ, lỗ lớn về mặt kinh tế, môi sinh, văn hóa, xã hội, chính trị cho toàn vùng và toàn nước.

Thế nhưng, qui hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên mới được nhà cầm quyền CSVN phê duyệt, luận chứng kinh tế kỹ thuật vẫn đang soạn thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bauxite ở đó, vậy mà công dân Trung Quốc, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã sục sạo ở Tây Nguyên... “Chủ trương lớn của đảng và nhà nước” mà “Quốc hội của dân” chưa được phép bàn định thì Hoa dân đã xắn tay áo thực hiện nó rồi! Thư của tướng CS Võ Nguyên Giáp ngày 05-01-2009 đã báo động: “Trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đến Tây Nguyên để bắt tay vào việc khai thác bauxite. Mỗi công trường bauxite sẽ có tới hàng ngàn công nhân như vậy”. Và nay thì họ đã đặt tổng hành dinh điều hành khai thác bauxite ở Lâm Đồng. Cả một vùng trên 100 mẫu đã được san bằng nằm giữa 3 khu vực: Thị trấn Lộc Thắng - xã Lộc Phú và xã B’Lá. Hai xã này đều thuộc huyện Bảo Lâm. 500 người Trung Quốc gồm chuyên gia và công nhân đang phục vụ mỏ và họ cho biết khi nhà máy đi vào hoạt động sẽcó hơn 6000 con cháu Đại Hán làm việc tại đây. Các chuyên gia Trung Quốc cư trú ngoài thị trấn Lộc Thắng, trong khu cao cấp biệt lập nằm bên một hồ nước thơ mộng. Họ đi lại bằng xe biển số xanh 49B do tỉnh Lâm Đồng cung cấp. Còn công nhân Trung Quốc thì sống trong những khu nhà tập thể mà người Việt chẳng được phép vào. Họ làm gì trong đó thì chỉ có trời biết!

Sự xuất hiện ồ ạt của người Trung Quốc tại một nơi từng được các nhà địa lý, chính trị và chiến lược mệnh danh “nóc nhà Đông dương” là một điều hết sức đáng lo ngại, nhất là khi người ta nhớ lại rằng Thống chế Pháp de Lattre de Tassigny (cao ủy và tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Đông dương 1950-1952) từng nói về nó như sau: “Ai làm chủ được vùng cao nguyên Trung Phần (tức Tây Nguyên) và Hạ Lào thì sẽ làm chủ được chiến trường Đông Dương”. Chính nhờ khống chế được Tây Nguyên dễ dàng vào đầu năm 1975 mà chiến dịch mùa xuân của CSVN sau đó đã kết thúc nhanh chóng vào cuối tháng Tư đen năm ấy.

Thành thử chẳng lạ gì mà thiếu tướng hồi hưu CS Nguyễn trọng Vĩnh, cựu đại sứ tại Bắc Kinh (1974 -1989), trong thư gởi bộ Chính Trị khoảng tháng 02-2009, sau khi nhắc lại những tai hại về môi trường, văn hóa, xã hội không những cho đồng bào dân tộc người Thượng, mà còn cho cư dân Nam Bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, đã nghiêm trọng cảnh báo: “Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc đã xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam… không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là để đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một “thị trấn Trung Hoa”, một “căn cứ quân sự” trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển, (TQ) có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta (TQ) có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ, thì độc lập chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào?!”. Ngoài viên tướng này, còn nhiều sĩ quan trong Quân đội nhân dân còn lòng yêu nước cũng hết sức băn khoăn, hãi sợ.

Rõ ràng vấn đề khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên hiện nay chỉ là “diện”, là cái cớ bên ngoài, còn việc Trung Cộng chiếm hữu vùng đất đó làm căn cứ để thanh toán Việt Nam trong tương lai gần là “điểm”, là thực chất bên trong. Các nhà nghiên cứu chiến lược Trung Cộng cũng từng nói đến điều đó. Trôi nổi trên các trang mạng Trung Quốc đã có người viết: việc dập gẫy xương sống Việt Nam có thể dễ dàng chia cắt và thôn tính Việt Nam, mà làm chủ được Tây Nguyên chính là thực hiện được điều đó. Kinh nghiệm đau thương của VNCH đã chứng minh như vậy.

Vậy là ta có thể nói như blogger Người Buôn Gió trong một bài viết hôm 11-03: “Cuối cùng người Trung Quốc thông qua Tây Nguyên đã rửa sạch những món nợ tích lũy qua bao nhiêu thế kỷ từ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa... Muôn vàn những trận đánh oai hùng của quân dân Việt Nam từ xưa đến nay đều bị lu mờ bởi một trận đánh cực lớn trên Tây Nguyên mà người Trung Quốc dùng bauxite làm chủ công. Chiến thắng này của người Trung Quốc trên đất Việt là một chiến thắng vĩ đại để rửa hờn cho bao thế hệ đi trước của họ đã bị thất bại ở Việt Nam. Bởi vì đám con cháu của Mã Viện ngày nay ngồi ở Bắc Kinh muốn dứt điểm cái dân tộc suốt mấy nghìn năm ngo ngoe chống đối Thiên triều…  Trung ương Bắc Kinh thấy thời cơ để rửa các món nhục đã chín muồi. Khi phần đông lãnh đạo Việt Nam đã không còn nghĩ đến lợi ích dân tộc, đất nước, lúc mà chủ nghĩa lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm đang phổ biến thành tư tưởng hàng đầu ưa thích ở Việt Nam, thì chỉ cần chút mồi, hứa hẹn cuộc sống sau này cho vài cá nhân và gia đình họ là người Trung Quốc dễ dàng thực hiện mọi kế sách như đã định”.

Hỡi dân tộc Việt Nam, đứng trước bọn ngoại xâm Tàu cộng hung hãn và bọn nội gián Việt cộng đê hèn này, chúng ta còn đợi gì mà không đứng lên quét sạch chúng??

BAN BIÊN TẬP

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter