lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

Thư ngỏ của một con dân nước Việt gửi Thủ tướng Chính phủ

Phạm Đình Trọng 02-03-2009

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 3 năm 2009

Kính gửi: Ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam  

Thưa Ông Thủ tướng

Tôi là Phạm Đình Trọng, công dân Việt Nam, đang sống trên dải đất gấm vóc Việt Nam. Là người lính, tôi đã trải qua trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, tôi đã đi từ mảnh đất cực Bắc, Vị Xuyên tỉnh Hà Giang đến mảnh đất cực Nam của đất nước, đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu tỉnh Kiên Giang, tôi đã đi từ Trường Sơn đến Trường Sa. Dặm đường đất nước ấy đã cho tôi thấy đất nước Việt Nam thân yêu của tôi gấm vóc như thế nào. Là nhà báo, nhà văn quân đội, tôi đã viết về sự hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân và đồng đội của tôi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ giành độc lập, thống nhất đất nước, tôi cũng đã viết về những mất mát hi sinh đau lòng mà đồng đội thân yêu của tôi đã phải nhận lấy để giữ từng mỏm đất ở Vị Xuyên, Hà Giang, để giữ từng doi cát san hô ở Trường Sa ngòai biển đông. Sự hi sinh cao cả ấy, máu của nhân dân và đồng đội tôi hôm nay, máu của cha ông chúng ta đã đổ ra trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước hôm qua đã cho tôi thấy từng nắm đất của Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng như thế nào!

Trách nhiệm người lãnh đạo

Nhưng những diễn biến của những năm tháng lịch sử vừa qua lại cho tôi thấy những người có trách nhiệm quản lí đất nước của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không những đã không giữ được trọn vẹn dải đất Việt Nam gấm vóc và thiêng liêng mà cả đến việc khai thác tài nguyên đất nước dường như cũng không vì lợi ích của đất nước Việt Nam, không vì nhân dân Việt Nam!

Dân biết. Dân bàn. Dân làm. Dân kiểm tra. Đó là điều nhà nước ta vẫn thường nói, vẫn đề cao. Là công dân Việt Nam, tôi cần được bàn, được có ý kiến về vấn đề nghiêm trọng này. Là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, đảng cầm quyền, tôi càng cần có trách nhiệm, có tiếng nói về việc vô cùng hệ trọng này.

Định mệnh đã đặt đất nước chúng ta cạnh nước lớn phương bắc Trung Hoa, một đất nước mênh mông rộng lớn nhưng trập trùng núi hiểm, cuồn cuộn sông dữ, phần đất bằng còn lại thì nơi hạn hán đồng khô cỏ cháy, nơi lũ lụt lút cả huyện, cả tỉnh! Dân số lại quá đông, người dân khốn khó luôn đói đất, thèm đất làm ăn! Còn người cai trị đất nước mênh mông ấy thì từ xa xưa đến nay vẫn tự huyễn hoặc là Thiên tử, là con Trời, mang mệnh Trời thống trị thiên hạ, mở mang bờ cõi Trung Hoa! Suốt quá trình lịch sử, nước láng giềng khổng lồ phương Bắc ấy, thời nào, triều nào cũng lăm le lấn bờ, lấn cõi nước ta!

Dải đất Việt Nam gấm vóc còn được dài rộng đến hôm nay là nhờ lòng yêu nước nồng nàn, nhờ ý thức dân tộc sâu đậm, nhờ nền văn hóa Lạc Việt đã tạo ra cho người Việt bản sắc riêng không thể bị đồng hóa với những nền văn hóa khác, nhờ ý chí quật cường bất khuất, nhờ xương máu hi sinh của nhiều thế hệ người Việt đã đổ ra trong sự nghiệp giữ nước và điều quan trọng hàng đầu là nhờ người đứng đầu trăm họ người dân nước Việt đã đủ khôn khéo, tỉnh táo trong đối sách với mưu đồ lấn cõi, chiếm đất của phương Bắc, đã biết đặt lợi ích của dân tộc Việt Nam, đặt lợi ích của đất nước Việt Nam lên trên lợi ích riêng tư của vương triều.

Lịch sử đã dạy cho những triều đại phương Bắc hiểu rằng chiếm đất bằng sức mạnh của đội quân khổng lồ và thiện chiến không khó nhưng không bền! Vì đó là sự chiếm đoạt phi pháp, sớm muộn người Việt, dù là dân tộc nhỏ bé nhưng có ý thức dân tộc rất cao và có lịch sử giữ nước rất anh hùng sẽ giành lại phần đất thiêng liêng bị mất. Trong lịch sử đã nhiều lần nhà nước khổng lồ phương Bắc chiếm được đất của nhà nước nhỏ bé phương Nam nhưng chưa lần nào họ nuốt trôi! Chỉ bằng cách ve vãn mua chuộc kẻ có quyền để có được những thỏa thuận kí kết nhượng đất, nhượng cõi rất đàng hòang, hợp pháp, họ mới nuốt trôi được mảnh đất cắt nhượng đó! Đó là khi người Pháp chiếm nước ta, triều nhà Thanh phương Bắc liền kí với người Pháp hiệp ước Thiên Tân năm 1885, cho người Pháp chút lợi lộc buôn bán trên đất Trung Hoa để người Pháp cắt một số vùng đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc cho nhà Thanh nhập vào các tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Hoa!

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện, chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước, một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!” Đó là lời chỉ dụ của vua sáng Lê Thánh Tông cho sứ thần nhà Lê đàm phán về cương vực lãnh thổ với sứ thần nhà Minh. Đó cũng là tiếng nói nghiêm khắc của lịch sử, của hồn thiêng sông núi Việt Nam với những người nắm quyền quản lí đất nước Việt Nam mọi thời đại!

Những người mang dòng máu con Hồng cháu Lạc ở cương vị quản lí đất nước trong quá khứ đều là những người khoa bảng, có đạo lí trung với nước, hiếu với dân, thông thuộc lịch sử nước nhà, có trí lự và khí phách dân tộc, họ đã kiên định tranh biện, không cho nước lớn lấn lướt, áp đặt, giữ được vẹn tòan đất đai gấm vóc nước Đại Việt. Còn chúng ta hôm nay thì sao?

Giá trị dân tộc và giá trị giai cấp

Lịch sử ông cha để lại dạy chúng ta bài học là để dân tộc tồn tại, để đất nước vẹn tòan, phải đưa giá trị dân tộc lên trên hết, phải đòan kết thương yêu dân tộc. Nhiễu điều phủ lấy giá gương–Người trong một nước phải thương nhau cùng! Nhưng hôm nay chúng ta đã làm ngược lại với điều cha ông đã dạy. Lấy chủ nghĩa Mác–Lênin làm lí tưởng soi đường, lấy học thuyết đấu tranh giai cấp làm phương châm hành động, Quan san muôn dặm một nhà–Bốn phương vô sản đều là anh em! Chúng ta đã đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc! Người cùng dòng giống Lạc Hồng, rất mực yêu nước thương nòi, nhờ làm ăn lương thiện và hiệu quả mà có chút của ăn của để liền bị qui là giai cấp bóc lột, giai cấp đối kháng, trở thành kẻ thù của nhà nước công nông, bị xử lí tàn bạo! Nhưng năm 1958, khi nhà nước công nông Trung Hoa tuyên bố vùng biển của họ bao trùm cả quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa của tổ tiên ta, với tinh thần quốc tế vô sản, Thủ tướng Phạm Văn Đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền có công hàm ủng hộ tuyên bố tham lam, bành trướng của nhà nước công nông phương Bắc!

Đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc làm cho ý thức dân tộc phai nhạt đi, làm dân tộc yếu đi! Dân tộc yếu đi thì tham vọng bành trướng sẽ lấn tới với đủ mưu chước, thủ đoạn, phương thức lấn đất, lấn cõi. Miền Bắc nước ta vừa được giải phóng khỏi quân Pháp xâm lược, nước lớn phương Bắc liền sốt sắng ra tay hào hiệp nhận giúp Việt Nam khôi phục đường sắt Đồng Đăng–Hà Nội. Khi đó ở miền Bắc nước ta chỉ có nhà máy điện, nhà máy nước còn có thể cố ì ạch họat động, còn các nhà máy khác đều tanh bành, chưa thể khôi phục. Cả miền Bắc thất nghiệp! Lại thêm lực lượng lao động hùng hậu là cán bộ, bộ đội miền Nam tập kết! Lực lượng lao động dư thừa nhưng với lòng tin tưởng và trân trọng tình cảm quốc tế vô sản, chúng ta đã mở rộng cửa ải phía Bắc đón hàng trăm công nhân đường sắt Trung Hoa vào Lạng Sơn làm công việc cơ bắp đơn giản là san nền đường, rải đá, đặt đường ray và những công nhân đường sắt Trung Hoa đã đưa chỗ nối ray của tuyến đường sắt liên vận Việt–Trung vào sâu lãnh thổ nước ta hơn ba trăm mét! Để rồi sau này họ lí sự là luật pháp không cho phép đường sắt nước này lại đặt trên lãnh thổ nước khác, vì thế chỗ nối ray chính là chỗ phân chia biên giới quốc gia!

Qua những vụ việc đất đai ở biên cương phía bắc, có thể dễ dàng nhận ra bài bản cướp đất của phương Bắc là: Lặng lẽ chiếm đất ở từng điểm nhỏ lẻ, rải rác, coi như đó chỉ là những vụ việc cục bộ, địa phương, nhà nước trung ương không hay biết! Nhà nước trung ương cứ cao giọng nói hữu hảo, cứ ban phát lời vàng hữu nghị nhưng cục bộ cứ lấn đất, chiếm đất, lặng lẽ mà chiếm, không gây ồn ào thành sự kiện quốc gia là được! Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của ta cũng làm ngơ đồng lõa! Mấy con thú của công viên giải trí Đại Nam ở tỉnh lẻ Bình Dương xổng chuồng thì nhiều tờ báo ở thành phố Hồ Chí Minh có bài, ảnh đưa tin nhiều ngày, dõi theo từng dấu chân bầy thú vượt ngục! Nhưng ngày 29-2-1976 hàng ngàn quân phương Bắc mặc đồ dân sự tràn qua biên giới vào đất ta giăng thành hàng rào ở thác Bản Giốc, Cao Bằng, che chắn cho tốp thợ đổ bê tông cột mốc, chia cắt thác Bản Giốc làm đôi, chiếm nửa thác của ta thì không có tờ báo nào đưa tin! Không có tờ báo nào đưa tin ngày 4-3-1992, đoàn người từ phương Bắc mang súng ống gậy gộc ầm ầm kéo đến bản Sẻo Lũng, mỏm cực bắc của nước ta thuộc huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang! Họ đốt phá nhà cửa dân ta rồi tuyên bố đất Sẻo Lũng là lãnh thổ Trung Hoa! Các báo không đưa tin vì không biết sự việc hay không được phép đưa tin? Phương Bắc gây sự lấn đất là việc thường ngày ở biên giới, tai mắt của các báo không thể không biết! Báo chí ở trung ương đã im lặng, báo chí của các tỉnh biên giới cũng lặng thinh thì lạ quá! Kẻ cướp xông vào tận nhà cướp bóc mà không bị chủ nhà hô hóan tố cáo thì kẻ cướp cứ làm tới, chiếm hết điểm cao này đến sườn núi khác! Nhiều thế đất có giá trị chiến lược về quân sự và kinh tế chiếm được rồi, lúc đó họ mới hối thúc ta đàm phán kí kết hiệp ước biên giới để hợp pháp hóa những mảnh đất hiểm yếu đã chiếm được! Năm 1885, được người Pháp cắt nhượng cho một rẻo đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc thì năm 1887 có ngay hiệp ước biên giới Việt–Trung kí giữa nhà Thanh và chính quyền Pháp để phần đất Việt Nam bị cắt nhượng đó chính thức trở thành đất đai Trung Hoa!

Bài bản lấn đất này đã diễn ra từ trong xa thẳm lịch sử nên vua sáng Lê Thánh Tông phải nhắc nhở bề tôi “kiên quyết tranh biện”! Tranh biện trong đàm phán với phương Bắc để giữ được đất đai thiêng liêng là vô cùng quan trọng. Chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ điều này hay vì lẽ gì chúng ta không thể tranh biện? Phương Bắc biết rằng mảnh đất của ta bị họ chiếm sẽ là trở ngại khó vượt qua trong đàm phán về hiệp ước biên giới nên họ lại định ra cả thời hạn phải hòan thành đàm phán, thời hạn phải hòan thành cắm mốc và ta cứ răm rắp thực hiện!

Tranh biện để giữ lấy đất đai tổ tiên là trí lự kẻ sĩ, là khí phách dân tộc. Ôi chao, ý thức dân tộc đã làm nên nền văn minh sông Hồng rực rỡ, làm nên bản sắc văn hóa Lạc Việt, khí phách dân tộc đã làm nên những chiến công hiển hách chống ngọai xâm Bạch Đằng, Đống Đa, Điện Biên Phủ đâu rồi? Trí lự kẻ sĩ Đại Việt đâu rồi? Trong lịch sử, triều đại nào cũng phải đưa những kẻ sĩ, những lõi sáng dân tộc, những tinh hoa Đại Việt như Nguyễn Hiền, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trực... ra tranh biện với phương Bắc.

Ngày nay người đi đàm phán đã có chủ trương, chỉ đạo của đảng, như quan tòa ngồi xử các vụ án có liên quan ít nhiều đến chính trị đều có sẵn bản án bỏ túi, cứ theo bản án đã có trong túi mà xử! Người đi đàm phán chỉ cần có hàm quan chức cấp bộ và có cấp ủy đảng tương đương, ủy viên ban cán sự đảng cấp bộ là ổn! Kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi, đâu cần kẻ sĩ, đâu cần tranh biện! Vâng, kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi, điều này đã được tuyên bố chung Vịêt–Trung nhân chuyến đi Trung Hoa của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tháng 05-2008, tiết lộ: “Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo... Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước, hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ”! Viết “hai bên phải tôn trọng những kí kết...” cho có vẻ bình đẳng thôi! Chỉ có Trung Hoa lấn đất của ta, ta đâu dám động đến đất đai Trung Hoa! Trong đàm phán, ta không chấp nhận sự lấn chiếm đó nên mới có đôi co, tranh chấp! Chỉ có Việt Nam tranh chấp đòi lại đất mà thôi! Vì thế nội dung thực sự của lời tuyên bố chung là: “Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước, Việt Nam phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận trong quá khứ”! Lãnh đạo đã thỏa thuận rồi thì người đàm phán còn tranh biện gì nữa!

Ông thứ trưởng bộ Ngọai giao Lê Công Phụng rồi đến ông thứ trưởng Vũ Dũng kế nhiệm làm trưởng đòan Việt Nam đàm phán về hiệp ước biên giới với Trung Hoa, khi trả lời phỏng vấn của báo chí trong nước và ngòai nước đều nói rằng không có chuyện mất đất! Nhưng thực tế đất đã mất, biển đã mất rồi! Dư luận hỏi, hai ông không thể nói rằng đúng, chúng ta đã phải kí kết hiệp ước để mất đất, mất biển nên hai ông phải nói thế cho qua chuyện mà thôi! Còn người dân ở biên giới và những người Việt Nam nhìn thấy rõ sự việc mất đất thì nói khác!

Tiếp đòan nhà văn Việt Nam lên biên giới Cao Bằng, bà Nguyễn Thị Nương, ủy viên trung ương đảng, bí thư tỉnh ủy Cao Bằng, nói: Đường biên phân chia lại, có chỗ đất bên bạn thuộc về ta, có chỗ đất bên ta thuộc về bạn, nhưng bên ta thuộc về bạn nhiều hơn! (Đỗ Hòang, Cực Bắc bao nỗi lo toan. Tạp chí Nhà Văn, hội Nhà Văn Việt Nam, số 1.2008, trang 55).

Đó là cái nhìn khái quát của người lãnh đạo. Còn mắt người dân thì thấy cụ thể hơn. Nhà văn Đỗ Hòang, tác giả bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan vừa dẫn ra ở trên, kể: “Tôi đến thác Bản Giốc gặp cụ Nông Văn Thà làm ruộng bên thác kể rằng: Hồi còn nhỏ, nhà cụ dựng ở bên kia thác Bản Giốc, cụ theo bố vào sâu cách thác 12 km để làm rẫy” (Bài đã dẫn, trang 54). Nhà văn Đỗ Hòang viết tiếp: “Bây giờ phân giới, phần thác đã nằm phía bên bạn hơn phần nửa! Các cột mốc phải cắm đi cắm lại nhiều lần” (Bđd, tr. 58). Vẫn bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan, nhà văn Đỗ Hòang viết về đường biên giới ở Lạng Sơn: “Riêng tôi chứng kiến là năm 1973, khi tôi lên Lạng Sơn nhìn thấy Mục Nam Quan là của bộ đội mình đứng gác. Nhưng tháng 5 năm 2006 vừa qua, tôi cùng đòan nhà văn VN ở Trung Quốc về qua cửa khẩu Lạng Sơn thì thấy cổng Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở trên đất bạn… Đường biên lùi sâu vào đất ta đến năm sáu trăm mét! Đấy là điều không phải chỉ tôi mà nhiều người nữa cũng rất day dứt, băn khoăn, mặc dù tôi chỉ là một thường dân và tự hỏi: Mình như gái góa lo việc triều đình! Nhưng cổ nhân đã dạy: Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách, nhà nước thịnh suy, một dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng, bảo vệ. Việc này luôn bức xúc và canh cánh trong lòng tôi!” (tr. 55)

Là bộ đội Nam tiến, tập kết ra Bắc, là chiến sĩ biên phòng ngay từ khi thành lập lực lượng này, rồi trở thành sĩ quan tuyên huấn, anh sĩ quan tuyên huấn bộ đội biên phòng Lương Sĩ Cầm đã nhiều lần đến cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn, sau này trở thành nhà văn, đại tá bộ đội biên phòng, trong bài viết về cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn, nhà văn, đại tá Lương Sĩ Cầm, viết: “Năm 1955, lấy cớ giúp Việt Nam khôi phục đường xe lửa, bọn bành trướng đã cho đặt điểm nối ray vào sâu đất Việt Nam 326 mét, đến năm 1974, nghĩa là ngót hai mươi năm sau, chúng trắng trợn tuyên bố điểm nối ray ở đâu là đường biên giới chạy qua đó, hòng cướp của ta một dải đất ăn sâu đến tận chân đồn Hữu Nghị Quan!”. Sự thật cay đắng như vậy đó!

Tháng 1-1974, phương Bắc dùng lực lượng hải quân, không quân hùng mạnh đánh chiếm của chính quyền Sài Gòn tòan bộ quần đảo Hòang Sa trải dài hàng trăm kilomet. Quần đảo Hòang Sa bị mất trắng bằng vũ lực, bằng cuộc xâm lăng trắng trợn chúng ta còn có thể nhờ luật pháp quốc tế phân xử, đòi lại. Bằng cách này hay cách khác nhất định chúng ta sẽ giành lại được quần đảo Hòang Sa đã thấm đẫm máu ông cha ta, còn lưu giữ hài cốt nhiều thế hệ ông cha ta! Xã hội càng văn minh, con người càng biết tôn trọng luật pháp và đạo lí, con người càng có nhu cầu sống trong luật pháp và đạo lí. Thế hệ chúng ta chưa đòi lại được quần đảo Hòang Sa thì thế hệ con chúng ta, cháu chúng ta sẽ đòi được. Đó là điều chắc chắn. Nhưng một phần thác Bản Giốc ở Cao Bằng, hàng trăm mét chiều sâu đất đai ở Đồng Đăng Lạng Sơn, những điểm cao ở Vị Xuyên, Yên Minh, tỉnh Hà Giang, những điểm cao ở Cao Lộc, Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bị Trung Hoa chiếm trong cuộc chiến tranh biên giới 1979–1988, những mảnh đất gấm vóc thiêng liêng đó của Tổ quốc Việt Nam đã trở thành đất Trung Hoa bởi Hiệp ước Biên giới do hai bên cùng thỏa thuận kí kết năm 1999 thì làm sao có thể đòi lại được, thưa ông Thủ tướng?

Ở cạnh nhà nước phương Bắc khổng lồ luôn lăm le thôn tính, bành trướng, cha ông ta vẫn đứng vững và bảo tòan được bờ cõi là nhờ văn hóa Lạc Việt và nhờ ý thức dân tộc rất sâu sắc của người dân nước Việt, từ bậc đế vương ngồi trên ngôi báu đến người dân đen nơi xóm vắng.

Nền văn hóa Lạc Việt tuy không chói lọi tỏa sáng khắp thế giới nhưng cũng đủ làm nên sự khác biệt của cốt cách Việt Nam, tâm hồn Việt Nam. Văn hóa Lạc Việt đã tạo ra điệu hát chèo ở miền Bắc, điệu hát lí ở miền Nam, tạo ra kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ, tạo ra ca dao, dân ca miền Bắc, miền Trung, miền Nam, mỗi miền một nét độc đáo riêng, tạo ra những bản trường ca, những khúc sử thi hùng tráng Tây Nguyên. Văn hóa Lạc Việt đã sản sinh ra trống đồng Đông Sơn, trống đồng Ngọc Lũ, sản sinh ra cồng chiêng Tây Nguyên. Tiếng trống đồng, tiếng cồng chiêng luôn âm vang trong không gian sông núi nước Việt. Điệu chèo điệu lí luôn tha thiết trong tâm thức người Việt, tạo nên bản sắc tâm hồn Việt.

Ý thức dân tộc “Nam quốc sơn hà Nam đế cư” tạo ra truyền thuyết Hùng Vương để mà tự hào, tạo ra truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm con để nhắc nhở đoàn kết thương yêu dân tộc. Ý thức dân tộc bao giờ cũng đưa Tổ quốc lên trên hết. “Tổ quốc trên hết!”, “Hi sinh vì Tổ quốc!”, nhờ thế Tổ quốc VN mới vững vàng toàn vẹn đến hôm nay. Nhưng ngày nay nhà nước ta lại đưa đảng lên trên hết!

Tổ quốc cho ta khái niệm, cho ta ý thức về đất nước, về nhân dân, về dân tộc. Đảng cho ta khái niệm về một giai cấp, một học thuyết, một lực lượng xã hội. Đạo lí dân tộc và chữ nghĩa thánh hiền đều dạy con dân nước Việt là Trung với Nước, Hiếu với Dân. Đưa Tổ quốc lên trên hết nên ngày mới giành được độc lập sau Cách mạng tháng 08 năm 1945, ở những nơi công quyền đều có bàn thờ Tổ quốc với hàng chữ trang trọng, thiêng liêng Tổ quốc trên hết. Đưa Tổ quốc, đưa đất nước lên trên hết nên phong tục từ ngàn đời của người Việt là mùa xuân về, nơi nơi mở hội mừng đất nước thái bình, thịnh vượng, mùa xuân về, người người đi lễ Trời, Phật cầu mong mưa thuận gió hòa, cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngày nay nhà nước dạy con dân nước Việt là Trung với Đảng, Hiếu với Dân, mùa xuân về thì Mừng đảng, Mừng xuân! Dù đảng có công lao lớn với dân tộc trong giai đoạn lịch sử vừa qua nhưng không thể đưa đảng lên trên Tổ quốc, trên dân tộc, không thể lấy khái niệm đảng thay khái niệm Tổ quốc, thay khái niệm dân tộc! Trung với Đảng, Hiếu với Dân thay cho Trung với Nước, Hiếu với Dân; Mừng Đảng, mừng Xuân thay cho Mừng Xuân, mừng Đất nước là sự thiếu khiêm tốn, thiếu lễ nghĩa, “Ghế trên ngồi tót sỗ sàng”, là đặt đảng không đúng vị trí của đảng, là lấn át, hạ thấp Tổ quốc, hạ thấp đất nước, hạ thấp dân tộc! Trong khái niệm, trong ngôn từ chỉ có đảng! Khái niệm Tổ quốc bị gạt bỏ, mất hút thì ý thức dân tộc cũng phai nhạt, chìm khuất!

Ý thức dân tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm, trong hành xử của nhà nước với dân! Thanh niên, sinh viên, học sinh tập hợp trước sứ quán Trung Hoa, ôn hòa phản đối Trung Hoa sát nhập quần đảo Hòang Sa, quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Trung Hoa. Đó là nền văn minh Lạc Việt lên tiếng, là ý thức dân tộc Việt Nam lên tiếng! Nhà nước dùng công cụ bạo lực trấn áp tiếng nói chính đáng của nền văn minh Lạc Việt, trấn áp ý thức dân tộc chính đáng của nhân dân, tài sản vô giá làm nên sự trường tồn của non nước Việt Nam, đó là một cư xử thiếu văn minh với nền văn minh Lạc Việt, là chối bỏ ý thức dân tộc của nhân dân!

Tham vọng bành trướng của phương Bắc phải chững lại trước ý thức dân tộc rất sâu sắc, rất mạnh mẽ của vua tôi nước Việt. Ý thức dân tộc vơi hụt đi, lập tức phương Bắc sẽ lấn tới! Ở nơi núi liền núi, sông liền sông, biển liền biển thì họ sẽ lấn núi, lấn sông, lấn biển. Tài nguyên ở sâu trong lãnh thổ ta, họ không lấn chiếm được thì họ sẽ đưa người đến tận nơi, khai quật tài nguyên trong đất đai ta đưa về nước họ phát triển kinh tế của họ! Hàng trăm công dân phương Bắc mới đến TN hôm qua rồi hàng ngàn người sẽ đến nay mai là để làm điều đó!

Khai thác bauxite

Lạ quá, qui họach khai thác bô-xít ở Tây Nguyên mới được Chính phủ phê duyệt, luận chứng kinh tế kĩ thuật đang sọan thảo, các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, thế mà công dân Trung Hoa, người cầm bản đồ, người mang cưa máy, người cuốc, người xẻng đã xục xạo ở Tây Nguyên! Dư luận người dân Việt Nam đang lo ngại, đang xôn xao bàn tán về tính hiệu quả, về thảm họa môi trường khi khai thác bô-xít Tây Nguyên và càng lo ngại hơn khi hàng ngàn trai tráng Trung Hoa sẽ có mặt đông đảo, trùng trùng đội ngũ ở Tây Nguyên, trung tâm bán đảo Đông Dương, khi đó ông Thủ tướng mới tuyên bố rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước! Chủ trương lớn của đảng và nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta rồi! Điều này làm cho người dân phải đặt câu hỏi: Chủ trương lớn khai thác bô-xít Tây Nguyên có thực sự vì đất nước Việt Nam, có thực sự vì nhân dân Việt Nam. Tôi lại nhớ đến câu văn trong tuyên bố chung Việt–Trung mà Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã kí với Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào tháng 5 năm 2008 ở Bắc Kinh: “Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo… Việc tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải giữa hai nước hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ!

Việt Nam mới có vài xưởng cơ khí nhỏ bé sửa chữa những hư hỏng nhẹ của máy bay. Những xưởng sửa chữa máy bay đó như những tiệm sửa xe máy vỉa hè của ngành mô tô mà thôi! Việt Nam chưa có công nghiệp hàng không, lại càng không mơ đến công nghiệp vũ trụ! Vì thế, Việt Nam không có nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm.

Nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm là Trung Hoa! Với tham vọng bành trướng, Trung Hoa đang khao khát trở thành cường quốc quân sự và cường quốc vũ trụ. Muốn trở thành cường quốc quân sự phải có số lượng lớn vũ khí chiến lược tầm xa hiện đại nhất. Công nghiệp vũ trụ luôn gắn liền với công nghiệp hàng không. Công nghiệp vũ trụ, công nghiệp hàng không và vũ khí chiến lược tầm xa cần rất nhiều nhôm. Hiện nay Trung Hoa là nước sản xuất và tiêu thụ nhôm lớn nhất thế giới. Trung Hoa cũng có nhiều mỏ bô-xít nhưng trữ lượng nhỏ. Trữ lượng bô-xít của Trung Hoa chỉ bằng 2% trữ lượng tòan cầu. Đang hối hả khai thác bô-xít trong nước thì Trung Hoa phải dừng lại! Có mỏ bô-xít Trung Hoa đã đầu tư tới gần hai tỉ đô la vừa đưa vào khai thác cũng phải đóng cửa vì thảm họa môi trường! Ngòai lượng bùn đỏ, red mud, ngập ngụa làm tan hoang môi trường tự nhiên, giết chết màu xanh, sa mạc hóa một vùng rộng lớn, khai thác bô-xít còn phải sử dụng nhiều hóa chất độc hại như sulfur dioxide. Vùng khai thác bô-xít sa mạc đỏ xuất hiện, khí hậu nóng lên, bệnh lạ và bệnh hiểm phát triển, cây trồng, vật nuôi không sống nổi! Trước tình cảnh đó, Trung Hoa phải đưa ra chính sách: Xuất khẩu thảm họa môi trường và nhập khẩu nhôm thô, alumina, nguyên liệu về luyện thành nhôm kim loại, alminium, để thỏa mãn tham vọng phát triển công nghiệp vũ trụ, công nghiệp hàng không và công nghiệp sản xuất vũ khí chiến lược tầm xa.

Cả lục địa đen châu Phi đã trở thành bãi khai mỏ của Trung Hoa, cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho cả nền công nghiệp nhiều tham vọng của Trung Hoa. Trung Hoa ồ ạt đưa người đến châu Phi khai mỏ dầu ở Sudan, Nigéria, Angola, khai mỏ đồng ở Zambia, Congo, khai mỏ sắt ở Libéria và khai mỏ bô-xít ở Guinea. Có một điều rất đáng chú ý là, những nước châu Phi cho Trung Hoa đến rút ruột tài nguyên phần lớn là những nước độc tài, tham nhũng và các tổ chức quốc tế đã lên án mạnh mẽ Trung Hoa chỉ cốt khai thác thật nhanh, thật nhiều tài nguyên của các nước mà không hề quan tâm đến môi trường, sinh thái nơi khai thác, sẽ để lại hậu quả bi thảm cho môi trường sống ở những nơi đó!

Trữ lượng bô-xít ở Guinea không lớn lại quá xa xôi với Trung Hoa. Phải vận chuyển lượng lớn nhôm thô, alumina, đi chặng đường gần hai mươi ngàn cây số biển dữ, vừa quá tốn kém, vừa nhiều bất trắc, trở ngại! Trong khi bô-xít ở Tây Nguyên Việt Nam có trữ lượng khá lớn lại kề cận với Trung Hoa. Thế là người Trung Hoa mau mắn đặt chân lên mảnh đất bô-xít có màu tím lịm như miếng tiết gà ở Tây Nguyên nước ta! Và chúng ta cũng chấp nhận để Tây Nguyên nước ta trở thành bãi khai mỏ của người Trung Hoa với những hậu quả bi thảm cho môi trường Tây Nguyên sao?

Khai thác bô-xít Tây Nguyên, các nhà khoa học đã nói về hiệu quả kinh tế không lớn, không đáng với những thiệt hại quá lớn về môi trường. Các nhà khoa học đã nói về những bất cập: Khai thác bô-xít cần quá nhiều nước mà hằng năm Tây Nguyên đều có hơn nửa năm khát nước; Khai thác bô-xít cần quá nhiều điện mà nước ta đang thiếu điện. Các nhà khoa học đã nói về hiểm họa: Khai thác bô-xít thải ra khối bùn đỏ khổng lồ đặt chênh vênh trên nóc nhà ba nước Đông Dương.

Khoan nói đến thảm họa bùn đỏ, chỉ cần nhớ lại mấy trận lũ quét gần đây. Từ nguồn ra biển của các con sông miền Trung đều rất ngắn, độ dốc rất cao, rừng cây có vai trò rất lớn trong việc giữ nước làm giảm lượng nước của các con lũ. Chỉ mấy tên cướp rừng chặt trộm mấy cánh rừng ở Gia Lai, ở Lâm Đồng, ở Đắk Nông mà suốt nhiều năm liền, cả dải đất miền Trung liên tiếp bị lũ quét, mỗi năm quét đi hàng chục mạng người, quét đi đất màu, nhà cửa, hoa màu hàng trăm ngàn hecta! Khai thác bô-xít Tây Nguyên, diện tích rừng bị phá còn lớn gấp trăm, ngàn lần diện tích rừng bị mấy tên cướp rừng tàn phá thì thảm họa sẽ còn lớn đến mức nào?

Không gian văn hóa Tây Nguyên đang bị thu hẹp nghiêm trọng. Nhiều năm qua, dòng người di dân tự do từ miền Bắc, từ đồng bằng miền Trung ồ ạt đổ bộ lên Tây Nguyên. Không gian văn hóa làng rừng Tây Nguyên đã bị thu hẹp rất lớn trước sự mở rộng của không gian văn hóa làng vườn của người Việt đồng bằng. Những sự biến nổ ra vừa qua ở Tây Nguyên chính là những phản ứng văn hóa, xung đột văn hóa. Nay hàng ngàn trai tráng Trung Hoa đến quần thảo, đào xới đất rừng Tây Nguyên. Họ không chỉ mang văn hóa Đại Hán “bình thiên hạ” mà họ còn mang cả thứ văn hóa của hàng hóa Trung Hoa, hàng hóa tiêu dùng hào nhóang, rẻ tiền và rất có ý thức chinh phục, chiếm lĩnh thị trường sẽ đổ vào Tây Nguyên! Biến Tây Nguyên thành một công trường không còn rừng cây, chỉ có ngổn ngang bùn đất, họ cũng biến Tây Nguyên thành cái chợ Trung Hoa! Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên là cội nguồn văn hóa làng rừng đầy bản sắc Tây Nguyên. Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên bị đào tận gốc, trốc tận rễ thì văn hóa làng rừng Tây Nguyên cũng bị đào tận gốc, trốc tận rễ!

Khai thác bô-xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Nhưng khai thác bô-xít Tây Nguyên cũng đặt ra những vấn đề rất lớn về độc lập dân tộc, về mục đích và hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nước, về môi trường sống và không gian văn hóa của đất nước.

Tòan vẹn lãnh thổ, độc lập dân tộc, tài nguyên và môi trường đất nước, tài sản văn hóa của dân tộc, vì những vấn đề lớn và nghiêm trọng đó, tôi mạo muội bộc lộ nỗi lo lắng của một con dân nước Việt, mong được Thủ tướng lưu tâm.
Trân trọng cảm ơn Thủ tướng

Kính thư

Phạm Đình Trọng, Nhà văn

A. 94 Phạm Văn Bạch, P.15, Q. Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

Kiến nghị trưng cầu Dân ý về việc khai thác bauxite Tây Nguyên

Một số công dân Việt Nam 03-03-2009

Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập Tự do Hạnh phúc

Hà Nội ngày 03-03-2009

Kính gửi:

- Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

Bauxite đã được các nhà địa chất Việt Nam phát hiện và đánh giá trữ lượng từ nhiều năm trước. Trữ lượng bauxite tại hai vùng Tây Nguyên và Việt Bắc khoảng trên 8 tỷ tấn. Riêng tại Đak Lak, lượng bauxite đã bằng 20% trữ lượng bauxite toàn thế giới. Đây là một trong những nguồn tài nguyên khoáng sản lớn của Việt Nam. Tuy nhiên, giải bài toán khai thác bauxite Tây Nguyên cần tính toán cẩn trọng trước những vấn đề nan giải sau đây:

        1- Khai thác bauxite để chế biến thành alumina sẽ thải ra một lượng khí độc và bùn đỏ có sức hủy diệt môi trường rất nguy hại. Với trình độ công nghệ như của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, để sản xuất được một tấn nhôm phải khai thác 4 tấn quặng bauxite và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ, một loại chất thải tác động xấu đến sự sống con người, sinh vật, cây cỏ…. Ngay cả các nước tiên tiến như Hoa Kỳ, Nhật Bản…. cũng chưa co cách nào xử lý loại chất thải có thể chứa cả phóng xạ này, ngoài việc chôn lấp.
        2- Việc chôn lấp bùn đỏ sẽ tạo nên những “núi bom bẩn” ẩn tàng. Tây Nguyên nằm trên địa hình cao, là thượng nguồn nhiều con sông lớn. Nếu xẩy ra thiên tai, lũ quét thì không chỉ Tây Nguyên mà cả ruộng vườn, sông ngòi, giếng nước …tại các tỉnh Nam Trung bộ, Đông Nam bộ… đều phải nhận hậu quả tai hại.
        3- Khai thác bauxite làm tổn hại rất nhiều nguồn lợi thu hoạch từ cao su, cà phê…. Không chỉ khả năng hoàn thổ canh tác chưa rõ mà do quy trình khai thác bauxite và chế biến nhôm tiêu tốn và làm cạn kiệt nguồn nước khiến không chỉ cây cối Tây Nguyên héo khô vì thiếu nước tưới mà người dân Tây Nguyên càng thiếu nước sinh hoạt.
        4- Không chỉ sinh quyển mà cả khí quyển Tây Nguyên cũng có nguy cơ suy thoái. Nhiệt độ quanh mỏ Thái Nguyên (Sơn Tây), mỏ Tịnh Tây (Quảng Tây) Trung Quốc đã tăng bất thường từ khi người ta khai thác bauxite ở đó.
        5- Khai thác bauxite và luyện nhôm tiêu tốn rất nhiều điện trong khi V.Nam hiện đang thiếu điện.
        6- Việc xâm phạm không gian sống, không gian văn hóa của các cư dân bản địa Tây Nguyên trong những năm qua đã gây nhiều bất ổn về vấn đề sắc tộc, vấn đề chính trị, chương trình khai thác bauxite trên diện rộng sẽ làm mất thêm nhiều đất sống, mất công ăn việc làm, do đó các vấn đề trên có thể càng trở nên trầm trọng hơn.

Do có những nan giải trên, trong thập kỷ 1980 ta đã đưa dự án khai thác bauxite Tây Nguyên vào chương trình hợp tác đa biên của khối COMECON. Tuy nhiên, các nước trong khối COMECON, đặc biệt là Liên Xô, sau khi cân nhắc lợi hại đã xác định rằng hỗ trợ khai thác bauxite sẽ không hiệu quả bằng giúp Việt Nam phát triển các dự án trồng cao su, cà phê, chè…. Lúc ấy Liên Xô đang rất cần bauxite.

Câu hỏi lớn cần đặt ra là tại sao đối tác nước ngoài chủ đạo của chương trình khai thác bauxite Tây Nguyên lại là tập đoàn Chalco của Trung Quốc ?

Trung Quốc không thiếu mỏ bauxite nhưng sau khi thực thi “Pháp lệnh nguồn tài nguyên khóang sản”, họ đã phải đóng cửa trên 100 mỏ bauxite, trong đó có mỏ Nhữ An đã ngốn 1,5 tỷ Nhân dân tệ vốn đầu tư nhưng vì nguồn nước xung quanh bị ô nhiễm nặng và trong nhân dân phát sinh nhiều bệnh lạ.

Tin cho biết hiện nay đã có hàng trăm người và tương lai có thể đến nhiều ngàn người Trung Quốc kéo vào Tây Nguyên. Những ai trong số đó sẽ biến thành quân khi người ta lại cần dạy cho Việt Nam một bài học như hồi 1979 ?

Chúng tôi khẩn thiết kiến nghị:

Quốc hội yêu cầu Chính phủ trình bầy để Quốc hội xem xét và bỏ phiếu.

Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức trưng cầu ý dân về vấn đề này.

Các nhà khoa học tự nhiên, xã hội, kinh tế… trong và ngoài nước trình bày những ý kiến phân tích cặn kẽ ở cả hai hướng thuận và nghịch và yêu cầu hệ thống báo chí, phát thanh, truyền hình đăng công khai những ý kiến đó.

Mời quý vị hưởng ứng kiến nghị dăng ký ghi tên vào danh sách kiến nghị này qua hộp thư điện tử thanhgiang36@ yahoo.com

Danh sách những người kiến nghỊ

1- Nguyễn Thanh Giang, tiến sĩ, Hà Nội. 2- Phạm Hiện, lão thành cách mạng, Hà Nội. 3- Lê Minh Phúc, tổng giám đốc, Hà Nội. 4- Đỗ Việt Sơn, cán bộ tiền khởi nghĩa, Hà Nội. 5- Nguyễn Thượng Long, nhà giáo, Hà Đông. 6- Vi Đức Hồi, nhà giáo, Lạng Sơn. 7- Trịnh Khả Phức, cựu chiến binh, Hà Nội. 8- Trần Lâm, luật sư, Hải Phòng. 9- Ngọc Thế Phương, cựu chiến binh, Hà Nội. 10- Ngô thị Lộc, doanh nhân, Hà Nội. 11- Phạm Quế Dương, đại tá, Hà Nội. 12- Nguyễn Giang Vũ, thạc sỹ, Hà Nội. 13- Đỗ Đình Khánh, sinh viên, Hà Nội. 14- Trương Vũ Thụy, tiến sỹ, Hà Nội. 15- Trần Anh Kim, trung tá, Thái Bình. 16- Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, Hải Phòng. 17- Nguyễn Phương Anh, kỹ sư, Hà Nội. 18- Đào Quang Tiến, nhà giáo, Hà Nội. 19- Dương Tường, nhà thơ, dịch giả, Hà Nội. 20- Huỳnh Tâm, nghệ sỹ, France. 21- Nguyễn Văn Miến, đại tá, Hà Nội. 22- Lê Điệp, cựu chiến binh, Hà Nội. 23- Trần Bá, cựu chiến binh, Hà Nội. 24- Trần Khải Thanh Thuỷ, nhà báo, Hà Nội. 25- Nguyễn Huy Văn, cựu chiến binh, Hà Nội. 26- Trần Đức Quế, chuyên viên, Hà Nội. 27- Nguyễn Gia Năng, cán bộ hưu trí, Hà Nội. 28- Trần Bích Thuỷ, nhà giáo, Hà Nội. 29- Lê Vân, kỹ sư, Hà Nội. 30- Nguyễn văn Thiệp, cựu chiến binh, Hà Nội. 31- Nguyễn Văn Tuyến, đại tá, Hà Nội. 32- Văn Chương, chuyên viên, Hà Nội. 33- Nguyễn Bá Đăng, cựu chiến binh, Hải Dương. 34- Lý Anh Kim, cựu chiến binh, Hà Nội. 35- Lê Hữu Điệp, cựu chiến binh, Hà Nội. 36- Nguyễn Trọng Lâm, cựu chiến binh, Hà Nội. 37- Lê Anh Sơn, cựu chiến binh, Hà Nội. 38- Phạm Văn Phiếu, cựu quyết tử quân, Hà Nội. 39- Nguyễn Hữu Thưởng, cựu chiến binh, Hà Nội. 40- Trương Nguyễn, cựu chiến binh, Hà Nội. 41- Phan Anh, giáo viên, Hà Đông. 42- Đặng Văn Tân, nhà giáo, Hà Tây. 43- Phạm Hoàn, cán bộ hưu trí, Hà Nội. 44- Vũ Cao Quận, cựu chiến binh, Hải Phòng.

(Ký ngày đầu tiên. Còn cập nhật)

III- TIN TỨC, NHẬN ĐỊNH

Khai thác bô-xít là hủy diệt Tây Nguyên!

Nhà văn Nguyên Ngọc trả lời pv RFA 14-02-2009

Những thông tin cho đến thời điểm này cho thấy Chính Phủ Việt Nam cương quyết cho khai thác bauxite tại nhiều nơi ở Việt Nam, đặc biệt là Tây Nguyên.

Nhiều ý kiến lo ngại việc tiến hành dự án khai thác bô-xít có thể hủy hoại môi trường sống của vùng Tây Nguyên.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, gần đây nói rằng “khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước.” Đã và đang có rất nhiều ý kiến phản đối từ giới khoa học. Xin trình bày một phản biện khác, nhìn từ khía cạnh văn hóa. Nhà văn Nguyên Ngọc, người có một thời gian dài gắn bó với Tây Nguyên, nói rằng “Tây Nguyên là một bảo tàng sống độc đáo và đặc sắc.” Xin theo dõi cuộc phỏng vấn của Thiện Giao với nhà văn Nguyên Ngọc.

Thiện Giao: Chắc rằng ông đã và đang nghe về các dự án khai thác bauxite tại Tây Nguyên?

Nhà văn Nguyên Ngọc: Dự án bauxite Tây Nguyên đang gây rất nhiều dư luận trong xã hội. Nói chung là lo lắng nhiều mặt, về kinh tế sẽ thua lỗ, về môi trường thì tác hại không thể khắc phục. Còn nhiều mặt khác, như xã hội, an ninh quốc phòng, vân vân. Tôi thì tôi quan tâm đến mặt văn hóa xã hội của Tây Nguyên.

Thiện Giao: Là một người có nhiều năm sống và gắn bó với Tây Nguyên, ông có thể trình bày sơ lược những nét đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên?

Nguyên Ngọc: Lâu nay, nói đến văn hóa Tây Nguyên, chúng ta thừa nhận đây là vùng văn hóa đặc sắc và độc đáo. Nói đến Tây Nguyên, người ta nói đến cồng chiêng, đàn T’rưng, nhà rông, vân vân. Tôi nghĩ rằng đây là những biểu hiện ra bên ngoài, là kết quả của một nền tảng văn hóa rất sâu. Tôi cho rằng UNESCO rất giỏi khi họ công nhận cồng chiêng là di sản văn hóa thế giới. Khi công nhận như vậy, họ không chỉ công nhận cồng chiêng hay âm nhạc cồng chiêng. Cái mà họ công nhận là “không gian văn hóa cồng chiêng.”
Thiện Giao: Ông có nói rõ hơn về “không gian văn hóa cồng chiêng.”
Nguyên Ngọc: Tây Nguyên trước hết là rừng. Toàn bộ văn hóa Tây Nguyên là tinh hoa của sự gắn bó của con người với tự nhiên. Tự nhiên ở Tây Nguyên chính là rừng. Điều thứ hai nữa, rừng đây là “rừng của làng.” Làng là đơn vị xã hội cơ bản của Tây Nguyên; và làng ở Tây Nguyên thì gọi là “làng rừng.” Ở Tây Nguyên, đất và rừng gắn chặt với nhau làm một, và đây là nền tảng, là gốc, của văn hóa. Đàn T’Rưng, nhà rông, cồng chiêng … chính là những bông hoa mọc trên gốc văn hóa ấy.

Hủy diệt văn hóa, xã hội, thổ nhưỡng

Thiện Giao: Có thể tạm hiểu ý ông, rằng các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, nếu được tiến hành, sẽ phá vỡ “không gian văn hóa” mà ông vừa đề cập, và từ đó sinh ra các ảnh hưởng về mặt xã hội?

Nguyên Ngọc: Khi Tây Nguyên mất nền tảng của mình, văn hóa của họ sẽ tan. Một khi văn hóa tan đi, đặc biệt đối với dân tộc thiểu số là nơi văn hóa đối với họ vô cùng sâu sắc, xã hội sẽ không thể ổn định, thậm chí các dân tộc không thể tồn tại một cách bền vững.

Thiện Giao: Ông đã từng nói rằng, Tây Nguyên là một “bảo tàng sống?”

Nguyên Ngọc: Ở Tây Nguyên có điều này rất đáng chú ý về văn hóa. Trên bán đảo Đông Dương của chúng ta, trong mấy ngàn năm, phía Bắc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, phía Nam thì Champa và Cambodia chịu ảnh hưởng Ấn Độ. Riêng Tây Nguyên, do điều kiện lịch sử và địa lý riêng, các lớp phủ văn hóa Trung Hoa và Ấn Độ gần như không có. Cho nên, ở Tây Nguyên hiện còn tồn tại dấu vết những nền văn hóa cổ xưa nhất của những dân tộc đã từng sống trên mảnh đất mà nay ta gọi là mảnh đất Đông Dương. Có thể nói, đây là một bảo tàng sống của văn hóa cổ của Việt Nam.

Thiện Giao: Về mặt thổ nhưỡng thì sao, thưa ông? Thổ nhưỡng Tây Nguyên sẽ ra sao nếu người ta khai thác bauxite?

Nguyên Ngọc: Lấy Đắk Nông làm ví dụ. bauxite có tầng quặng mỏng, độ phân tán vì vậy rất rộng, chiếm 2 phần 3 diện tích. Và như vậy sẽ có 2 phần 3 diện tích rừng sẽ bị “bóc” đi. Người ta nói rằng, người ta sẽ hoàn thổ, trồng rừng trở lại. Một người không cần am hiểu về khoa học cũng thấy rằng, vấn đề ở đây không phải là đất lấy ra rồi đổ vào lại, mà là thổ nhưỡng. Tôi từng đến một nơi mà người ta “hoàn thổ” được vài ha ở vùng chè nổi tiếng Bảo Lộc. Bây giờ chỉ có cây keo tai tượng mọc thôi, còn chè thì người ta nói ít nhất 100 năm nữa mới trồng trở lại được. Tức là thổ nhưỡng tạo nên tầng đất trồng chè, cà phê, đã mất.

Thiện Giao: Như vậy, có thể nói tổng quát rằng các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên có thể dẫn đến nhiều hệ quả, mà tất cả các hệ quả này đều xoay quanh yếu tố văn hóa của các sắc tộc sống tại đó?

Nguyên Ngọc: Vấn đề Tây Nguyên như thế này: người ta đã từng nói đến chuyện môi trường, công nghệ, vân vân. Tất cả vấn đề này, ở Tây Nguyên, đều trở thành vấn đề xã hội và văn hóa. Do đó, không thể tách rời vấn đề môi trường và công nghệ ra khỏi không gian văn hóa rất độc đáo và đặc sắc của Tây Nguyên.

Biết bị độc nhưng vẫn giành ăn

Hồng Hà, ĐDCND 14-02-2009

Ngày 4-2-2009 tại Thường Tín, Hà Nội, hàng ngàn con gà không kiểm dịch được cán bộ viên chức thú y phun hoá chất trước khi đem tiêu huỷ đã bị dân cướp sạch. Dù đã cảnh báo gà bị độc, dân vẫn bất chấp tính mạng, nhào vào cướp gà.

Tại hiện trường khi xảy ra cướp gà, ông Vũ Văn Dũng, cán bộ địa phương cho biết đã "nói cho dân làng biết là gà đã bị phun hoá chất và không ăn được, nhưng họ không nghe". Kết quả là có hơn 1000 con gà bị phun hoá chất, gà không kiểm dịch có khả năng bị nhiễm khuẩn đã vào bụng nhân dân, hoặc đang bán ra thị trường để chờ ngày gây độc.

Dịch cúm gia cầm đã xảy ra thường xuyên. Nhiều người bị chết vì nạn dịch này. Các tỉnh hiện nay nằm trong danh sách bị cúm là Cà Mau, Sóc Trăng, Nghệ An, Hậu Giang. Mới đây thêm người bị chết ở Quảng Ninh. Ở Thanh Hoá, hai chị em gái cùng ăn thịt ngan có dấu hiệu bệnh, sau đó người chị gái 13 tuổi đã phát bệnh và chết ngay. Tình trạng gà bị nhiễm lây vi khuẩm cúm gia cầm H5N1 không phải người dân không biết. Nhiều trường hợp cúm gia cầm dẫn đến tử vong đã được thông báo trên báo đài. Vậy mà dân vẫn nhào vào cướp gà đem về nhà ăn, hoặc bán ra thị trường. Bất kể tình trạng nhiễm độc của gà có thể làm chết cả chính họ lẫn người thân trong gia đình, gây ảnh hưởng lây lan xấu ngoài xã hội.

Điều gì đã làm cho người dân bất kể tính mạng? Vì quá đói, nghèo khổ, túng thiếu hay vì lòng tham nên dân đã bất cần sự an toàn, sinh mạng của họ. Bên cạnh cái thiếu thốn, nghèo đói và tham lam quá độ còn có điều gì sâu xa hơn nữa? Phải chăng, chính vì sự ngu dốt, vì thiếu hiểu biết về nguy hại của dịch đối với mạng sống và tác động của nó vào môi trường xung quanh đã làm cho người dân hành xử mù quáng, ngu xuẫn và vô trách nhiệm với đồng loại.

Hình ảnh người dân Việt Nam nhào vào cướp gà để thu lợi, bất kể gà bị cúm, bất kể gà bị tẩm thuốc trùng giống như hình ảnh thu nhỏ của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và hàng chục lãnh đạo trong Bộ chính trị CSVN đã quyết định cho Trung Quốc vào Việt Nam khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Bauxite là "sinh tử phù" của Trung Quốc để cấy vào Tây Nguyên nhằm gây dựng cơ sở tình báo, chính trị và quân sự theo sách lược tằm ăn dâu. Bauxite cũng là chất độc nhằm giết dần môi trường sống của nhân dân ở Tây Nguyên nói riêng và đất nước, con người Việt Nam nói chung. Bauxite cũng là cái bẫy ngầm để vừa làm tê liệt, khống chế nền kinh tế Việt Nam vừa có khả năng xây dựng bàn đạp cho chiến lược quân sự của Trung Quốc "muốn chiếm Việt Nam, phải đánh ở ngay giữa xương sống". Từ lâu, Trung Quốc đã liên tục áp lực tại biển Đông, gia tăng sách lược bao vây và hạn chế chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Trường Sa-Hoàng Sa, nhằm đánh vỡ hy vọng của Việt Nam vào việc khai thác tiềm lực kinh tế ở biển Đông. Mặt khác, Trung Quốc lại vỗ về, phủ dụ Việt Nam lá bài tiềm năng kinh tế "vô cùng to lớn" về khai thác quặng mỏ bauxite ở Tây Nguyên. Đây là kế "Dương Đông Kích Tây" mà Chính trị bộ đảng CSVN đã lọt bẫy.

Những năm 90, khi chính sách ngoại giao Trung-Việt còn căng thẳng sau cuộc chiến 1979, nhân dân các vùng biên giới phiá Bắc thi đua nhau giết trâu bò để bán móng cho lái buôn Trung Quốc, vì tin đồn bán móng được lãi cao. Lái buôn Tàu vượt biên giới vào làng mua với giá rất cao. Lý do giải thích tại sao mua móng trâu bò còn cao hơn cả thịt, các lái buôn Tàu cho biết là mua móng để làm cao, làm thuốc vì móng trâu bò ở Việt Nam có giá trị tốt hơn móng ở Trung Quốc. Vì vậy, nhân dân các làng vùng biên giới thi đua giết bò, giết trâu để bán móng, bất kể nhỏ to. Dịch thu mua móng kéo dài một thời gian rồi đột nhiên ngưng mua, hàng ngàn trâu bò trong độ tuổi sản xuất bị giết chết, hàng ngàn móng trâu bò trở thành vật phế thải. Hậu quả là nhiều năm sau đó mùa màng bị thất thu, sản xuất nông nghiệp đã bị đình động, trâu bò không đủ số cung cấp cho việc đồng áng vì đã bị giết hàng loạt để bán móng. Bên kia biên giới Việt Trung, bộ máy tình báo, an ninh Trung Quốc xoa tay cười hỉ hả. Họ chỉ cần bỏ ra vài chục triệu nhân dân tệ đã gây biết bao khó khăn cho nhân dân Việt Nam ở các vùng biên giới. Tai hại của nạn mua móng, giết trâu bò vô tội vạ phải mất nhiều năm mới hồi phục được.

Hiện nay, tệ nạn tiền giả lưu hành ở Việt Nam rất cao. Phần lớn bọn buôn bạc giả chạy qua Trung Quốc mua rẻ rồi mang về Việt Nam bán lời. Hàng năm, tiền giả Việt Nam lưu hành hàng trăm tỷ đồng cũng đủ làm nền kinh tế Việt Nam bị chới với. Bọn in bạc giả không phải là những tay tội phạm tài tử, đường dây chuyên nghiệp này có liên hệ chằng chịt với tình báo Trung Quốc, An ninh Việt Nam biết rõ xuất xứ tiền giả nhưng bó tay. Cuộc chiến tranh Trung-Việt mang nhiều màu sắc, không nhất thiết phải cần súng đạn, xe tăng tràn qua biên giới. Tiền giả, hàng giả, hàng nhái Trung Quốc tuồn qua cửa khẩu có khả năng khống chế, lũng đoạn nền kinh tế Việt Nam còn hữu hiệu hơn xe tăng, đại pháo.

Bauxite là giai đoạn xâm nhập cao ở mức độ chiến lược. Trung Quốc đang khai thác bauxite ở nước họ rẻ hơn, vừa giải quyết được nạn thất nghiệp hiện nay đã lên đến 26 triệu người, vừa làm chủ khả năng kiểm soát tài nguyên, vừa hiệu quả cao về mặt kinh tế. Tại sao lại chỉ muốn khai thác bauxite ở Việt Nam?

Hãy cứ tưởng tượng hàng chục ngàn công nhân Việt Nam sẽ làm thuê cho Trung Quốc ở Tây Nguyên. Hàng trăm ngàn mẫu đồi núi, rừng Tây Nguyên bị san bằng, biến thành bùn đỏ. Việt Nam từng bước lệ thuộc vào nguồn thu nhập quặng mỏ bauxite. Cả nước Việt Nam, kinh tế bị cột chặt vào mặt hàng xuất khẩu bauxite, hàng chục ngàn con người làm công quặng mỏ bauxite để kiếm sống; cả vùng rừng núi Tây Nguyên bị huỷ hoại, mất khả năng ngăn chận lũ, môi trường bị tàn phá. Cả một thảm hoạ trước mắt sẽ chụp xuống đầu dân tộc và đất nước Việt Nam sau khi Trung Quốc khai thác triệt để tài nguyên rồi bỏ ngang. Ai trách nhiệm giải quyết hàng chục ngàn con người bị thương tật, bệnh hoạn, vật vờ do hậu quả nhiều năm sống gần hoá chất? Ai ngăn chận nạn lũ lụt sẽ tràn xuống Tây Nguyên và miền Trung, gây ra cảnh màn trời chiếu đất. Môi trường thiên nhiên, rừng núi bị hủy hoại, đất đai, sông ngòi bị bùn đỏ xâm thực, mất điều kiện canh tác và làm ra của cải cho nhiều thế hệ sau. Khả năng rất cao nhân dân các tỉnh Tây Nguyên và Miền Trung bị rơi vào nạn đói vì hậu quả thiếu đất canh tác và lũ lụt. Cả triệu người Miền Bắc từng bị chết đói năm Ất Dậu khi quân phiệt Nhật bắt nhân dân trồng đay thay vì trồng lúa. Ai bù lỗ ngay khoản tài chánh khổng lồ bị thiếu hụt từ nguồn thu bauxite khi Trung Quốc dọa bỏ ngang dự án để áp lực Việt Nam về quân sự, chính trị, ngoại giao và kinh tế khi cần thiết?

Những bài học nóng vì thua thiệt do Trung Quốc chơi đểu vẫn còn đó. Vụ thu mua móng trâu bò, vụ in và phát hành bạc giả, vụ ngăn Việt Nam vào WTO, vụ lấn chiếm và giành hải đảo Trường Sa–Hoàng Sa, vụ đe dọa khai thác dầu khí làm Việt Nam mất hàng tỷ dollars từ hãng dầu British Petroleum của Anh và Exxon của Mỹ v.v… Tất cả những sự kiện đó lãnh đạo CS không thể không biết. Toàn bộ viễn ảnh nguy hại trên chỉ thuần tuý ở phương diện kinh tế, chưa nói đến khía cạnh phức tạp từ các lãnh vực quân sự, chính trị và xã hội do bề sâu của việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên gây ra.

Bauxite ở Tây Nguyên cũng giống như thịt gà độc, dính vào nó chỉ chờ ngày bị tàn phá, huỷ diệt. Câu hỏi đặt ra là tại sao nguy hiểm cho sự tồn vong của dân tộc và đất nước như vậy mà lãnh đạo đảng CSVN ở Chính Trị bộ vẫn nhắm mắt tin theo Trung Quốc, giống như hoạt cảnh "biết bị độc nhưng vẫn giành ăn"          

Bên cạnh bản chất tham lam và sự nghèo khó, tệ nạn ngu dốt, thiếu hiểu biết về những tác động liên hệ của nhiễm độc và môi trường sinh thái là yếu tố dẫn đến sự kiện mù quáng ăn thịt gà độc. Điều này, cũng như việc ký kết khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên của đảng CSVN, bất kể hậu quả tàn phá cho dân tộc Việt nam và ngay chính bản thân của họ nữa.

Từ nhiều năm nay, lãnh đạo đảng CSVN là những kẻ thất học hoặc thiếu học. Họ không đủ trình độ căn bản để hiểu ra những liên hệ về sinh thái học, môi trường học và mối tương quan của thiên nhiên đối với con người. Đòi hỏi sự giải thích cặn kẽ để ông Nguyễn Tấn Dũng hiểu, cũng khó như phân tích các mối quan hệ hổ tương giữa "phá rừng và lũ lụt" cho một anh chăn trâu, chưa xong bậc tiểu học. Ông Nguyễn Tấn Dũng theo đảng CSVN từ lúc 12 tuổi, thời gian ở trong rừng ông không có điều kiện để học. Trình độ của ông Dũng lúc đó chỉ ở mức tiểu học. Sau 1975, ông được kết nạp vào đảng CSVN và giữ nhiệm vụ là một y tá quèn ở huyện. Gần 35 năm sau ông trở thành Thủ tướng nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù lý lịch ông tự khai hiện nay có trình độ đại học nhưng điều đó chỉ là học "dỏm", để bịp thiên hạ. Ông không có học để đủ trình độ căn bản hiểu được các nguyên lý của sinh thái. Bản chất không học, cộng thêm sự hãnh tiến, đắc chí của kẻ nắm quyền lực làm cho ông và những đồng chí của ông mù quáng, có những quyết định sai lầm.

Sự thực là không riêng ông Nguyễn Tấn Dũng mà nhiều vị lãnh đạo khác trong đảng CSVN đều thất học. Ông Võ Văn Kiệt ít học, ông Phan Văn Khải cũng vậy. Trong cuộc tiếp kiến Tổng thống George Bush tại toà nhà trắng, ông Khải đã cầm tờ giấy nhỏ trên tay để đọc mấy lời chúc tụng làm cả nước Việt Nam xấu hổ. Ông Đỗ Mười nếu không theo đảng CSVN thì cũng chỉ là anh thiến heo làng. Ông Lê Đức Anh chẳng hơn gì mấy, trước khi tham gia đảng ông là cặp-rằn, coi phu đồn điền cao su và gian ác có tiếng. Ông Lê Duẫn không làm cách mạng thì suốt đời chỉ là anh công nhân đường sắt. Hàng chục năm nay, dân tộc Việt Nam bị lãnh đạo bởi những con người như vậy thì đất nước Việt Nam phải trở thành "bùn đỏ" là hệ quả tất yếu.

Có nhiều can ngăn, cảnh báo về quyết định sai lầm của Đảng CSVN qua sự kiện ký kết cho Trung Quốc khai thác bauxite. Trả lời phóng viên, ông Dũng cho biết "vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước". Nói cách khác, Chính trị bộ với hơn chục lãnh đạo đã quyết định rồi, đừng có ai lên tiếng cản ngăn. Đảng CSVN có hơn 3 triệu đảng viên, bao nhiêu đảng viên đã được hội ý về sự kiện trọng đại này? Quyết định này dẫn đến sự tồn vong của đất nước và dân tộc nhưng Đảng CSVN có tham khảo Quốc hội không? Dù Quốc hội "bù nhìn", nhưng ít nhất cũng phải có sự tham khảo cho ra vẻ chứ? Nếu cả dân tộc và đất nước Việt Nam phải chịu gánh nặng hậu quả từ vụ án "bauxite", thì thủ phạm gây án là ai? Chính trị bộ hay bao gồm luôn cả 3 triệu đảng viên đảng CSVN và những vị gọi là "đại biểu quốc hội" nước CHXHCNVN?

Khi người dân nhảy chồm vào cướp gà bị nhiễm trùng để ăn, vì lòng tham và ngu dốt, họ đã bất kể bị ngộ độc vì họ không đủ trình độ để thấy hiểm họa lâu dài cho chính bản thân họ. Có thể trong số những người này không bị chết ngay vì cúm gà nhưng ảnh hưởng của thuốc diệt trùng sẽ tàn phá cơ thể họ, lây lan và truyền qua các thế hệ con cháu. Khi ông Nguyễn Tấn Dũng và lãnh đạo đảng CSVN trong Chính trị bộ đồng ý cho Trung Quốc tiến vào Tây Nguyên khai thác bauxite, quyết định sai lầm này không những hủy họai, tàn phá đất nước và dân tộc Việt Nam, mà còn có khả năng sẽ tạo thành mầm độc để triệt tiêu ngay chính đảng CSVN.

Trong họa có phúc. Hoạ 1975 đã đẩy hàng triệu con dân Việt lưu lạc khắp nơi trên thế giới. Nhờ vậy, lực lượng người Việt hải ngoại đã và đang hình thành một sức mạnh đáng kể, từng bước ảnh hưởng trực tiếp vào sinh hoạt kinh tế và chính trị tại Việt Nam. Họa bauxite cũng vậy, giống như trùng độc nằm trong con gà từng bước lây lan, và hủy diệt ngay cả chủ thể của nó. Quặng mỏ bauxite ở Tây Nguyên sẽ là điểm cực nóng để biến thành "bùn đỏ", chôn vùi sự nghiệp chính trị đảng CSVN. Hãy cứ đợi đấy!

Báo chí bị cấm đưa tin vụ bô-xít!

Thiện Giao, phóng viên RFA 22-02-2009

Một văn bản lan truyền trên Internet được tin là tài liệu "thông báo kết luận của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về thăm dò, khai thác bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm" cho thấy báo chí Việt Nam bị cấm đưa tin về vấn đề bô-xít. Nói chính xác hơn, là báo chí bị cấm đưa tin về vấn đề bô-xít trong thời gian chính phủ "chưa hoàn tất việc tổ chức Hội thảo Khoa học."

Và việc tổ chức hội thảo khoa học này, vẫn theo văn bản vừa nêu, được Thủ tướng Chính phủ yêu cầu tổ chức trong khi chính văn bản ấy nói Chính phủ "kiến nghị Bộ Chính trị cho phép tiếp tục triển khai các dự án theo quy hoạch được duyệt."
Tài liệu được nói đến mang số hiệu 17/TB-VPCP, do Phó Chủ nhiệm Văn Trọng Lý ký phổ biến ngày 13-01-2009.

Mục số 4 của văn bản ghi ý kiến kết luận của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liên quan đến báo chí như sau: "Trong thời gian chưa hoàn thành việc tổ chức Hội thảo Khoa học, Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng không đưa tin về ảnh hưởng môi trường trong khai thác, tuyển rửa quặng bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại các tỉnh Tây Nguyên."

Quyền phản biện của báo chí?

Nếu thừa nhận rằng báo chí, truyền thông đóng vai trò chuyển tải thông tin đa chiều, thậm chí mang tính phản biện nếu cần, thì chỉ thị này có nghĩa là sẽ không có sự phản biện thật sự trong các dự án bô-xít mà dư luận Việt Nam hiện nay đang rất quan tâm.
Trong một lần trả lời phỏng vấn với đài chúng tôi, sử gia, đại biểu Quốc hội, Dương Trung Quốc, đã từng nhấn mạnh đến nhu cầu phản biện và quyền phản biện, của cả 2 phía ủng hộ cũng như phản đối dự án này : "Tôi nghĩ là chúng ta phải lắng nghe ý kiến phản biện từ những người đang được phản biện, tức là từ phía chính phủ và cơ quan đang thực hiện dự án này. Tôi nghĩ là phải lắng nghe 2 chiều thì mới có thể có sự đồng thuận cuối cùng mặc dầu biết trước đây là vấn đề có những khó khăn của nó."
Sử gia Dương Trung Quốc có lẽ đã từng là một trong những người đầu tiên nêu vấn đề "thảo luận" liên quan đến bô-xít tại Quốc hội. Trong kỳ họp Quốc hội thứ tư vừa rồi, ông Quốc từng nói, rằng đây là "vấn đề lớn, cần tôn trọng ý kiến mọi người và cần được đưa ra trước Q. hội."

Tắc nghẽn thông tin

Hiện tượng "tắc nghẽn thông tin" cũng là điều cần lưu ý trong các dự án bô-xít. Trong cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội, Giáo sư Nguyễn Lân Dũng, ông có nói rằng ông "không đủ thông tin." : "…Qua báo chí, tôi được thông tin là dự án đã được chính phủ tính toán kỹ và bảo đảm không ô nhiễm môi trường. Tôi được thông tin chỉ có thế. Tôi cũng không đi sâu vào lãnh vực này, nên không thể nắm được. Nhiều người đặt vấn đề "bùn đỏ," và được nói là sẽ làm kỹ, nghiên cứu kỹ, làm từng khu vực một, xong đến đâu, xử lý môi trường xong mới làm tiếp. Cá nhân tôi không có đủ thông tin để mà biết là làm như thế này có đảm bảo an toàn chưa. Tôi không có đủ thông tin!"

Bức thư của ĐT Võ Nguyên Giáp

Một "phản biện" khác, có giá trị lớn về mặt tâm lý cũng như dư luận, là bức thư mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp,

Trong thư, tướng Giáp nhắc đến một sự kiện xảy ra cách đây gần 30 năm, cũng liên quan đến bô-xít. Đó là đầu những năm 1980, Việt Nam đã từng nghĩ đến các dự án này, để hợp tác với khối COMECON. Tướng Giáp là người trực tiếp chỉ đạo chương trình này. Về sau, chính các chuyên gia của COMECON đã khuyên Việt Nam không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên vì những tác hại sinh thái có thể rất nghiêm trọng. Kết quả là, chính phủ thời ấy quyết định không khai thác bô-xít mà giữ rừng và phát triển cây công nghiệp.

Cũng xin được nhắc lại, rằng hồi giữa năm ngoái, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam, là ông Nông Đức Mạnh, sang thăm Trung Quốc, đã khẳng định 2 nước "tăng cường hợp tác trong các dự án" trong đó có dự án khai thác bauxite tại Đắk Nông!
Chỉ thị lần này của thủ tướng Dũng thì có đoạn chính phủ "kiến nghị Bộ Chính Trị cho phép tiếp tục triển khai các dự án theo quy hoạch được duyệt."

Khai thác bauxite, thành tích cộng sản

Lê Vi 22-02-2009

Gần đây cả nước xôn xao với quyết định khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hàng loạt các bài viết của các nhà khoa học phân tích các thiệt hại cả về kinh tế, tài nguyên môi trường và cả an ninh quốc gia khi thực hiện dự án này. Trong đó có cả nhân vật được coi là khai quốc công thần của đảng Cộng sản Việt Nam : Võ Nguyên Giáp.

Bất chấp tất cả mọi phản kháng, bất chấp cả búa rìu dư luận, Thủ tướng Dũng vẫn ngang nhiên chấp thuận dự án này. Có rất nhiều câu hỏi được đặt sau khi Thủ tướng Dũng công khai chấp thuận dự án này.

- Rằng ông Dũng có sợ dư luận không? Có thể có, bởi ông Dũng vẫn là nô bộc của nhân dân mà !

- Ông Dũng có biết đọc để đọc các bản phân tích của các chuyên gia, các nhà khoa học không? Có thể có ! Nghe đâu Thủ tướng Dũng cũng học hết lớp 7, lớp 8 gì đó trước khi vào rừng. Hy vọng ông Dũng không phải là học sinh cá biệt để đến lớp 7 mà không biệt đọc.

- Ông Dũng có lí trí để phân biệt đúng–sai, hơn–thiệt không? Có thể có, bởi vì từ trước đến nay chưa bao giờ nghe nói Thủ tướng Dũng phải nhập viện một bịnh viện nhiệt đới nào !

Vậy tại sao Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại quyết tâm thực hiện dự án này? Chúng ta hãy nhìn lại suốt thời gian làm Thủ tướng của ông Dũng. Ngoài thành tích kích thích nền kinh tế lạm phát lên tới 30% trong năm qua, ông Dũng vẫn chưa có một việc làm nào để lại di tích trong thời gian điều hành đất nước cả. Nhìn lại các ông trùm của cộng sản từ khi mới thành lập.

- Hồ Chí Minh với Cải cách Ruộng đất 1956 và Mộ chôn tập thể 1968 lưu danh muôn thuở.

- Phạm Văn Đồng tặng Hoàng Sa cho Trung cộng đến nay nhân dân vẫn cảm ơn (nhưng là nhân dân TC, ừ thì dân nào cũng là dân).

- Lê Duẫn với mô hình hợp tác xã đã làm đói nghèo cả dân tộc suốt hàng thập kỷ đến nay vẫn còn nghèo.

- Đỗ Mười và Lê Đức Anh với liên minh MA và Tổng cục 2 khét tiếng giang hồ, chấn động võ lâm.

- Trần Đức Lương có công bán ải Nam Quan được giá cao, đến nay đã được xác nhận bằng Hiệp định Biên giới.

- Võ Văn Kiệt với chiêu bài “phục quốc” và “đảng cuội” đã quy tụ toàn bộ những người có ý định chống đối vào nhà đá…

Thế nên, suốt nhiệm kỳ mà không để lại di chứng gì đáng kể cho dân tộc thì thật không xứng mặt với lớp tiền nhân đã có công phá nước.

Nhận được dự án khai thác quặng bauxite từ đàn anh Trung Cộng, Thủ tướng Dũng như bắt được vàng. Đây là cơ hội rất tốt để lưu danh hậu thế. Việc khai thác quặng bauxite sẽ để lại một môi trường ô nhiễm hàng chục năm sau đó, phá nát Tây Nguyên, nhân dân sẽ đói khổ. Do đó vài chục năm sau, nếu còn sống, ông Dũng cũng sẽ được nghe nhắc đến mình khi toàn dân cố gắng khắc phục hậu quả do việc khai thác hôm nay.

Theo nhận xét của các chuyên gia về quân sự, Tây Nguyên là điểm huyết mạch về quốc phòng của Việt Nam. Nếu chiếm được Tây Nguyên, ngoại bang có thể đánh thốc xuống Xuân Lộc hoặc Phan Thiết là có thể dễ dàng chia cắt Việt Nam thành 2 khúc, từ đó có thể bình định miền Nam hay miền Bắc một cách dễ dàng. Việc đưa hơn 1.000 lính Trung cộng dưới dạng công nhân sang thường trú tại đây chẳng khác gì một miếng mỡ treo trước miệng mèo khiến lòng tham vô đáy của Trung Quốc được dịp trỗi dậy mạnh mẽ. Và theo diễn tiến hiện nay, một ngày không xa cờ Trung Cộng sẽ tung bay ngạo nghễ trên bầu trời Hà Nội. Cộng sản sẽ “bất chiến tự nhiên thành” (nhưng là cộng sản Trung Hoa, ừ thì cộng nào chẳng là cộng nô).

Lúc này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Dũng nếu còn, sẽ có cơ hội được nói: “Việt Nam có bằng chứng chứng minh thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là của Việt Nam, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng Hiệp ước Liên Hiệp Quốc”. (Có quốc gia cộng sản nào tôn trọng hiệp ước đâu mà bảo Trung Quốc phải tôn trọng?!).

Thế là với việc khai thác quặng bauxite này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có dịp tiếp nối tiền nhân lưu danh hậu thế. Đúng là “Bác đã có công phá nước, các cháu con hãy cùng nhau quậy tiếp”.

Nguồn: Ðảng Dân Chủ Nhân Dân

Bom nổ ở Tây Nguyên!

Trần Hùng 24-02-2009

Từ 2 tuần lễ nay, số lượng tin tức, bài vở liên quan đến vấn đề bauxite Tây Nguyên gia tăng rõ rệt. Tất cả những diễn đàn truyền thông của người Việt hải ngoại như báo in, báo mạng, các trang thông tin điện tử, truyền thanh, truyền hình, phòng paltalk… đều liên tục đề cập về đề tài này. Truyền thông ngoại quốc cũng có mặt, tất cả những chương trình Việt ngữ của các đài phát thanh BBC, VOA, RFI, RFA… đều loan tin. Ngoài ra, biến cố này còn được loan truyền rộng rãi qua các trang blog mà chủ nhân của nó ở cả hải ngoại cũng như trong nước. Và điểm đặc biệt là những bài viết về bauxite Tây Nguyên còn được tìm thấy trên các trang báo online của nhà nước, một số bài được đăng tải từ trước, vẫn còn duy trì tại đó, nhưng cũng có bài mới được đưa lên sau khi Nguyễn Tấn Dũng đã có chỉ thị cấm loan tin về việc này. Nếu truy nhập qua Google để tìm chủ đề "bauxite Tây Nguyên" hoặc "khai thác bauxite", người ta sẽ có khoảng 500 đường dẫn đến các bài viết về đề tài trên. Có tác giả so sánh nó với quả "bom bùn 20 tấn nằm ngoài vòng kiểm soát". Có thể nói rằng đây là vấn đề đang được người Việt quan tâm nhất hiện nay, mặc dù hiện tại tình hình Việt Nam vẫn còn nhiều điểm nóng khác nữa.

Hơn một năm trước đây, CSVN đã ký quyết định số 167 ngày 1-11-2007 về việc khai thác quặng nhôm bauxite tại vùng Tây Nguyên, theo đó việc phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite sẽ được thực hiện từ năm 2007 đến năm 2015. Cụ thể trong năm 2008, tại 2 vùng Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông) sẽ có thể sản xuất 1,2 triệu tấn nhôm hàng năm. Lẽ ra nó phải được hân hoan chào đón như một yếu tố giúp cho nền kinh tế đang khủng hoảng của Việt Nam được tăng trưởng, nhưng ngược lại, chỉ là những lời phản đối mạnh mẽ kèm theo những cảnh báo thống thiết. Vậy thì việc gì đã xẩy ra?

Đọc những bài viết về vấn đề khai thác bauxite ở Tây Nguyên, người ta hiểu rõ tại sao lại có dư luận phản đối quyết liệt như vậy. Tất cả những bài viết này đều dựa trên những nghiên cứu khoa học công phu, cũng như cung cấp những dữ kiện cụ thể đầy tính thuyết phục. Đặc biệt là bài viết của một số nhân vật hữu danh trong nước như ông Võ Nguyên Giáp, đại tướng quân đội cộng sản, ông Nguyễn Trung, nguyên thành viên ban nghiên cứu của cố thủ tướng CSVN Võ Văn Kiệt, hay các chuyên gia như tiến sĩ Tô Văn Trường, tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, tiến sĩ Phạm Bích San… Đại tướng Giáp ngày 5-1-2009 đã gửi thư tới Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi ngừng triển khai dự án vì nó có "nguy cơ nghiêm trọng đối với môi trường tự nhiên và xã hội". Ông Nguyễn Trung đã thực hiện chuyến đi khảo sát thực tế một tuần lễ vào cuối năm 2008, sau đó đưa ra nhận định: "Kế họach cầm chắc là sẽ lỗ lớn", "tác hại nhiều tiềm năng phong phú của địa phương" và "tăng thêm nguy cơ uy hiếp an ninh và sự ổn định chính trị của Tây Nguyên, mà cũng có nghĩa là của cả nước". Tựu chung, các tác giả trong và ngoài nước cùng thống nhất với nhau ở 4 nguy cơ chính sau đây:

1- Kế hoạch khai thác bauxite không có hiệu quả về kinh tế:

Loại quặng bauxite ở Tây Nguyên là loại quặng non, cho ra loại nhôm có phẩm chất thấp. Ngoài ra, quy trình sản xuất rất phức tạp và tốn kém. Để được 1 tấn alumina người ta phải xử dụng 60m3 nước và 1 tấn than, là những nguyên liệu địa phương không thể cung ứng. Ngoài ra, người ta phải phá từ 3000 đến 7000 mẫu rừng cho một địa điểm khai thác. Nhôm không phải là kim loại quý nên giá hạ, tiền thu vào không đủ so với phí tổn bỏ ra. Vì thế, "kế họach cầm chắc là sẽ lỗ lớn" như ông Nguyễn Trung đã nhận định. Như thế khai thác bauxite để làm gì?

2- Làm huỷ hoại môi sinh:

Việc khai thác bauxite như nói trên phải phá huỷ một diện tích rừng rộng lớn. Ngoài ra, mỗi khi sản xuất được 1 tấn nhôm, nó lại thải ra 3 tấn bùn đỏ chứa nhiều chất độc hại, từ từ hình thành một sa mạc bùn đỏ rộng mênh mông mà không loại cây cối nào có thể sinh sống được. Có nhà khoa học ví bùn đỏ giống như “bom bẩn” treo lơ lửng trên đầu. Theo ước tính, mỗi năm công trường sẽ tạo ra khoảng 20 triệu tấn bùn đỏ, là một khối lượng khổng lồ.

Cũng trong quá trình khai thác, khí thải từ động cơ của các thiết bị máy móc, từ mìn nổ gây ra có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng, đồng thời gây kích ứng niêm mạc phổi, làm loét phế quản con người.

3- Việc khai thác bauxite tạo bất ổn xã hội:

Để khai thác quặng bauxite, phải di dời cư dân đang sinh sống, có nghĩa là cả một cộng đồng người thiểu số tại đây phải thay đổi địa bàn sinh sống, thay đổi sinh kế, thay đổi văn hóa cộng đồng, có nguy cơ bị mất đi một số di sản văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh… Việc phá huỷ nếp sống an lành ổn định đang có, đẩy họ vào những môi trường hỗn tạp cũng sẽ làm nẩy sinh những loại tội phạm xã hội, tạo xung đột giữa cư dân cũ với người mới nhập cư, giữa cư dân với công ty đầu tư cũng như giữa cư dân với chính quyền địa phương. Chưa kể đến việc đền bù đất đai bất hợp lý khi giải phóng mặt bằng sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề dân oan đang tràn lan khắp nước.

Kế họach cũng cho thấy các dự án chỉ xử dụng một số rất nhỏ công nhân địa phương, hầu hết là cơ bắp. Như thế, việc khai thác quặng bauxite hoàn toàn không giúp giải quyết nạn thất nghiệp, và các sắc tộc thiểu số tại Tây Nguyên sẽ chịu thiệt hại hầu như toàn bộ.

4. Ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng

Chỉ với những tác hại to lớn trong 3 lãnh vực trên cũng đủ khiến kế họach bị huỷ bỏ. Như vào thập niên 80, khi CSVN đề nghị hợp tác đa phương với khối COMECON để khai thác bauxite tại Tây Nguyên, chính khối này đã đề nghị bác bỏ vì các nguy cơ sinh thái. Vậy mà bây giờ CSVN lại ngoan cố thực hiện, ngay cả khi nó có thêm tác hại thứ 4, còn to lớn và nguy hiểm hơn 3 nguy cơ kể trên, đó là ảnh hưởng đến an ninh quốc gia qua việc đặt kế họach này vào tay nhà thầu Tianjin-Chec 3 của Trung cộng. Trên phương diện chuyên môn, các công ty của Trung cộng đã nổi tiếng về kỹ thuật lạc hậu, cung cách làm việc vô trách nhiệm, và đặc biệt là tàn phá môi sinh. Nay những đoàn công nhân Trung cộng thao túng trên miền Tây Nguyên thì hiểm họa mất miền đất này đã hiện ngay trước mắt. Đại tướng Giáp tiết lộ vào tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung cộng đến vùng này, và con số sẽ còn tăng lên đến nhiều ngàn người. Đảng viên Việt Tân Lý Nam Bình trong chuyến thám sát tại xã Nhân Cơ tỉnh Đắk Nông vào giữa tháng 2-2009 cho biết "lực lượng công an cộng sản đã được rải thảm" tại khu vực này để ngăn ngừa người lạ. Rõ ràng, bất chấp những lời phản kháng quyết liệt từ mọi phiá, bất chấp nhiều vụ mất đất đã xẩy ra như Nam Quan, Bản Giốc, Hoàng Sa, Trường Sa… nay đến lượt vùng Tây Nguyên nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung cộng. Người ta còn nhớ, trong chuyến đi chầu Bắc Kinh đầu tháng 6-2008, Nông Đức Mạnh đã phải ký kết với Hồ Cẩm Đào một bản Tuyên bố chung 9 điểm, trong đó Trung cộng đã chỉ thị: "Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như bô-xít Đắk Nông…". Hai chữ "hợp tác" chỉ nhằm che giấu một âm mưu xâm thực hiểm độc. Cũng vì thế, vào đầu tháng 2, Nguyễn Tấn Dũng đã phải lớn tiếng tuyên bố "việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước". Đồng thời hứa hẹn "sẽ tổ chức một hội thảo về các phương án khai thác nguồn tài nguyên to lớn này một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái và an ninh quốc gia", nhưng lại ra lệnh cấm các cơ quan truyền thông nhà nước đưa tin về chủ đề này.

Tất cả những tin tức liên quan đến sự việc này cho thấy những lời cảnh báo thống thiết đang vang lên từ những người yêu nước là để tránh cho đất nước khỏi rơi vào một tương lai cực kỳ bi thảm. Không phải chỉ miền Tây Nguyên bị đặt dưới hiểm họa của một trái "bom bùn 20 tấn", mà toàn bộ giải đất hình chữ S cũng sẽ bị xâm thực nhanh chóng sau khi vùng chiến lược này bị chiếm lĩnh. Hãy cùng gióng lên tiếng chuông báo động để tất cả mọi người Việt đều hiểu rõ nguy cơ này và cùng tiếp tay ngăn chặn. Những cán bộ trong hàng ngũ truyền thông nhà nước hãy đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên quyền lợi của một đảng phái. Đây là cơ hội để các bạn cùng góp phần với toàn thể nhân dân đẩy mạnh tiến trình thực hiện dân chủ cho đất nước.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter