lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

Tập 2

LỜI GIỚI THIỆU

Kính thưa Quý vị, Các Bạn trẻ thân mến,

Chúng tôi xin tiếp tục gởi tới Quý vị và Quý bạn tập 2 của loạt tài liệu về Tây Nguyên và bauxite. Xin cảm ơn đã đón nhận tập 1.

Như chúng ta đã thấy và sẽ thấy, vấn đề khai thác quặng nhôm tại yếu huyệt, yết hầu này của Đất nước không đơn giản. Trên phương diện kinh tế, môi sinh và văn hóa, hai tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn và Nguyễn Đông Hải cùng nhà văn Nguyên Ngọc, đã chứng minh qua bài viết “10 lý do đề nghị tạm dừng dự án bauxite TN” ngày 13-01-2009 rằng việc triển khai các dự án đó là không cần thiết, không làm tăng ngân sách địa phương, không hề có hiệu quả kinh tế, phải đầu tư xây dựng một hệ thống đường sắt và cảng biển phí phạm, không an toàn về môi sinh, không phù hợp với năng lực của chủ đầu tư VN, không đảm bảo sinh kế cho các đồng bào dân tộc thiểu số bản địa, không phát triển bền vững Tây Nguyên, không mang tính công khai minh bạch, không tuân thủ Luật khoáng sản và Luật bảo vệ môi trường. Tóm lại, việc khai thác đó hoàn toàn lỗ lớn, lỗ nặng về mặt kinh tế, môi sinh, văn hóa, xã hội.

Trên phương diện an ninh quốc phòng, thì cựu thiếu tướng kiêm đại sứ CSVN là Nguyễn Trọng Vĩnh đã cảnh báo trong thư Thư gửi Bộ Chính trị ngày 27-02-2009: "TQ xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam để đe dọa VN và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã chiếm Hoàng Sa [1974]. Nay lại để họ khai thác bauxite ở TN thì sẽ có 5, 7 nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân TQ đến cư trú và hoạt động tại đó, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của đất Việt...". Một học giả người Việt nước ngoài là TS Mai Thanh Truyết cũng nhận định: "Có thể hình dung một viễn ảnh khá rõ ràng là TQ đã thể hiện nhiều dấu hiệu chứng tỏ âm mưu thôn tính vùng đất trù phú của VN, mà vùng đất nầy cũng là cột sống nối liền Bắc Nam. Một khi chiếm lĩnh vùng nầy dù dưới hình thức nào đi nữa, TQ sẽ nắm trọn khả năng khống chế VN". (x. các bài trong tập này)

Vậy không có lý gì chúng ta lại để cho chủ quyền đất nước và lãnh thổ quốc gia mà Dân tộc đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng qua dòng lịch sử chống ngoại xâm, nhất là ngoại xâm phương Bắc, lại mất dễ dàng bằng sự chiếm đoạt không tiếng súng của Trung Cộng nhờ sự đồng lõa hết sức đê hèn, sự bán đứng hết sức bất lương của tập đoàn lãnh đạo CSVN, những kẻ chưa bao giờ có ý thức dân tộc.

Tập 2 này tiếp tục trình bày cho Quý vị và Quý bạn những âm mưu đen tối tại Tây Nguyên vốn đang được che đậy dưới màn kịch "khai thác bauxite" mà Trung Cộng và Việt Cộng đang cùng diễn.

Khối Tự do Dân chủ cho Việt Nam 8406

I- NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT

Cái giá văn hoá-xã hội-chính trị của các đại dự án bô-xít

Nguyên Ngọc 10-12-2008

Nhìn vào câu chuyện dự án bô-xít ở Đắk Nông, vấn đề lớn hơn phải đặt ra là với Tây Nguyên, bảo tồn là chính hay khai phá là chính. Trong trường hợp này, bảo tồn phải là chính và cả nước phải có trách nhiệm đảm bảo cho sự phát triển của Tây Nguyên - nhà văn hóa Nguyên Ngọc đặt vấn đề.

Mất rừng, mất đất, văn hóa làng Tây Nguyên về đâu?

Câu chuyện khai thác bô-xít ở Đắk Nông nói riêng và Tây Nguyên nói chung không phải chỉ là vấn đề môi trường, tự nhiên mà chiều sâu của nó là các vấn đề xã hội, văn hóa và chính trị.

Các nhà khoa học đã cảnh báo về viễn cảnh một vùng Tây Nguyên hoang hóa, cằn cỗi, bị sa mạc hóa với những dự án tham vọng để từ đó cạo sạch rừng, bóc đi lớp đất 1-1,5 mét, moi lên hàng chục mét vỉa quặng trải dài 2/3 diện tích tỉnh Đắk Nông, một tỉnh nằm ở đầu nguồn các con sông quan trọng, ảnh hưởng đến cả một khu vực rộng lớn Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, thậm chí cả Tây Nam bộ và Campuchia.

Cơ quan phụ trách dự án, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam đưa ra kế hoạch hoàn thổ: sau khai thác sẽ lấp đất lại, trồng rừng lên, lập làng lại, khôi phục lại cuộc sống cho dân… Liệu có khả thi khi mưa rừng Tây Nguyên dữ dội, lại ở vùng đất cao trên 700m và dốc đến 25 độ? Đến những hố đào mộ cải táng nhiều khi còn loang lổ không hoàn thổ nổi, huống hồ hàng triệu khối đất sẽ bị xới tung lên.

Và nói đến đất là nói đến thổ nhưỡng, đất bị xới sâu và xới tung lên như vậy, về thổ nhưỡng sẽ có những biến đổi gì? Sẽ là một cuộc cạo sạch vĩnh viễn và khai thác tàn phá có tính tiêu diệt không hơn không kém. Rừng mất, đất cằn!

Người ta quên mất, vấn đề Tây Nguyên mấy chục năm qua chính là vấn đề đất và rừng. Đất ở Tây Nguyên cũng tức là rừng, gắn với đơn vị cơ bản và duy nhất của xã hội Tây Nguyên là làng. Ở đây ý thức về cá nhân chưa phát triển, không có cá nhân độc lập đối với làng, và rừng núi mênh mông đều có chủ rành mạch, cụ thể. Người chủ của đất và rừng chính là các làng, từng làng.

Rừng của làng gồm có: rừng đã biến thành đất thổ cư, rừng để làm rẫy, rừng sinh hoạt (để lấy các vật dụng thiết yếu cho đời sống), và rừng thiêng không ai được xâm phạm. Tất cả các loại rừng đó hợp thành không gian sinh tồn (espace vital), cũng có người như G. Comdominas gọi là không gian xã hội (espace social), của làng. Một làng cần có đủ các loại rừng kể trên thì mới có thể sinh tồn như một không gian xã hội, làm nên tế bào cơ bản của xã hội Tây Nguyên.

Quyền sở hữu tập thể của cộng đồng làng đối với đất và rừng chính là nền tảng kinh tế, vật chất của thực thể cộng đồng làng. Toàn bộ đời sống vật chất, kinh tế, văn hoá, tinh thần, tâm linh, đạo đức của làng, của con người Tây Nguyên tồn tại trên nền tảng này.

Sẽ rối loạn, đổ vỡ tất cả khi nền tảng này bị tổn thương và mất đi.

Ở Tây Nguyên, rừng là cội nguồn của đời sống tâm linh, tức phần sâu xa nhất trong con người và cộng đồng người, mất rừng thì con người và cộng đồng người mất đi cái nền rộng lớn, bền chặt, sâu thẳm nhất của mình, trở nên bơ vơ, “tha hoá”, mất gốc, mất cội nguồn. 

Rừng cũng là cội nguồn của văn hoá. Văn hoá Tây Nguyên là văn hoá rừng, toàn bộ đời sống văn hoá ở đây đều là biểu hiện mối quan hệ khắng khít, máu thịt của con người, cộng đồng người với rừng. Khi không còn rừng thì tất yếu văn hoá sẽ chết. Còn lại chỉ là những cái xác của văn hoá, văn hoá dỏm, giả…

Ấy vậy mà, những dự án đầy tham vọng như khai thác bô-xít Tây Nguyên, đặc biệt tại Đắk Nông, lại đang đặt việc tàn phá rừng, chiếm hữu đất thành nguy cơ nhãn tiền. Trong khi đợi hoàn thổ, làng đã bị tàn phá, thậm chí có thể biến mất. Số phận văn hóa Tây Nguyên và người dân Tây Nguyên sẽ ra sao?

Theo con số do chính cơ quan lãnh đạo tỉnh Đắk Nông đưa ra, tỷ lệ người bản địa trên địa bàn toàn tỉnh nay chỉ còn 3,5%. Liệu có đến một lúc có thể không còn xa lắm cái thiểu số quá nhỏ nhoi này sẽ bị xóa sổ luôn trong công cuộc tiến tới ồ ạt, bằng bất cứ giá nào của chúng ta?

Những nhà rông, nhà dài, cồng chiêng, các loại nhạc cụ độc đáo, các lễ hội…, những thứ được nhắc đến như biểu tượng của văn hóa Tây Nguyên thực ra chỉ là biểu hiện bề mặt của văn hoá Tây Nguyên. Nếu tách những cái đó ra khỏi làng và rừng, mất rừng và mất làng, thì tất cả chỉ còn là những cái xác của văn hoá, những cái xác không có hồn. Mà ai cũng biết, văn hoá là hồn chứ không phải xác. Nên chú ý khi công nhận di sản văn hoá thế giới ở Tây Nguyên, UNESCO đã rất tinh, không phải công nhận cồng chiêng, cũng không phải âm nhạc cồng chiêng, mà là “không gian văn hoá cồng chiêng”, không gian ấy tức là rừng và làng. Với những dự án bô-xít, rừng, làng mất đi, văn hóa Tây Nguyên đặc sắc cũng mất hết, còn gì nữa?!

Viễn cảnh bất ổn xã hội

Từ trước tới nay, ta đã nói về Tây Nguyên khá hời hợt, chung chung. Liệu bao nhiêu người biết trên đất Tây Nguyên có bao nhiêu dân tộc sinh sống? Tầm quan trọng của mỗi dân tộc ra sao? Đặc điểm riêng của mỗi dân tộc là gì?

Về các dân tộc quan trọng ở Tây Nguyên, có thể kể đến dân tộc Bana, tập trung ở phía Đông tỉnh Gia Lai, hay dân tộc Xê đăng nổi tiếng vì truyền thống thượng võ, dân tộc Êđê khá phát triển, 3 dân tộc này hầu hết đều sống trọn vẹn trên đất Việt Nam.

Riêng dân tộc Gia Rai và dân tộc M’Nông, ngoài phần ở Việt Nam, còn bộ phận khá lớn sống ở Cămpuchia. Vậy nên khi khai thác bô-xít ở Đắk Nông, là vùng đất lâu đời của người M’Nông, không chỉ có vấn đề môi trường, mà cả vấn đề dân tộc và chính trị cũng sẽ có tính chất xuyên biên giới. Đây là một khía cạnh quan trọng không thể không chú ý trong mọi toan tính của ta trên vùng đất này.

Thực tế, từ kinh nghiệm của các chương trình công nghiệp khắp Việt Nam, việc di dân là rất khó khăn và phức tạp, đặc biệt đối với vùng dân tộc thiểu số. Những khu tái định cư xây theo lối hiện đại đều bị người dân bỏ đi, và họ lùi vào rừng sâu, ngày càng khốn đốn. Hoặc có ở lại thì cũng sẽ đi làm thuê cho người nơi khác đến ngày càng giàu lên. Sự phân hóa này là rất nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định lâu dài, mất an toàn cho cả chính các nhà máy mà chúng ta đang xây lên rất hùng vĩ.

Ở Tây Nguyên, suốt hơn 30 năm qua, các dự án khu công nghiệp hiện đại, cả lớn và nhỏ, chưa từng có nơi nào thành công trong việc đưa người dân tộc thành công nhân công nghiệp. Con số người dân tộc trở thành công nhân trong các khu công nghiệp chỉ là zêrô.

Như vậy, liệu khi chúng ta làm trên diện rộng, làm ồ ạt với những dự án khai thác bô-xít khổng lồ, chúng ta sẽ đưa người dân đi đâu? Không rừng, không đất, đồng bào M’Nông sẽ sống bằng gì?

Dù là con đường nào, thì về mặt xã hội, đây đều là những vấn đề cực kỳ nguy hiểm. Chúng ta đã có quá nhiều những bài học sâu sắc và đau đớn ở Tây Nguyên trong hơn 30 năm qua.

Có một điều rất đáng chú ý: trong tình chung thời gian qua ở Tây Nguyên, Kontum là tỉnh tương đối ổn định, yên tĩnh hơn cả. Vì sao? Theo tôi, có thể có hai lẽ, một là, đó là nơi người Kinh đến ít nhất, nơi người bản địa còn chiếm tỷ lệ khá lớn trong dân số, khoảng 40-45%, trong khi ở các tỉnh khác chỉ còn vài %. Hai là, Kontum là nơi rừng còn tốt nhất. Nghĩa là, nơi nào rừng còn tốt, người bản địa còn nhiều, thì nơi đó tương đối yên ổn, dù có thể còn những vấn đề khác.

Nhiều nhà khoa học đã cảnh báo, với những dự án bô-xít đang được triển khai, chúng ta sẽ sa mạc hóa Đắk Nông. Tôi xin được nói thêm: với Tây Nguyên, vấn đề môi trường cũng là vấn đề văn hóa - xã hội. Kinh nghiệm của Tây Nguyên cho thấy, chừng nào môi trường còn thì văn hóa - xã hội còn, môi trường bị phá thì, văn hóa - xã hội cũng tan tành. Đó là chưa tính đến yếu tố nước ngoài tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường ở Tây Nguyên một khi họ đã vào sâu trên một vùng đất rất nhạy cảm như Tây Nguyên. Cũng không thể không tính đến khả năng tác động của nhân tố này đến vấn đề dân tộc vốn đã khá phức tạp.

Cả nước phải lo cho Đắk Nông

Trong hội thảo vừa qua ở Gia Nghĩa, đại diện lãnh đạo Đắk Nông trút lời gan ruột: Đắk Nông nghèo, đất xấu hơn hai tỉnh Đắk Lắc, Gia Lai, không cạnh tranh được trong trồng cây công nghiệp. Tỉnh chỉ có hai lợi thế: thủy điện và bô-xít. Nếu không làm, Đảng bộ và chính quyền tỉnh còn có thể làm gì cho dân?

Song cũng có thể đặt câu hỏi một cách khác: liệu làm bô-xít với nhiều nguy cơ đến thế, thì có giải quyết được đời sống cho người dân tại chỗ sẽ phải hứng chịu tác động nhiều và nặng nhất không? Chúng ta sẽ có thể có một tỉnh công nghiệp hiện đại, nhưng là để cho ai?

Đúng là cũng cần hiểu cái khó của lãnh đạo tỉnh Đắk Nông, nhưng những dự án bô-xít Đắk Nông không phải là câu chuyện của riêng địa phương, giải quyết ở tầm địa phương, mà phải là vấn đề giải quyết ở tầm quốc gia. Không thể để cho Đắk Nông tự giải quyết khó khăn một mình. Giữ môi trường Đắk Nông là giữ cho cả một vùng rộng lớn, cho cả nước, vậy cả nước phải lo cho Đắk Nông.

Về cơ bản, cần quyết định tạm dừng các dự án bô-xít ở Đắk Nông lại. Trước mắt, có thể làm thử một mỏ nhỏ, có thể là mỏ "1 tháng 5", hoặc mỏ Gia Nghĩa, có tính cách trình diễn, để theo dõi, quan sát khả năng giải quyết các vấn nạn rất khó: vấn đề đất cho dân, di dời dân, giải quyết bùn đỏ... tới đâu, rồi tính tiếp.

Không thể lấy lý do dự án Nhân Cơ đã chuẩn bị 3 năm nên phải tiếp tục, thay vì phải mất 3 năm cho việc chuẩn bị một dự án khác. Thà mất thêm 3 năm còn hơn chúng ta sẽ phải trả giá mấy trăm năm sau.

Về cái nghèo của Đắk Nông, trung ương và cả nước phải lo cho tỉnh này nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Bởi đổi lại việc dừng các dự án đó, Đắk Nông đã giữ an toàn cho cả khu vực và vùng còn lại, vậy các vùng khác phải có trách nhiệm trả cái giá đó cho địa phương này. Điều này cũng giống như việc buôn bán khối lượng khí CO2 được thải của các nước, hay quy định bán những tầng ảo của các tòa nhà trong khu vực phải bảo tồn...

Đặt vấn đề về các dự án bô-xít ở Đắk Nông là đặt câu hỏi làm hay không làm, chứ không phải là "tìm kiếm giải pháp giảm thiểu tác dụng tiêu cực do khai thác, chế biến quặng bô-xít, sản xuất alumin và luyện nhôm tới kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường ở khu vực Tây Nguyên và Nam Trung Bộ" như tên gọi của Hội thảo hai ngày 22-23/10/2008 vừa qua.

Từ những dự án bô-xít, nhìn rộng ra, chúng ta buộc phải đặt lại vấn đề: với Tây Nguyên, bảo tồn là chính hay khai phá là chính. Ngay khả năng phát triển cây cafe, cao su ở Tây Nguyên cũng không phải là vô hạn, đến một mức độ nào đó sẽ phá rừng và nhất là làm mất nguồn nước ngầm, dẫn đến tình trạng đất đai bị đá ong hóa. Cho đến năm 1997, do nhu cầu tưới cà phê, tầng nước ngầm ở Tây Nguyên đã giảm mất 20m.

Không dừng sớm, chúng ta sẽ để lại cho thế hệ tương lai một cao nguyên đá ong. Phát triển cafe, cao su do đó cũng phải lấy chất lượng làm chính chứ không phải số lượng.

Cũng giống như trong một cuộc chiến, quyết định nổ súng đã khó khăn, nhưng quyết định dừng lại, rút lui, khi đã thấy xuất hiện các dấu hiệu bất lợi, lại càng khó khăn gấp bội, đòi hỏi sự dũng cảm và quyết đoán cao, tỉnh táo, tình thần trách nhiệm của người chỉ huy. Tôi cho rằng, với các dự án bô-xít hiện nay, chúng ta đang ở trong giai đoạn cần quyết định mang tính bước ngoặt, thử thách bản lĩnh người lãnh đạo như vậy.

Theo Tuần Việt Nam

Triển vọng bô-xít Tây Nguyên Tìm hiểu tại chỗ

Nguyễn Trung 07-01-2009

"Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên hiện nay nếu hạch toán đủ, cầm chắc là sẽ lỗ lớn, để lại những hậu quả nghiêm trọng trên nhiều phương diện cho quốc gia, nhất là nước ta đất chật người đông, thiên tai có xu hướng ngày càng gia tăng. Dù khát vọng phát triển nhanh kinh tế đất nước đến đâu chăng nữa, không thể nóng vội và giản lược như cách làm bô-xít theo hai dự án nói trên." (Chuyên gia Nguyễn Trung nhận định về tình hình khai thác bô-xít ở Tây Nguyên sau chuyến đi thực tế).

Trong những ngày từ 17 đến 23-12-2008, tôi cùng với một nhóm anh em quan tâm đến vấn đề bô-xít đã cùng nhau đi 4 tỉnh Kontum, Gia Lai, Đắk Nông và Lâm Đồng để tìm hiểu tại chỗ vấn đề khai thác bô-xít. Chúng tôi đã đến hai nơi dự kiến sẽ là nhà máy chế biến alumina tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (tại Đắk Nông). Cả hai dự án nay do Trung Quốc xây dựng. Trong chuyến đi này chúng tôi đã gặp được lãnh đạo tỉnh, huyện, sở tài nguyên môi trường. Dưới đây là những suy nghĩ của tôi sau chuyến đi này:

Vấn đề nước

Dự án Tân Rai nằm vùng các suối đầu nguồn cung cấp nước cho các sông La Ngà, Đồng Nai, là các nguồn nước chính của thủy điện Hàm Thuận–Đa Mi và hồ Trị An. Dự án Nhân Cơ nằm vùng đầu nguồn suối Đăk R’Tih–nguồn nước chính của các nhà máy thủy điện nằm trên sông Sêprốc. Cả hai dự án alumina này, mỗi dự án cần khoảng 15 - 20 triệu m3 nước/năm, đều chưa có giải pháp thỏa đáng, lấy nước cho việc này thì lại mất hay thiếu nước cho yêu cầu tại chỗ cho dân sinh, trồng trọt và cho thủy điện.

Riêng cho dự án Nhân Cơ, vấn đề thiếu nước còn trầm trọng hơn, đến nỗi có ý kiến đề xuất phải tính đến việc xây dựng hệ thống lấy nước từ sông Đồng Nai dài hàng chục cây số bơm lên độ cao phải đạt là hơn 300m–nghĩa là hoàn toàn phi kinh tế và vì thế không khả thi.

Vấn đề nước bùn

Nước bùn đỏ, được thải ra trong quá trình sơ chế alumina, còn đọng lại một lượng soude caustic đáng kể, có tác dụng ăn mòn và hủy diệt môi sinh. Với địa thế vùng thượng nguồn, dự án Tân Rai có nguy cơ gây ô nhiễm cho thủy điện Đàm Thuận–Đa Mi và hồ Trị An (nguồn nước chính của thủy điện Trị An và tỉnh Đồng Nai). Nước bùn đỏ của dự án Nhân Cơ có nguy cơ gây ô nhiễm các suối hồ trong vùng và nguồn nước cung cấp cho các thủy điện trên suối Đăk R’Tih.

Với công suất mỗi dự án là 300–600 nghìn tấn alumina/năm, ô nhiễm do hàng chục triệu m3 nước bùn đỏ/năm rất nguy hiểm và xử lý rất tốn kém; sự kiện Vedan không thấm tháp gì so với nguy cơ này.

Về hồ chứa bùn đỏ

Trong quá trình sơ chế alumina, bùn đỏ được tách ra từ quặng còn đọng lại một lượng soude caustic có tác dụng ăn mòn và hủy diệt môi sinh nơi chứa nó, có thể làm hỏng các mạch nước ngầm tại lòng hồ và môi sinh của các vùng chung quanh; phương pháp xử lý là phải chôn trong các hồ lớn rồi phủ lên một tầng đất đủ dầy, xong trồng cây lên trên để chống phong hóa. Nhưng đặc điểm tự nhiên của vùng có các hồ chứa bùn đỏ của 2 dự án này là có địa thế cao, gió lớn về mùa khô và mưa nhiều về mùa mưa (thường là gấp đôi lượng mưa trung bình của cả nước). Việc giữ cho hàng triệu tấn bùn đỏ năm này qua năm khác trong các hồ chứa không bị gió bốc bay đi lung tung hoặc không trôi xuống các vùng chung quanh sẽ rất tốn kém và nhiều rủi ro nghiêm trọng.

Chú ý, trong phòng thí nghiệm, tiến bộ công nghệ và khoa học kỹ thuật ngày nay hoàn toàn có khả năng xử lý vấn đề bùn đỏ và nước thải, được ứng dụng thành công phần nào trong thực tế ở quy mô nhỏ; tuy nhiên có hai vấn đề tồn tại lớn nan giải: (a) giá thành, (b) sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nơi có vấn đề phải xử lý. Vì vậy, đến nay chưa một nước nào trên thế giới có thể xử lý có hiệu quả thỏa đáng vấn đề bùn đỏ. Riêng nước Mỹ có tới 26.000 km sông suối bị ô nhiễm do khai thác mỏ chưa có cách gì giải quyết ở mức độ có thể chấp nhận được (Sheran–WME–Australia).

Một số công nghệ hóa học hiện đại nhất hiện nay trên thế giới -ví dụ công nghệ Bauxsol- cũng chưa cho lời giải thỏa mãn, chi phí rất cao, đồng thời phát sinh vấn đề mới. Tại Úc đã có nơi nhà chức trách phải đình chỉ việc thực hiện công nghệ Bauxsol để nghiên cứu thêm (mỏ bô-xít ở địa phương Skytop Mountain. Xem: RedOrit Jan. 20-2006 - Patton Township)...

Vì những lẽ này, và vì nhôm không phải là mặt hàng quý hiếm, nên không quốc gia nào trên thế giới coi bô-xít là khoáng sản chiến lược, không quốc gia nào dám chọn sản xuất nhôm làm chủ bài cho phát triển kinh tế. Cũng vì những lý do ô nhiễm, chỉ có 6% nhôm trên thế giới được sản xuất tại các vùng rừng nhiệt đới nhiều mưa, song thường là những nơi xa và thưa dân cư.

Đáng chú ý, vừa qua phía Trung Quốc và tập đoàn TKV đã tổ chức một đoàn của Lâm Đồng đến tham quan mỏ khai thác bô-xít Bình Quả/Quảng Tây, thủ đô công nghiệp nhôm của Tr. Quốc, nơi quặng có hàm lượng 0,65 (của Tây Nguyên là >0,5). Một phó chủ tịch huyện tham gia đoàn về kể rằng những gì thấy được là tuyệt vời, song chính Bình Quả cũng thừa nhận chưa giải quyết được thỏa đáng vấn đề bùn đỏ.

Sắp tới sẽ có một đoàn như thế nữa cấp các Bộ và Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đi thăm vùng mỏ khai thác bô-xít ở Bình Quả; thiết nghĩ nên đối chứng mỏ này với gần 100 mỏ bô-xít Trung Quốc đã đóng cửa gần đây (trong đó có một số mỏ ở vùng Hắc Long Giang, và các mỏ ở Hà Nam, ở Tịnh Tây / Quảng Tây) và những điều vừa nói trên về công nghệ Bauxsol.

Ngoài ra Tây Nguyên là vùng cao và có gió mạnh, cung đoạn vận tải quặng từ mỏ về nơi tuyển rửa trung bình là 5-10 km, về mùa khô bụi đỏ sẽ tác hại một diện tích lớn rừng và cây trồng ở gần, đồng thời hủy hoại cảnh quan. Xin nhớ đến các vùng “Quảng Ninh đen” năm này qua năm khác toàn một mầu đen vì khai thác than để có thể hình dung tác hại của bụi và bùn đỏ.

Vấn đề năng lượng và vận tải

Chế biến alumina cần một lượng than theo tỷ lệ 1 tấn than/1 tấn alumina. Như vậy, mỗi dự án cần khoảng 300-400 nghìn tấn than/năm trong giai đoạn đầu, gấp đôi trong giai đoạn sau. Lấy từ đâu tới và đi đường nào? Đồng thời cũng phải vận tải một khối lượng như thế alumina từ nhà máy xuống cảng biển.

Vận tải cho than và alumina của dự án Tân Rai dự kiến sẽ sử dụng giao thông đường bộ hiện có và sẽ xây cảng Kê Gà (Bình Thuận). Đường bộ hiện có rất khó cáng đáng thêm yêu cầu vận tải của dự án Tân Rai; cảng Kê Gà nếu được xây riêng cho alumina sẽ có thể tác động xấu đến môi trường du lịch của miền Trung.

Vấn đề vận tải của dự án Nhân Cơ còn nan giải hơn, chưa có phương án dứt khoát (tất cả mới chỉ là dự kiến). Nếu sử dụng đường bộ thì phải đi về hướng Bà Rịa–Vũng Tàu, rất xa và sẽ lâm vào tình trạng tương tự như của Tân Rai, nếu làm đường sắt chuyên dụng Đắk Nông–Bình Thuận thì chuyên gia bên Bộ Giao thông vận tải ước tính cần khoảng 3 tỷ USD (tập đoàn Than & Khoáng sản “TKV” dự trù là 1,3 tỷ USD). Ngoài ra còn phải cộng thêm kinh phí xây dựng cảng Kê Gà do TKV dự toán khoảng 530 triệu USD, sẽ lấy tiền ở đâu?

Hơn thế nữa, xây một hệ thống đường vận tải và cảng như vậy chỉ để chuyên dụng cho sản xuất alumina là sự lãng phí cực kỳ to lớn, không một quốc gia nào dám làm, nhất là nước ta còn nghèo, đất chật, người đông. Hệ thống này, nếu muốn xây dựng, bắt buộc phải được kết hợp với phục vụ các mục đích dân sinh và kinh tế khác, rất tốn kém, quy hoạch và thiết kế đến bao giờ xong–trong khi nhà máy đã khởi công xây dựng?

Về thủy điện để luyện nhôm hoàn toàn không khả thi, vì chỉ để sản xuất 100 nghìn tấn nhôm /năm–tương thích với lượng nhôm nhập khẩu tiêu thụ trong nước một năm - cần một nhà máy thủy điện có công suất là 300 MW, nghĩa là tương đương với nhà máy thủy điện Trị An (gần 400 MW). Như vậy giá thành của nhôm sẽ vọt lên như thế nào? Lấy đâu ra 5 hay 10 nhà máy thủy điện Trị An ở vùng cao nguyên này để sản xuất mỗi năm tối thiểu là 0,5 đến 1 triệu tấn nhôm để có thể tham gia thị trường với tính cách là quốc gia xuất khẩu nhôm? Trong khi đó thị trường nhôm thế giới rất phong phú cho nhu cầu của nước ta, dồi dào, đủ mọi chủng loại.

Vấn đề hoàn thổ

Dự tính diện tích phải hoàn thổ nơi khai mỏ của cả hai dự án lên tới 3000 ha ở giai đoạn I và sẽ lên tới 6000-7000 ha ở giai đoạn hai. Có thể thấy trước: Sẽ rất tốn kém nếu muốn có lại đất đai có thể trồng trọt được, song dù làm được cũng sẽ là những vũng loang lổ khắp rừng núi, mặt bằng chỗ cao chỗ thấp và nói chung là sẽ bị hạ thấp, cảnh quan hoang tàn. Những nơi hoàn thổ cũng cần phải vài chục năm mới có thể trồng trọt được bình thường nếu làm tốt việc cải tạo đất sau khi hoàn thổ, song hầu như chỉ thích hợp cho loại cây họ bạch đàn.

Những điều vừa trình bầy, tôi rút ra từ thu thập thông tin trên thế giới và qua việc đến thăm mỏ khai thác bô-xít Bảo Lộc để sản xuất ra phèn chua trong chuyến đi này. Tại mỏ này cho thấy, sau 30 năm khai thác mới hoàn thổ được khoảng 2 ha trong tổng số 36 ha diện tích đã khai thác. Rất tốn kém, chỉ thấy một loại cây keo tai tượng cao hơn một mét, hỏi được biết trồng các loại cây khác không sống được. Bài học về hoàn thổ trong việc khai thác than ở Quảng Ninh cho đến hôm nay vẫn là một ác mộng.

Vấn đề việc làm và các hệ quả

Tính toán cả hai dự án với khoảng 7000 ha rừng và đất sẽ tạo ra khoảng 3000 việc làm mới bên trong nhà máy và các khu mỏ, đương nhiên chủ yếu là lao động cơ bắp. Các lãnh đạo địa phương cho rằng giỏi lắm sẽ chỉ có vài phần trăm trong tổng số 3000 này là con em các dân tộc ít người, lẽ đơn giản là họ không thích hợp và không muốn loại lao động này. Như vậy vấn đề việc làm cho Tây Nguyên, nhất là cho người lao động của các dân tộc ít người hầu như không giải quyết được, trong khi đó đất và rừng dành cho đồng bào các dân tộc ngày càng thu hẹp vì khai thác bô-xít, đời sống của họ sẽ ngày càng thêm khó khăn.

Thử làm các bài toán kinh tế về mọi phương diện có liên quan đến việc 7000 ha rừng và đất sẽ phải biến mất để nhường chỗ cho khai các mỏ bô-xít và chỉ giúp cho 3000 người có việc làm! Cũng một diện tích như thế lớp đất bồi bề mặt phải hàng triệu năm tự nhiên mới tạo ra được sẽ bị bốc đi để khai thác bô-xít, bao giờ hoàn lại được ?!

Báo chí nói riêng dự án Tân Rai dự kiến tạo ra 16.000 việc làm, có thể là như vậy. Song càng nhiều việc làm ở mỏ đồng nghĩa với càng nhiều lao động thủ công trong khai thác, hệ quả xâm phạm môi trường tự nhiên càng lớn.

Không phải ngẫu nhiên vào những năm 1980 Liên Xô và khối SEV hồi ấy đã khuyên Việt Nam không nên khai thác bô-xít ở vùng này. Về vấn đề đất và rừng vốn nhạy cảm đối với đồng bào các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, phụ họa thêm vào đó là tác động của những yếu kém và bất cập của các chính sách và của bộ máy hành chính. Qua việc khai thác bô-xít, những vấn đề nhạy cảm này sẽ trở nên nghiêm trọng hơn, tích tụ thêm những căng thẳng mới dễ gây mất ổn định–thậm chí có thể rất nguy hiểm, rất thuận lợi cho sự can thiệp từ mọi phía bên ngoài.

Khỏi phải nói những hệ quả về văn hóa, xã hội đối với đồng bào các dân tộc ít người Tây Nguyên sẽ là trầm trọng. Hai dự án sẽ tạo thêm việc làm cho khoảng 10 nghìn người bên ngoài hàng rào khu mỏ và nhà máy; song đấy là những công việc dịch vụ dân sinh, chủ yếu sẽ rơi vào tay người kinh; người các dân tộc ít người hầu như không được lợi gì, mà chỉ có thể bị tác hại thêm do những tệ nạn xã hội sẽ phát sinh.

Có tin nói sẽ có khoảng 1400 - 1500 người Trung Quốc vào xây dựng cho mỗi dự án, số đông là lao động chân tay. Việc quản lý một số lượng đông như vậy tại vùng cao này thật không đơn giản.

Kết luận

1- Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên hiện nay nếu hạch toán đủ, cầm chắc là sẽ lỗ lớn, để lại những hậu quả nghiêm trọng trên nhiều phương diện cho quốc gia, nhất là nước ta đất chật người đông, thiên tai có xu hướng ngày càng gia tăng. Nếu đem nguồn vốn của ta bỏ vào hai dự án này, và nếu có chính sách đầu tư và bộ máy thực hiện tốt, hoàn toàn có khả năng phát triển Tây Nguyên xanh bền vững, tránh được mọi hiểm họa do khai thác bô-xít, tăng thêm giàu có cho đất nước, đem lại hài hòa dân tộc, và an ninh quốc gia được tăng cường.

2- Rất tiếc là hai dự án bô-xít với nhiều hệ lụy nghiêm trọng như vậy lại không được khảo sát với sự cẩn trọng đúng mức, đã thế lại triển khai theo quy trình lộn ngược, bây giờ lâm vào tình trạng “ván đã đóng thuyền”, rất khó cho đất nước. Trong khi đó, nhiều lãnh đạo cấp tỉnh tỏ ra rất phấn khởi, đơn giản là tin rằng mọi chuyện “đã có Trung ương và tập đoàn TKV lo toan và tính toán hết rồi, không có gì phải lo...”, có bô-xít GDP của tỉnh sẽ tăng, có thêm tỷ trọng cơ cấu kinh tế là công nghiệp, có thêm nguồn thu nhập cho ngân sách tỉnh là thuế tài nguyên, ngoài ra có thêm một số nguồn thu nhỏ khác...

3- Dự án alumina Tân Rai có nguy cơ triệt tiêu khả năng Bảo Lộc có thể trở thành một Đà Lạt 2 và tác hại nhiều tiềm năng phong phú khác đang được phát huy của địa phương này.

4- Dự án alumina Nhân Cơ–được lập luận với lý do đất Đắk Nông xấu không thể làm gì khác ngoài bô-xít có lẽ không xác đáng. Thực tế cho thấy đất Đắk Nông chỉ xấu hơn so với các tỉnh Tây Nguyên lân cận, song vẫn là vùng đất giàu, nếu có hệ thống thủy lợi nhỏ giải quyết tốt vấn đề nước. (Một lãnh đạo tỉnh cho rằng nếu Đắk Nông mỗi năm được đầu tư khoảng 30–40 triệu USD riêng cho việc xây dựng hệ thống các hồ nhỏ làm thủy lợi cho rừng và vườn, chỉ trong vòng 5 năm sẽ có một Đắk Nông khác).

5- Công nghiệp bô-xít như đang làm theo 2 dự án này có nguy cơ tác động xấu đến toàn ngành du lịch Việt Nam, hủy hoại nhiều tiềm năng to lớn của Tây Nguyên. Trong khi đó hàng trăm nghìn ha rừng kiệt ở Tây Nguyên nằm chờ các chính sách và thể chế đúng đủ sức hấp dẫn sự đầu tư mang lại một Tây Nguyên xanh giàu có cho chính mình và cho cả nước.

6- Hiện nay các nước phát triển trên thế giới tìm mọi đường phát triển “kinh tế các-bon thấp”, kinh tế tri thức, họ đạt được nhiều thành tựu kinh ngạc. Một số nước đang phát triển đang vận dụng có hiệu quả kinh nhiệm này. Là nước đi sau, vì sao Việt Nam cứ phải ngày càng đi sâu mãi vào công nghiệp thượng nguồn, hiện nay là các dự án đồ sộ về quặng sắt và thép, rồi đây thêm quặng sơ chế alumina hầu như chỉ bán được cho một người mua.., tất cả chẳng lẽ chỉ để kéo dài thêm nữa sự tụt hậu của mình?

7- Mọi hệ quả kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường sẽ xảy ra trong quá trình thực hiện hai dự án này ở vùng nhạy cảm Tây Nguyên sẽ tăng thêm nguy cơ uy hiếp an ninh và sự ổn định chính trị của Tây Nguyên, mà cũng có nghĩa là của cả nước.

Qua tìm hiểu sơ bộ trong chuyến đi Tây Nguyên, riêng tôi càng thấm thía: Dù khát vọng phát triển nhanh kinh tế đất nước đến đâu chăng nữa, không thể nóng vội và giản lược như cách làm bô-xít theo hai dự án nói trên. Tôi nghĩ cách làm như thế là nóng vội, chỉ chứa đựng rủi ro và cầm chắc thất bại lâu dài cho cả nước. Cơm không ăn, gạo còn đó, không vội gì phải phá rừng núi ngay bây giờ để lấy đi tài nguyên không tái tạo được với những cái giá phải trả rất đắt, khả năng xử lý các hệ quả lại ngoài tầm với.

Một khi nước ta có kết cấu hạ tầng và năng lực quản trị quốc gia tốt hơn, giá trị mọi tài nguyên sẽ càng tăng lên gấp bội; trong khi đó triển vọng phát triển Tây Nguyên xanh và bền vững trong tầm tay, biết bao nhiêu lợi thế nước đi sau cho phép nước ta đi lên một quốc gia phát triển hiện đại không được khai thác. Đương nhiên, con đường phát huy lợi thế nước đi sau và phát triển bền vững để sớm trở thành quốc gia hiện đại đòi hỏi sự nỗ lực nghiêm túc và nghiêm khắc hơn nhiều lần về mọi phương diện đối với con người và bộ máy làm việc trong hệ thống chính trị của nước ta. Đây chính là cái đất nước đang cần, cái đất nước đang thiếu.

Suy nghĩ về Dự án Bauxite Tây Nguyên

Tiến sĩ Tô Văn Trường 17-02-2009

(Chúng tôi xin phép bỏ một đoạn mở đầu và một đoạn cuối. BBT)

Đối với bất kỳ một quốc gia nào, tăng trưởng kinh tế bền vững phải luôn gắn với quá trình xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội được cân nhắc dựa trên một tư duy hợp lý và hợp lòng dân. Chiến lược ấy sẽ là cơ sở quan trọng cho lập quy hoạch phát triển và kế hoạch thực hiện theo từng giai đoạn trước mắt và lâu dài, phù hợp với yêu cầu thực tế của từng thời kỳ.

Các yếu tố giúp cho tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào nguồn vốn đầu tư, khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên và năng suất tổng hợp. Cả ba yếu tố này đều có giới hạn của nó, giới hạn về khối lượng, giới hạn về quá trình tự nhiên và giới hạn về khoa học công nghệ. Kinh nghiệm của các nước tiên tiến, muốn khai thác tài nguyên một cách khôn ngoan, sử dụng nguồn vốn một cách hiệu quả và đạt mục tiêu một cách tối đa thì khi xây dựng chiến lược phát triển phải có nguồn nhân lực tương xứng, đủ tâm và đủ tầm, đặc biệt cần coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội.

Quá trình thực thi nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế xã hội của đất nước là một chuỗi các hoạt động và triển khai liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều ngành và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mọi tầng lớp trong xã hội. Vì thế, phản biện là trách nhiệm của cả cộng đồng của mọi người dân, trong đó vai trò của các nhà khoa học, các vị đại biểu cho dân trong các tổ chức chính trị là rất quan trọng. Phản biện khoa học và ngay cả phản biện xã hội không phải là bài toán đơn giản cấp số cộng mà là sự đúc kết tinh hoa và kinh nghiệm thực tiễn của cả cộng đồng, có nghĩa là nó vừa mang tính thực tiễn vừa mang tính khoa học. Tuy nhiên, để đạt được sự nhất trí và đồng thuận cao giữa người thực thi nhiệm vụ nhà nước và người phản biện dù là khoa học kỹ thuật hay xã hội đều mang tính trách nhiệm rất cao.

Một nhà khoa học người nước ngoài đưa ra hình ảnh xây dựng một tòa nhà, có những người lấy làm tự hài lòng, khi nắm trong tay ít dụng cụ là họ đào xới để mang lên những khối dị kỳ, chồng chất các khối này lên nhau dưới mắt của các công nhân cùng nghề, và có vẻ như không cần biết các khối ấy có thích hợp ở đây hay không. Cũng có những người khác, dò xét một cách kỹ lưỡng cho đến lúc một nhóm thợ siêng năng, đào lên một khối có tính chất trang trí đặc thù. Họ lắp khối ấy vào một vị trí với niềm thích thú, và cúi đầu chào đám đông. Vài nhóm thợ chẳng đào xới gì cả, mà chỉ lo tranh cãi với nhau về cách sắp xếp một gờ tường hoặc một trụ chống. Một số người cả ngày chỉ cố kéo xuống một hoặc hai khối mà nhóm đối địch đã đặt lên. Một số khác thì không đào xới mà cũng không tranh cãi nhưng nghe theo lời đám đông, cào chỗ này và xóa chỗ kia, rồi đứng ngắm cảnh. Một số người ngồi mà cho ý kiến, và một số khác chỉ ngồi yên một chỗ. Cũng có những người lớn tuổi đã trải qua tháng ngày lao động cật lực, đôi mắt đã mờ nên không trông rõ những chi tiết của nhịp uốn hoặc hoa văn đá đỉnh vòm, nhưng là những người đã xây nên một bức tường ở đây, một bức tường khác ở kia, và đã sống một thời gian dài trong tòa nhà. Họ là những người đã thấu hiểu để yêu mến tòa nhà và nắm bắt được đề xuất về ý nghĩa chung cục, bây giờ ngồi trong bóng râm mà động viên lớp người trẻ. Rồi cuối cùng, có những người tìm cách thuyết minh về tòa nhà, nói về lịch sử, ý nghĩa và vẻ đẹp của tòa nhà, tất cả đều đóng một vai trò trong việc hoàn thành tốt đẹp dự án.

Theo cả nghĩa đen và bóng, trong cuộc sống chúng ta thường gặp rất nhiều mâu thuẫn và nghịch lý mà ngay cả công tác phản biện đôi khi cũng nằm trong vòng xoay của nghịch lý. Vấn đề là cái nghịch lý đó diễn ra theo chiều nào, hướng cái thiện, cái đẹp, cái đúng về đâu. Lý luận hình như đúng để chứng minh một điều mà ai cũng biết là sai hay “Lý luận hình như sai để chứng minh một điều mà ai cũng biết là đúng”. Đấy chính là cái ranh giới rất khó vượt qua và khó thông cảm giữa người phản biện và người “được phản biện” nếu không lấy cái thiện ý, xây dựng làm đầu. Sở dĩ tôi phải “mào đầu” hơi dài như vậy để thấy rằng dự án khai thác bauxite Tây Nguyên cũng không nằm ngoài quy luật nói trên.

Tháng 11-2007, tôi cùng GSTS Võ Tòng Xuân và Tổng giám đốc Công ty Tư vấn Đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC) Đặng Minh Sơn đến Mange Bureh, huyện Port Loko thuộc Sierra Leone giúp nước bạn thực hiện thí điểm chương trình an ninh lương thực quốc gia. Tôi được nghe đến “bauxite” qua câu chuyện kể của quan chức và người dân địa phương về Trung Quốc đang giúp các nước Tây Phi khai thác bauxite.

Theo các tài liệu khoa học, bauxite là khoáng chất bao gồm Al(OH)3, boehmite y-AlO(OH) và diaspore-AlO(OH) gộp chung với sắt và một phần nhỏ anatase TiO2. Từ bauxite, người ta có thể tách alumina là nguyên liệu chính để luyện nhôm. Trữ lượng quặng bauxite trên thế giới có thể khai thác 30 tỷ tấn. Bauxite ở nước ta có 2 loại chủ yếu (1) bauxite có nguồn gốc trầm tích phân bố tập trung ở miền Bắc và (2) bauxite có nguồn gốc phong hóa laterite từ đá bazan tập trung ở Tây Nguyên và miền đông Nam bộ. Trữ lượng bauxite của Việt Nam được đánh giá khoảng 2,4 tỷ tấn quặng tinh, tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên (91,4%). Trong đó, Đắk Nông 1,44 tỷ tấn chiếm khoảng 2/3 trữ lượng của cả nước, Lâm Đồng 0,463 tỷ tấn, Gia Lai-Kon Tum 0,285 tỷ tấn.

Toàn tỉnh Đắk Nông có 13 mỏ bauxite với tổng trữ lượng quặng nguyên khai khoảng 3,4 tỷ tấn, gồm: Tuy Đức (0,536 tỷ tấn), Đak Song (0,112 tỷ tấn), Bù Bông (0,460 tỷ tấn), Đak Rụng (0,222 tỷ tấn), Quảng Tân (0,115 tỷ tấn), Đak Tôn (0,168 tỷ tấn), Đạo Nghĩa (0,391 tỷ tấn), Nhân Cơ (0,043 tỷ tấn), Gia Nghĩa (0,334 tỷ tấn), Đak Tik (0,086 tỷ tấn), Bắc Gia Nghĩa (0,309 tỷ tấn), “1-5” (0,284 tỷ tấn), Quảng Sơn (0,362 tỷ tấn). Chính vì vậy, Đắk Nông đã xác định ngành công nghiệp bauxite/nhôm sẽ là ngành mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Một điểm cần chú ý ở đây là hầu hết các mỏ quặng này chủ yếu nằm ở khu vực thuộc lưu vực sông Đồng Nai. Điều này có nghĩa là việc sử dụng nước trong khai thác quặng cũng như các tác động của việc khai thác quặng đến chất lượng nước có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của hệ thống sông Đ. Nai.

Theo “Phê duyệt Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025” (Quyết định 167/2007/QĐ-TTg), giai đoạn 2007-2015, Đắk Nông dự kiến hình thành bốn tổ hợp công nghiệp bô-xít/nhôm gồm:
1. Nhà máy alumin Đắk Nông 1 (Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ làm chủ đầu tư, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam chi phối): công suất nhà máy 0,3 triệu tấn/năm có xem xét mở rộng nâng công suất lên 0,6 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Nhân Cơ và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy tại khu vực Nhân Cơ, tỉnh Đắk Nông;

2. Dự án alumin Đắk Nông 2: công suất nhà máy alumin 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ “1/5” và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

3. Nhà máy alumin Đắk Nông 3: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Gia Nghĩa và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông;

4. Nhà máy alumin Đắk Nông 4: công suất nhà máy 1,5 - 2,0 triệu tấn/năm. Nguồn quặng bauxite khai thác từ mỏ Tuy Đức, Đắk Song và các mỏ lân cận. Địa điểm nhà máy đặt tại Đắk Nông.

Như vậy, tổng công suất sản xuất alumin trong giai đoạn 2007-2015 khoảng 6,6 triệu tấn, tương đương với tổng công suất khai thác quặng thô lên tới 50 - 90 triệu tấn bauxite/năm. Theo kế hoạch, trong những năm tới, Đắk Nông sẽ trở thành một “đại công trường” của ngành công nghiệp bauxite với diện tích khai thác quặng lên đến hàng trăm km2 rải khắp địa bàn 5/8 huyện. Đến giai đoạn 2016-2025, khi mở rộng quy mô các nhà máy này thì tổng công suất ước đạt 13,2 triệu tấn Alumin (ước khoảng 100-130 triệu tấn bauxite nguyên khai/năm). Hiện nay đã có 5 tập đoàn lớn đầu tư vốn vào dự án, gồm Chalco (Trung Quốc), BHP (Australia), Alcoal (Mỹ), Rusal (Nga) và Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV).

Xét về mặt nhu cầu sử dụng nước, theo ước tính sơ bộ để sản xuất 1 tấn alumin thì cần khoảng 60m3 nước phục vụ cho việc rửa quặng và các công việc khác trong chế biến alumin thì tổng nhu cầu nước trong giai đoạn 2007-2015 ước khoảng 396 triệu m3/năm, trong giai đoạn 2016-2025 ước khoảng 792 triệu m3/năm. Nếu so sánh nhu cầu và tiềm năng nguồn nước trên địa bàn, tính theo lý thuyết về số lượng có đủ khả năng đáp ứng. Tuy nhiên, do sự phân bố lượng mưa không đồng đều theo không gian và thời gian, nên muốn chủ động được nguồn nước phục vụ cho khai thác bauxite, phải nghĩ đến biện pháp đầu tư xây dựng hệ thống các hồ chứa nhằm cân đối lại nguồn nước. Ngoài ra, do việc khai thác sử dụng nguồn nước này không được đề cập đến trong các nghiên cứu trước đây trong phân bổ, cân bằng nguồn nước toàn bộ hệ thống lưu vực sông, đặc biệt là vùng hạ lưu. Do đó, khi khai thác nguồn nước có quy mô lớn trên địa bàn này cần phải nghiên cứu xem xét lại cân bằng toàn bộ hệ thống lưu vực sông Đồng Nai nhằm xem xét đánh giá lại việc sử dụng nước của hệ thống.

Xin lưu ý, vấn đề không chỉ dừng lại ở số lượng nước cung cấp mà đặc biệt quan trọng là chất lượng nước do tác động của việc khai thác quặng bauxite. Theo quy trình khai thác quặng bauxite thì một lượng lớn các chất thải độc hại thải ra môi trường. Nếu lượng chất thải này không được xử lý một cách triệt để thì việc ô nhiễm nguồn nước ảnh hưởng rất lớn đến hạ lưu của lưu vực sông Đồng Nai. Khi đó, khái niệm về số lượng nước không còn ý nghĩa vì nguồn nước không còn sử dụng được nữa. Dưới đây, chỉ là những đánh giá sơ bộ có thể nhận biết được nhờ kinh nghiệm và các thông tin tư liệu sẵn có. Để đánh giá có tính định lượng cần tiếp tục nghiên cứu một cách bài bản, đầy đủ và khoa học hơn.

Các mặt tích cực và tiêu cực đối với vấn đề khai thác quặng bauxite.

Bất kỳ một hoạt động phát triển nào của con người tác động vào tự nhiên cũng đều đưa đến 2 mặt lợi và hại. Vấn đề đặt ra là làm sao khai thác mặt có lợi được lớn nhất và hạn chế mặt tiêu cực đến thấp nhất.

Để đất nước duy trì tốc độ phát triển kinh tế, việc thu hút các nguồn vốn đầu tư kể cả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có vai trò rất quan trọng. Theo dự báo do khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu nên năm 2009 nguồn FDI sẽ bị giảm nhưng ít ai ngờ ngay tháng đầu năm 2009 chỉ đạt 200 triệu đôla, giảm 8,5 lần so với cùng thời kỳ năm 2008, chỉ bằng 18% so với mức vốn FDI đổ vào Việt Nam tháng 12-2008. Việt Nam có 3 loại khoáng sản lớn là dầu thô, than và bauxite, trong đó, bauxite vẫn chủ yếu ở dạng tiềm năng. Nếu khai thác bauxite ở Tây Nguyên sẽ có những tác động tích cực giúp chúng ta chế biến nhôm kim loại phục vụ cho phát triển công nghiệp, tăng thêm nguồn thu nhập cho đất nước, tạo điều kiện để phát triển các ngành liên quan như ngành cơ khí chế tạo, sửa chữa và bảo dưỡng, phát triển điện, phát triển giao thông vv... Tuy nhiên, bên cạnh những mặt có lợi, nguy cơ tiềm ẩn có thể được khái quát như sau:

Để sản xuất nhôm phải qua ba công đoạn: Khai thác mỏ bauxite, tinh lọc bauxite thành ô xit nhôm (Alumina AlO3), rồi nấu chảy ô xít nhôm thành nhôm. Quá trình để hình thành 1 tấn nhôm, cần có 2 tấn alumina, 4 tấn quặng và thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ (red mud) chứa nhiều chất độc hại. Ngay các nước có nền công nghiệp tiến tiến và kinh nghiệm khai thác bauxite như Mỹ, Nhật, Nga, Úc, Nam Mỹ cũng chỉ biết xử lý bùn đỏ bằng cách chôn lấp.

1. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường không khí:

Trong quá trình khai thác một khối lượng lớn, các khí thải do quá trình đốt cháy nhiên liệu từ các động cơ của các thiết bị máy móc, từ nổ mìn khai thác quặng gây ra. Thành phần chính của các khí thải này gồm SO2, NO2,... Các loại khí này có khả năng kết hợp với hơi nước tạo ra các hạt mù axit hoặc hòa tan vào nước mưa làm giảm độ pH của nước, khi rơi xuống đất sẽ làm gia tăng khả năng hòa tan các kim loại trong đất, làm chai đất, phá hủy rễ cây, hạn chế khả năng đâm chồi, giảm năng suất cây trồng. Các khí này còn có khả năng gây kích ứng niêm mạc phổi, gây loét phế quản. Bên cạnh đó, một lượng bụi lớn thải ra môi trường không khí trong quá trình khai thác quặng. Đây là các loại khoáng vô cơ kim loại, silic, bụi plastic gây ra các loại bụi phổi ở động vật, lắng động trên lá cây làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm giảm năng suất cây trồng. Ngoài ra, quá trình khai thác gây ra tiếng ồn và chúng thường gây nên các bệnh nghề nghiệp đối với công nhân có thời gian tiếp xúc dài trên 3 tháng về thính giác. Khi tiếng ồn vượt quá giới hạn cho phép nhiều lần có thể ảnh hưởng rất lớn đến hệ thần kinh, gây mất thăng bằng, chóng mặt.

2. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường nước:

Ảnh hưởng đến chế độ thủy văn: Một điều có thể thấy rõ là, khi khai thác quặng một diện tích lớn bề mặt bị khai thác làm thay đổi hẳn chế độ thảm thực vật ở bề mặt, độ dốc. Từ đó, sẽ dẫn đến chế độ thủy văn dòng chảy ở khu vực bị thay đổi theo hướng bất lợi như lũ sẽ sinh ra nhanh hơn dễ tạo ra lũ quét, nguy hiểm hơn, còn chế độ dòng chảy mùa khô lại ngày càng kiệt hơn.

Về số lượng: Trong quá trình khai thác, một lượng nước lớn sẽ được sử dụng. Việc khai thác sử dụng một lượng nước lớn này ảnh hưởng đến việc khai thác sử dụng của các hộ dùng nước khác. Ngoài ra, như đã nêu ở trên, việc sử dụng nước cho khai thác quặng bauxite không được tính toán cân bằng trong tất cả các nghiên cứu trước đây đối với lưu vực sông Đồng Nai do có quan niệm loại bỏ khả năng khai thác quặng bauxite khu vực này do tác động xấu gây ra từ nó đối với nguồn nước. Do vậy, khi đề cập đến việc sử dụng nước để khai thác bauxite cần phải cân bằng lại nguồn nước trên toàn lưu vực nhằm điều hòa, điều chỉnh nhu cầu của các hộ dùng nước liên quan (công nghiệp, nông nghiệp, thủy sản, dân sinh, dòng chảy môi trường…) vì nguồn nước ở đây có tác động trực tiếp đến các hộ dùng nước ở phía hạ lưu.

Về chất lượng: Theo đánh giá của nhiều nghiên cứu, những nguồn có thể gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước mặt trong quá trình khai thác quặng bauxite chính là lượng nước chảy tràn từ các khu vực có hồ bùn đỏ, hồ oxalat và hồ chứa bùn thải từ công tác tuyển quặng. Bên cạnh đó, lượng chất thải, nước thải từ các hoạt động sinh hoạt của một lượng lớn công nhân thực hiện trên các công trường. Ngoài ra, việc khai thác bauxite, tác động của bãi thải còn ảnh hưởng lớn và lâu dài đến chất lượng nước ngầm do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng kiềm sút lớn và các chất độc hại.

Cần hiểu rằng trong các chất thải, thì chất thải độc hại là đáng sợ nhất. Ta chưa hiểu rõ hết được tác động về lâu dài và tương tác lẫn nhau. Đặc tính “lâu dài” thì ai cũng hiểu nhưng khó lường trước cho xác thực, làm sao ta biết chất thải từ bùn đỏ và quặng thải sẽ gây tác hại, và tác hại bao lâu? 20 năm hay 50 năm? Đặc tính “tương tác” thì càng mù mờ hơn nữa. Nếu lấy một mẫu nước thử nghiệm, ta thấy mỗi chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì đừng vội mừng. Có dăm bảy chất độc hại đều nằm dưới tiêu chuẩn cho phép thì còn tạm chấp nhận được. Có đến vài chục chất độc hại, mỗi chất tuy nằm dưới tiêu chuẩn cho phép nhưng lại tương tác với nhau gây hiệu ứng độc hại như thế nào thì ta không thể lường trước được. Ví dụ về sự tương tác, theo tiêu chuẩn thì chất A chỉ gây hại từ mức 1 mg/L trở lên, và chất B cũng thế. Như vậy, nếu một mẫu nước chứa 0,5 mg/L chất A và 0,5 mg/L chất B thì là vô hại chăng? Chưa chắc! Tiêu chuẩn trên chỉ xét từng trường hợp đơn lẻ của chất A và chất B chứ không tính đến sự hiện diện của cả hai chất. Khi hiện diện cùng nhau thì mức gây hại của một chất đặc thù có thể bắt đầu sớm hơn, ở hàm lượng nhỏ hơn.

3. Nguy cơ ảnh hưởng đến môi trường đất và cảnh quan:

Vấn đề quan trọng là dự án sẽ làm xáo trộn lớp đất mặt, dẫn đến xói mòn, chuyển tải và bồi lắng phù sa. Nếu khai thác bauxite trên diện rộng mà không tái tạo lớp đất mặt ngay thì hậu quả sẽ lan ra trên diện rộng đến các con sông và lưu vực liên quan. Xin lưu ý, khả năng phục hồi hoàn thổ ở những vùng đất sau khi khai thác quặng ở Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn do chịu nhiều tác động của mưa, lũ, địa hình đồi núi, và tác động của bùn đỏ.

Việc khai thác quặng cần chiếm dụng một diện tích lớn, do đó liên quan đến việc đền bù, giải tỏa. Việc khai thác quặng sẽ làm thay đổi cảnh quan nơi khai thác. Ngoài ra, việc khai thác cũng ảnh hưởng đến chất lượng đất. Nước thải và bùn thải trong khâu khai thác và tuyển quặng là khá lớn. Vấn đề ô nhiễm chính là của các bãi thải này là lượng nước bị chảy tràn trên bề mặt bãi thải kéo theo nhiều cặn sẽ làm ô nhiễm khu vực hạ lưu. Ngoài ra, vấn đề tác động bãi thải đến chất lượng nước ngầm do thấm vào nguồn nước này.

Một trong những vấn đề chính đối với việc khai thác quặng đó chính là phế thải bùn đỏ. Tác động môi trường lớn nhất của bùn đỏ là chiếm dụng diện tích lớn để làm bãi thải bùn. Hơn nữa, do kích thước của hạt bùn đỏ rất mịn (<0,05mm), độ kiềm cao, hàm lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng cực thấp nên cây cối, thậm chí cỏ dại cũng rất khó sống nổi trên những bãi thải bùn đỏ đã ngừng hoạt động. Ngoài ra, do pha lỏng của bùn đỏ luôn chứa một lượng lớn kiềm vì thế có thể gây ô nhiễm đất và nguồn nước ngầm ở khu vực xung quanh bãi thải.

Việc lưu giữ một khối lượng khổng lồ bùn đỏ trên thượng nguồn sông Đồng Nai sẽ là một nguy cơ lớn bởi đây là vấn đề ngay cả trên thế giới cũng chưa có công nghệ nào xử lý được. Và sẽ là càng nguy hiểm khi sự cố xảy ra thì không chỉ ảnh hưởng ở vùng hạ lưu của khu vực khai khoáng mà nó sẽ ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ vùng hạ lưu. Có nhà khoa học từng ví, bùn đỏ giống như “bom bẩn” treo lơ lửng trên đầu. Theo ước tính, để có được 1 tấn alumin thì thải ra môi trường 3 tấn bùn đỏ. Như vậy cứ mỗi năm trong giai đoạn 2007-2015 thực hiện theo quy hoạch phê duyệt thải môi trường là 6,6 triệu tấn x 3 tức khoảng 20 triệu tấn bùn đỏ. Quả là con số khổng lồ. Ngoài ra, bùn đỏ có liên quan đến các hoá chất như kiềm sút và có ảnh hưởng đến môi trường, nhất là mạch nước ngầm trong khu vực.

4. Nguy cơ cho tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái:

Việc khai thác quặng sẽ ảnh hưởng đến tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái trên cạn cũng như tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái dưới nước. Tây Nguyên, có diện tích rừng phong phú, bao phủ vào loại lớn nhất ở nước ta, đóng vai trò quan trọng về điều hòa khí hậu bảo vệ môi trường sinh thái. Việc khai thác bauxite sẽ tác động lớn đến hệ sinh thái rừng Tây Nguyên.

5. Tác động về môi trường văn hoá:

Đây là một trong những vấn đề phức tạp, nhạy cảm đặc biệt là đối với khu vực này. Đắk Nông là một phần của địa bàn Tây Nguyên nơi nhiều đồng bào dân tộc sinh sống và phát triển. Bản thân của người dân ở đây là sống theo hình thức du canh, du cư, sống dựa vào nông nghiệp với tập quán, tập tục từ lâu đời nay. Cuộc sống của họ gắn với đất đai nơi họ sinh sống. Việc khai thác quặng, buộc họ phải di dời. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thay đổi môi trường sống của một bộ phận dân cư, thay đổi sinh kế của người dân, đặc biệt là một bộ phận khá lớn đồng bào dân tộc sống phụ thuộc vào rừng, thay đổi hoạt động sản xuất của họ do mất đất chuyển sang nghề khác, thay đổi văn hóa cộng đồng của họ. Bên cạnh đó, cũng có nguy cơ làm mất đi một số di sản văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh, gắn với bản sắc văn hóa của cộng đồng các dân tộc bản địa, ảnh hưởng đến mối quan hệ của con người với thiên nhiên. Đây là nét văn hóa quan trọng trong cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số bởi họ luôn có niềm tin vào các thần rừng, thần núi, thần sông nơi họ đang sống. Vì thế, cho dù chúng ta thực hiện tái định cư sau khai khoáng, san lấp lại mặt bằng đưa họ về vùng đất cũ thì các giá trị cũng như niềm tin cũng mất đi ít nhiều, nếu không cẩn thận sẽ mất đi vĩnh viễn.

Việc khai khoáng bauxite cũng sẽ có những ảnh hưởng xấu tới an toàn sinh kế của người dân, làm thay đổi trật tự cuộc sống của họ. Quá trình tái định cư trong khai khoáng sẽ có ít nhiều ảnh hưởng đến quá trình phân hoá xã hội trong cộng đồng các dân tộc thiểu số. Những ngôi nhà được xây dựng từ tiền đền bù sẽ thay đổi hình dáng so với ngôi nhà truyền thống, cấu trúc cộng đồng từ đó cũng bị thay đổi. Các vấn đề về môi trường chúng ta có thể lấy lại, chúng ta có thể đền bù nhưng vấn đề về văn hoá, xã hội, một khi đã ra đi thì rất khó trở về.

Rõ ràng, yếu tố văn hoá vô cùng quan trọng và hết sức phức tạp, nó có thể mất đi một cách rất chậm, và có thể người ta không thể nhận thức ngay được. Vấn đề của chúng ta là phải gìn giữ được bản sắc văn hoá, các giá trị truyền thống xuyên suốt quá trình khai khoáng. Vấn đề này cần phải được nghiên cứu, xem xét đánh giá một cách đầy đủ để từ đó có những giải pháp thích hợp.

6. Tác động đối vớimôi trường xã hội:

Thực tế về tác động của ngành công nghiệp khai khoáng đối với vấn đề xã hội ở Việt Nam thời gian qua đã diễn ra hết sức phức tạp. Ví dụ điển hình là tình trạng than thổ phỉ ở Quảng Ninh, gây xáo trộn đời sống, xã hội. Về vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân bản địa tham gia vào các hoạt động khai khoáng liệu có khả thi? Muốn được làm việc tại các nhà máy, công trường thì người dân bản địa phải có trình độ nhất định và phải trải qua đào tạo chuyên ngành. Như vậy, vấn đề tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương không phải là vấn đề riêng của UBND và các ban ngành tỉnh Đắk Nông, mà còn là vấn đề của các nhà đầu tư. Các nhà đầu tư cần phải có trách nhiệm, cam kết và lộ trình đào tạo người dân khi có nhu cầu. Các xung đột xã hội trong quá trình khai khoáng có thể tiềm ẩn ở nhiều mức độ khác nhau giữa người dân địa phương và người nhập cư; giữa người dân với các công ty đầu tư, giữa người dân địa phương với nhau và cuối cùng nếu các nguy cơ trên đây không được giải quyết kịp thời có thể dẫn đến xung đột giữa người dân địa phương với chính quyền địa phương.

Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi giải phóng mặt bằng khai thác bauxite là việc tái định cư, đền bù đất đai. Đây là khó khăn nhức nhối nhất đối với các địa phương, nhất là đối với vùng rất nhạy cảm về chính trị xã hội như Tây Nguyên. Việc xử lý như thế nào đối với vấn đề sử dụng đất, sao cho có hiệu quả, nếu không sẽ có thể có những ảnh hưởng đến chính trị không chỉ tại địa bàn tỉnh và cả khu vực Tây Nguyên.

Nhiều luận cứ đưa ra về việc phát triển kinh tế - xã hội, bỏ quên một điểm cốt lõi: dự án phát triển có thể mang lại tác hại cho một bộ phận xã hội, một cộng đồng mà họ không được hưởng lợi gì từ dự án, lại hoàn toàn không được đền bù. Nông dân mất đất có tiền đền bù đã đành, nhưng tiền đền bù này có giúp họ mua được ở nơi khác, mảnh đất với diện tích và độ mầu mỡ tương đương hay không? Đa phần là không. Còn đất là còn cách kiếm sống tuy nhọc nhằn, tuy không sang giàu, nhưng chấp nhận được. Không còn đất, họ không thể chuyển nghề có hiệu quả, rồi dần dà tiền đền bù tiêu xài hết, họ và đám con cháu sẽ sống bằng cách nào? Rồi những sông rạch bị ô nhiễm đến nỗi không ai dám dùng nước, ruộng rẫy bị ô nhiễm, năng suất tụt giảm, thì chưa hề có tiền lệ để đền bù cho người dân Việt Nam.

7. Ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng:

Có lẽ vì lý do “tế nhị” nào đó, nên rất ít người đề cập đến yếu tố người nước ngoài ở Tây Nguyên. Đầu năm 1975, Bộ Chính trị khi bàn về phương án giải phóng Miền Nam đã có chủ trương rất sáng suốt, đại ý “Ai chiếm được Tây Nguyên, người ấy sẽ làm chủ được miền Nam”. Nhờ đó, mới có trận đánh mở màn Buôn Mê Thuật làm khâu đột phá buộc địch phải tháo chạy khỏi Tây Nguyên, quân ta thừa thắng, thần tốc, tổng tiến công giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước. Ngay nay, không hiểu ai tham mưu cho những người có trách nhiệm quản lý đất nước lại có chủ trương “mở cửa” để người nước ngoài, nhất là người Trung Quốc nổi tiếng với công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường đến khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Tây Nguyên với các hệ lụy khôn lường! Ngay cả việc tiêu thụ sản phẩm bauxite chủ yếu là xuất khẩu sang TQ, gặp trường hợp không vừa lòng vì lý do nào đó, chỉ cần bạn “hắt hơi, xổ mũi” cũng đưa ta vào thế “tiến thoái, lưỡng nan”!

Người dân Việt Nam, từ tâm khảm luôn trân trọng giá trị của tình hữu nghị, biết ơn sự giúp đỡ chí tình, hiệu quả của nhân dân Trung Quốc trong những năm tháng gian khó của cuộc chiến tranh thống nhất đất nước cũng như khi xây dựng tổ quốc. Nhưng người dân Việt Nam cũng khó quên vào lúc 5g25’ sáng ngày 17-2-1979, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam từ Phong Thổ (Lai Châu) đến Móng Cái. Cuộc chiến xảy ra dù với bất cứ lý do nào cũng thật tàn khốc, nhiều hy sinh, mất mát. Mới đây, tôi nhận được thư của người bạn được tham dự khóa học bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh ở Quân khu I, kể lại: “Lạ một điều là từ đại tá chính ủy nhà trường đến đồng chí thượng tá giảng viên mà cũng phủ nhận hồi năm 1979 mình với Trung Quốc đánh nhau mà chỉ cho là “xung đột võ trang”. Điều trớ trêu là khi có đoàn đại biểu Trung Quốc đến thăm nhà trường thì phải cất hết những hiện vật truyền thống về cuộc chiến 1979 ở nhà truyền thống đi”!? Theo tôi, quá khứ, rất cần khép lại để thêm bạn, bớt thù nhưng sự thật lịch sử không được phép làm “méo mó” hoặc cố tính né tránh.

Những năm gần đây, Trung Quốc đẩy mạnh đầu tư và buôn bán với Việt Nam. Chúng ta luôn trân trọng và đánh giá cao thành tựu phát triển kinh tế của nước láng giềng khổng lồ nhưng cũng không quên bài học về tăng trưởng nóng mà hậu quả ô nhiễm môi trường và nguồn nước, gây thiệt hại hàng năm đến 200 tỷ đô la. Bởi vậy, phải luôn tỉnh táo, đánh giá, xem xét thận trọng, hiệu quả của các chương trình, dự án, đặc biệt là năng lực của các nhà đầu tư, nhà thầu của Trung Quốc.

Năm 2007, tôi viết thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phản ánh những yếu kém, bất cập về năng lực của nhà thầu Tianjin-Chec 3 của Trung Quốc thực hiện Dự án vệ sinh môi trường lưu vực kênh Nhiêu Lộc-Thị Nghè ở thành phố Hồ Chí Minh gây ra các tác hại cả về kinh tế lẫn xã hội. Thủ tướng đã quan tâm, chỉ đạo Bộ Kế hoạch Đầu tư thành lập ngay một đoàn Thanh tra vào TP.HCM xác minh các vấn đề trong nội dung bức thư. (Một số tờ báo đã đưa tin vấn đề này). Đến ngày nay, càng chứng minh rõ các vấn đề đã cảnh báo trong lá thư gửi Thủ tướng là hoàn toàn chính xác.

8. Bài học kinh nghiệm

Gần đây, công luận phản ánh ý kiến của người dân hoan nghênh Chính phủ và chính quyền Hà Nội sau khi nghe ý kiến phản biện của các nhà khoa học và người dân đã cho dừng các dự án xây dựng nhà máy thép Posco ở vịnh Vân Phong; Dự án xây dựng trung tâm thương mại ở chợ âm phủ Hà Nội; Bộ Y tế dừng một số tiêu chuẩn sức khỏe trong cấp bằng lái xe. Tôi còn nhớ câu chuyện về việc lựa chọn phương án xây dựng nhà máy thủy điện Sơn La cao, Sơn La thấp trước đây. Theo kể lại, sau khi nghe các cơ quan chức năng trình phương án, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải tổ chức họp, bỏ phiếu lựa chọn phương án. Trong số hơn 20 thành viên Chính phủ dự buổi họp hôm đó, hầu hết mọi người đều bỏ phiếu ủng hộ phương án Sơn La cao, chỉ có GS.TS Đặng Vũ Minh giám đốc Trung tâm Khoa học Công nghệ Quốc gia (Nay là Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam) bỏ phiếu cho phương án Sơn La thấp và Bộ trưởng Bộ giáo dục & Đào tạo Nguyễn Minh Hiển bỏ phiếu trắng. Sau đó, nhờ sự phản ứng mạnh mẽ của các nhà khoa học, đặc biệt là Hội Thủy lợi, Chính phủ đã xem xét lại và quyết định chọn phương án thủy điện Sơn La thấp và đang được xây dựng như ngày nay.

Chúng ta có quyền đặt ra câu hỏi đối về công tác quản lý đất nước “Vì sao một số chủ trương lớn, các chương trình, dự án với mục tiêu tốt đẹp là phát triển kinh tế cho đất nước nhưng khi ra quyết định lại thường gặp phải các phản ứng bất lợi từ người dân?”. Mỗi lần phải dừng dự án, không phải chỉ tổn thất, mất mát về kinh tế bởi vì “Mất tiền là mất ít, mất uy tín là mất nhiều nhưng mất lòng tin mới là mất tất cả”. Để đạt được sự đồng thuận cao trong xã hội, mỗi khi đề xuất các chủ trương, chính sách, phải rút kinh nghiệm từ những bài học trong quá khứ, lựa chọn, sử dụng những người tham mưu thực sự tài giỏi cả lý luận và thực tế, có bản lãnh, tâm huyết và những người ra quyết sách phải đủ cả TÂM và TẦM. Mọi chủ trương, chính sách có công khai, minh bạch, coi trọng công tác phản biện khoa học và phản biện xã hội thì mới đi vào cuộc sống và được lòng người.

Kết luận và kiến nghị:

Nguyên lý điều hành quản lý Nhà nước là trách nhiệm, quyền lợi và quyền hạn. Nếu quyền hạn lớn hơn trách nhiệm dễ sinh ra tham nhũng, quan liêu. Nếu quyền lợi không gắn với trách nhiệm sẽ mất hiệu lực. Tư duy “nhiệm kỳ” chính là nguyên nhân làm hạn chế TẦM NHÌN trong hoạch định chủ trương, chính sách của trung ương cũng như chính quyền địa phương.

Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển con người và sinh vật. Các nhà khoa học từ lâu đã cảnh báo Việt Nam đang phải đương đầu với các vấn đề về môi trường như nạn phá rừng, khai thác quá mức tài nguyên sinh học, tài nguyên đất xuống cấp, thiếu nguồn nước ngọt trong khi ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, dân số tăng nhanh dẫn đến đói nghèo v.v... Cảnh báo trên, ít nhiều được một số người có trách nhiệm quan tâm nhưng do các nguyên nhân khách quan và chủ quan, các chủ trương chính sách và các biện pháp đưa ra không đáp ứng được yêu cầu làm cho chất lượng sống của người dân thực sự đã vào mức báo động đỏ. Đã đến lúc Việt Nam nên đặt lại mục tiêu phát triển cho đúng đắn hơn!

Từ trước đến giờ, mục tiêu chủ yếu vẫn là tăng GDP. Với mặt bằng kinh tế thấp thì việc này tạm chấp nhận được, vì mục đích cấp bách là đưa đất nước thoát nhanh ra khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng một khi đã thoát nghèo, thậm chí một bộ phận xã hội đã giàu có thì ta càng cần phải nghiêm túc trong hành động, chứ không chỉ nói suông để bảo vệ môi trường.

Lúc trước, ta tạm chấp nhận hy sinh một con sông để một nhà máy xả nước thải chưa qua xử lý đổ ra sông này, mục đích giúp địa phương thu thêm thuế, GDP được tăng lên. Bây giờ, không thể làm thế nữa, và phải biết quý trọng nguồn nước (phải biết giữ gìn và bảo vệ nó). Kinh nghiệm đau thương đã xảy ra khá nhiều sông rạch ở ngoại thành TP. Hồ Chí Minh không còn thủy sản, dân không dám dùng nước dù là để tắm rửa, thậm chí tàu nước ngoài (Nhật Bản, Singapore) tẩy chay không vào sông Thị Vải vì sợ ô nhiễm làm hư hại vỏ tàu. Rõ ràng các trường hợp này, là lợi hoàn toàn bất cập hại, dù các nhà máy có tăng nguồn ngân sách cho ta bao nhiêu chăng nữa.

Lúc trước, ta tạm chấp nhận hy sinh một khoảnh môi trường, một cộng đồng nghèo khó để một công ty đặt nhà máy phá dỡ tàu biển với cùng mục đích giúp chính quyền có thêm thuế, GDP được tăng lên. Bây giờ phải nhất quyết chống lại ô nhiễm chất thải độc hại vốn rất tốn kém để xử lý, mà không xử lý thì hậu quả có thể kéo dài trong nhiều thế hệ. Cái giá cho tương lai như vậy là quá đắt.

Cần để cho nước ngoài biết rằng mặc dù nước ta chưa giàu có nhưng ta đã biết sống sạch. Để cho các nhà đầu tư hiểu rằng dù họ có hứa trích bao nhiêu tiền cho ngân sách, cho quỹ vì người nghèo, cho nhà tình thương thì vẫn không sao bù được những tổn hại lâu dài cho các thế hệ sau. Bây giờ, đất nước tuy còn có khó khăn nhất định nhưng cũng đùm bọc nhau được chứ không thể chấp nhận giải quyết khó khăn nhất thời để rồi về lâu dài làm bãi rác của quốc tế.

Bài học lớn nhất cho những người có trách nhiệm về quy hoạch chiến lược phát triển quốc gia là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Trong giai đoạn phát triển, ta nên rà soát lại mà điều chỉnh các mục tiêu phát triển, đó là (1) vì tương lai, (2) vì đất nước nói chung, và (3) vì chất lượng cuộc sống của chính thế hệ hôm nay. Dù là tiếp tục triển khai dự án bauxite Tây Nguyên vì đó là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước hay phải dừng lại theo nhiều ý kiến phản biện để tìm hướng đi khác thì các công việc sau đây vẫn phải được tiến hành thực hiện :

- Rà soát, bổ sung chiến lược phát triển kinh tế xã hội Tây Nguyên để làm cơ sở cho quy hoạch phát triển của các ngành, không thể để tình trạng mạnh ai, nấy làm không có sự phối hợp đồng bộ.

- Đánh giá môi trường chiến lược cho Tây Nguyên theo quy định của Luật bảo vệ môi trường.

- Thực hiện đánh giá tác động môi trường (EIA) của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên một cách bài bản, khoa học theo phương pháp luận của quốc tế chứ không phải chỉ là công cụ để “phụ họa” cho mọi chuyện đã rồi. Nếu cần thiết có thể sử dụng mô hình để mô phỏng lan truyền ô nhiễm do khai thác bauxite, mô hình luân chuyển phù sa bồi lắng tại các hồ chứa ở phía hạ lưu.

- Áp dụng phương pháp luận mới về phát triển kinh tế trên cơ sở phân tích mâu thuẫn và quyền lợi của các nhóm lợi ích (interest groups) khác nhau trong xã hội và tìm giải pháp để giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi của các nhóm này. Chỉ khi nào giải quyết được mâu thuẫn về lợi ích giữa các nhóm thì mới có thể phát triển kinh tế xã hội cách toàn diện. Yếu kém nhất của các dự án ở Việt Nam là vấn đề “hậu kiểm” cho nên khi tính toán kinh tế phải bắt buộc nhà đầu tư tính đúng, tính đủ chi phí tái tạo lớp đất mặt. Kế tiếp, chuyển kinh phí này vào một tài khoản riêng, đặt dưới sự quản lý của cơ quan chức năng để đảm bảo tài khoản này được sử dụng đúng cho mục đích tái tạo lớp đất mặt và có cơ quan giám sát chặt chẽ việc thực thi.

- Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam và các nhà thầu phải rà soát, bổ sung và thực hiện đầy đủ hồ sơ tài liệu các giai đoạn khai thác bauxite theo các bước sau: (1) Preliminary exploration + ESIA (Desk Study) - Đây là giai đoạn nghiên cứu ban đầu, chủ yếu trên bàn giấy, kết hợp đánh giá sơ bộ tác động môi trường, xã hội. (2) Pre-Feasibility Assesment - Đánh giá tiền khả thi các nghiên cứu ở giai đoạn trước. (3) Exploration + ESIA (Field + Desk Study) - Bước này, nghiên cứu tương tự như bước 1 nhưng có đánh giá thực tế hơn thông qua khảo sát thực tế. (4) Feasibility Assessment - Giống như bước 2 nhưng tập trung vào các dự án đã lựa chọn. (5) Mining + Transportation - Khai thác mỏ và vận chuyển (6) Bauxite Processing - Quá trình khai thác, chế biến (7) Mine Closure–Đóng cửa mỏ (8) Bauxite Plant Closure - Đóng cửa nhà máy.

Nguồn nước ngọt, trong hệ thống sông Đồng Nai có ý nghĩa rất quan trọng trong toàn bộ lưu vực từ nước sinh hoạt đến phục vụ sản xuất, đặc biệt đối với sự phát triển của khu kinh tế trọng điểm mà TP. Hồ Chí Minh là trọng tâm. Khi phân tích đánh giá tác động của dự án khai thác bauxite Tây Nguyên cần quan tâm đúng mức đến vai trò của bài toán hệ thống.

Nói tóm lại: Thực tế đã chứng minh công cuộc Đổi mới kinh tế do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo trong suốt mấy chục năm qua đã mang lại cho đất nước những biến đổi sâu sắc trên nhiều lĩnh vực. Cuộc sống ngày nay, trong một thế giới phẳng đòi hỏi phải có nhận thức mới về quản lý kinh tế là cơ sở để thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển sang trang sử mới.

Vạch trần Chiến lược của Trung Cộng nhằm biến cải đất Cao Nguyên Miền Nam Việt Nam thành Tây Tạng thứ hai.

Tiến sĩ Mai Thanh Truyết 20-03-2009

Cao nguyên Trung phần là xương sống của Việt Nam và là một vị trí chiến lược, quân sự và kinh tế. Hiện tại, cao nguyên nầy góp phần không nhỏ vào việc thu nhập ngoại tệ qua xuất cảng cà phê, trà và hột tiêu. Nhưng hiện tại, vùng đất basan màu mỡ nầy đang đứng trước hiểm họa bị tàn phá do âm mưu của ngoại bang phương Bắc.

Ngày 22-12-2008, có một sự kiện nổi bật xảy ra tại Việt Nam. Đó là cột mốc phân chia biên giới đã được chính thức khánh thành trước sự chứng kiến của đại diện của hai quốc gia Việt Nam cộng sản và Trung cộng tại Ải Nam Quan. Sự kiện thứ hai xảy ra vào tháng 2-2009 cũng không kém phần quan trọng là một cuốn sách vừa phát hành ở Hà Nội vinh danh một ông tướng Tàu (người viết thấy không cần thiết phải nêu tên kẻ thù dân tộc ra đây) trong cuộc chiến ngắn ngủi ở 6 tỉnh biên giới Việt-Trung vào tháng 2 năm 1979.

- Sự kiện thứ nhất có ý nghĩa “thời đại sâu sắc” là kể từ nay, ít nhất là trên phương diện chính trị, chúng ta xem như đã mất Ải Nam Quan vì cột mốc số 1116 nằm ở phía Nam của Ải và cách Ải 280 thước tây. Và thác Bản Giốc đã trở thành một địa điểm du lịch của… Trung Quốc cũng như TQ đã đăng quảng cáo trên báo chí Việt Nam mời gọi người Việt đi thăm tụ điểm du lịch nầy. Quả thật mỉa mai! Một đất nước đã được cha ông vun bồi từ ngàn năm trước, để rồi ngày nay con cháu Việt lại bán dâng cho ngoại bang.

- Sự kiện thứ hai nói lên tâm lý đầu hàng, một não trạng quy phục của những người đang nắm quyền bính đất nước. Trong suốt chiều dài lịch sử Việt Nam, nếu ngày xưa Lê Chiêu Thống đã để lại một vết nhơ lớn qua việc rước voi về giày mồ, thì ngày nay, dân tộc Việt Nam lại phải đau lòng chứng kiến sự kiện đất đai của tổ tiên bị bọn buôn dân bán nước cắt xén dâng lên cho ngoại bang một cách nhục nhã. Nhắc đến điều nầy, ai trong chúng ta, những người thức thời và còn tinh thần quốc sỉ, quốc nhục, hẳn không khỏi bất mãn khi thấy thái độ tôn vinh ca ngợi kẻ cầm đầu đạo binh hùng hậu tiến tới tàn phá biên giới miền Bắc theo một tài liệu do nhà xuất bản Văn Học (Hà Nội) phát hành. Nhưng chưa hết, trên trang bìa sau của cuốn sách, còn trịnh trọng ca ngợi kẻ thù đã xâm lược, giết hại đồng bào của mình qua hình ảnh người lính Trung Hoa “anh hùng”.

- Hành động xâm lăng nầy đã gây tử vong không ít cho cả đôi bên từ 60 đến 120 ngàn người (cả hai bên đều giữ bí mật cho nên con số chỉ được ước tính qua các nguồn tin ngoại quốc mà thôi). Ai không cảm thấy bất nhẫn trước “đống xương vô định đã cao bằng đầu” như thế? Nếu ngày xưa bọn xâm lược Bắc phương (giặc Minh) trong khi xâm lấn nước ta bị lên án trong Bình Ngô Đại Cáo là “độc ác thay, trúc rừng không ghi hết tội; nhơ bẩn thay, nước biển không rửa sạch mùi” thì ngày nay, lại chính nhà cầm quyền Việt Nam cộng sản đã vừa để lại vết nhơ tương tự.

Thêm nữa, nghĩa địa chôn cất kẻ ngoại xâm lại có bia dựng đầy nhân nghĩa theo kiểu nhân nghĩa bà Tú Đễ là “Nghĩa trang Liệt sĩ Trung-Việt”. Hiện nay, có trên 40 nghĩa trang “Ghi ơn liệt sĩ Trung Quốc” nằm rải rác ở miền Bắc; mộ bia và cổng vào được ghi bằng chữ Hán và Việt, đôi khi hoàn toàn bằng chữ Hán.

Hơn bao giờ hết, lòng yêu nước của dân tộc lại bị giáng cấp như hiện tại do hai hành động điển hình trên của lãnh đạo VN cộng sản.

Tuy nhiên, cũng chính hai sự kiện nổi bật trên khiến cho người dân Việt Nam cả hải ngoại lẫn quốc nội đều thấm thía cái điêu linh của đất nước trước thái độ đê hèn, khiếp nhược, thần phục ngoại bang như hiện nay. Đồng thời, ta có thể hình dung được âm mưu tiến chiếm Việt Nam của Trung Cộng qua những diễn tiến chính trị trước mắt. Trong một bài viết vào tháng vừa qua dưới tựa đề “Trung Quốc: Những mắc xích tiến chiếm Việt Nam”, người viết có nêu lên 7 điểm thể hiện lộ trình cũng như những suy tính của TQ trong công cuộc thôn tính Việt Nam.

Những nhận định tiếp theo đây làm rõ nét thêm các âm mưu trên qua các thông tin vừa được cập nhựt.  

Lộ trình biến cải Cao Nguyên thành Tây Tạng thứ hai của Trung Cộng.

Từ bảy sự kiện đang được khai triển ở Việt Nam và các quốc gia lân cận: 1- Công trình xây dựng xa lộ Trường Sơn, 2- Mở rộng đường số 9 nối liền biên giới Thái-Lào ra biển Đông qua thị xã Quảng Trị, 3- Xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất, 4- Dự án quốc tế giữa Trung Quốc, Lào và Thái Lan trong việc khai thông lòng sông Cửu Long để tàu vận tải nặng có thể lưu thông trên thủy lộ nầy, 5- Thiết lập xa lộ nối liền thành phố Nam Ninh và Hà Nội, 6- Miễn hộ chiếu cho người Trung Hoa vào tận mũi Cà Mau, 7- Dự án khai thác quặng bauxite ở vùng Cao nguyên miền Nam Việt Nam.

- Nhận xét về điểm mắc xích thứ hai, ta thấy việc mở rộng con đường số 9 nối liền Quảng Trị qua Tchepone và Savannakhet bên Lào. Con đường nầy đã được tiếp nối qua sông Cửu Long và kéo dài đến hải cảng phiá tây của Thái Lan là Mawlamyine. Ngoài ra, tin mới nhất vừa nhận được là Trung Quốc đã hoàn tất công trình tu sửa và mở rộng quốc lộ 13 nối liền Bắc Nam của Lào vào cuối năm 2008. Hiện TQ cũng đang tu sửa và mở rộng quốc lộ 7 dự trù hoàn tất vào năm 2010 xuyên Cambodia từ Nam Lào đến hải cảng Sihanoukville ở vịnh Thái Lan. Cả hai dự án nầy là viện trợ không bồi hoàn của TQ. Như vậy, từ nay, những tỉnh phía Tây TQ đặc biệt là Vân Nam, trung tâm công nghệ hoá chất hàng đầu, đều nối liền ra ba cửa ngõ Thái Bình Dương và vịnh Thái Lan để trao đổi xuất nhập cảng với thế giới bên ngoài.

- Về mắc xích thứ năm, việc thiết lập thiết lộ và xa lộ nối liền Côn Minh (Kunming) - Hà Nội - Hải Phòng và Nam Ninh (Nanning) - Lạng Sơn - Hà Nội. Nơi đây chúng ta cũng có thể hình dung được âm mưu của Trung Quốc trong việc ảnh hưởng lên kinh tế-chính trị-quân sự của Việt Nam qua việc hình thành các con đường chiến lược kể trên.

Sau cùng, dự án khai thác quặng bauxite do chính Thủ tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng ra lịnh tiến hành ngay, mặc dù có biết bao góp ý phản bác từ những nhà chuyên môn trong nước và hải ngoại, thậm chí có những góp ý hoàn toàn trái ngược của Tướng cộng sản Võ Nguyên Giáp, cùng kinh nghiệm của các quốc gia đã khai thác như Nga Sô, Nam Mỹ, Phi Châu, Trung Quốc và Úc Châu.

Tất cả đều khuyến cáo là không đem lại hiệu quả kinh tế mà mức độ ô nhiễm môi trường rất cao. Chính Trung Quốc phải đóng cửa một nhà máy mới vừa khánh thành tiêu tốn trên 1 tỷ Nhân dân tệ vì không giải quyết được áp lực của ngưòi dân và sức ép của luật môi trường. Chính vì vậy mà Việt Nam “phải vâng lịnh” tiến hành ngay việc xây dựng hai nhà máy khai thác ở Đắk Nông dưới sự quản lý của nhân công, kỹ sư và thiết bị hoàn toàn do phía Trung Quốc cung cấp.

Hiện tại (tháng 2-2009), theo tướng Giáp, đã có trên 100 nhân viên Trung Quốc hiện diện ở hai công trường nầy. Theo dự tính sẽ có trên 2000 công nhân và kỹ sư TQ cho công trình trên. Họ đã xây dựng lều trại, chuyên chở thiết bị và dụng cụ để khai thác quặng mỏ (hay thiết bị quân sự để thăm dò vùng tài nguyên dồi dào của cao nguyên Trung phần nầy?). Qua báo chí, tất cả mọi ngã đường dẫn tới xã Nhân Cơ, trung tâm khai thác quặng mỏ đều có công an đóng chốt, ngăn cấm mọi sự đi lại vào công trường mà chính người dân địa phương cũng không rõ là công trường khai thác gì. Tất cả đều nằm trong bí mật!

Cùng với dự án khai thác bauxite còn hai dự án phụ góp phần vào là dự án xây dựng tuyến đường sắt nối liền Tây Nguyên với Bình Thuận và dự án xây dựng bến cảng Bình Thuận để chuyển tải alumin (giai đoạn đầu trước khi tinh luyện ra nhôm kim loại) bằng đường hoả xa và đường biển. Do đó, dự án khai thác bauxite đòi hỏi một lượng điện năng khổng lồ và nguồn nước thật dồi dào, chưa kể đến nguy cơ môi trường trước mắt là không khí bị ô nhiễm, môi trường nước cũng bị ô nhiễm do bùn “đỏ” trôi theo đường nước đi vào sông Đồng Nai, nguồn nước chính dự trù cho việc khai thác nầy. Nguy hiểm nhất là bùn đỏ sẽ chiếm lĩnh một diện tích vô cùng to lớn và hệ sinh thái chung quanh hoàn toàn bị hủy diệt, cùng vùng đất khai thác và vùng đất chứa bùn đỏ bị hoang hoá hoàn toàn. Theo ước tính, muốn sản xuất 1,2 triệu tấn alumin hàng năm, phải cần đến một lượng điện gấp đôi lượng điện Việt Nam đang có hiện nay. Vì vậy, để kết luận, tính cách khả thi của dự án không cao, nếu không nói là bất khả thi.

Như vậy, quyết định trên có phải là một quyết định đánh trống bỏ dùi hay không? Hay là còn có một “ý đồ” nào khác hơn là việc khai thác nhôm? Sự hiện diện của công nhân, chuyên viên, kỹ sư Trung Quốc ở vùng Cao nguyên, xương sống của Việt Nam, nguồn nguyên liệu dồi dào còn lại của Đất Nước, có thể là một nhân tố chính trị-quânsự-kinh tế để Trung Quốc có thêm điều kiện để khống chế Việt Nam ở vùng Cao nguyên miền Nam nầy?

Nếu tổng hợp bảy mắc xích trên lại với nhau, chúng ta có thể hình dung được một sự phối hợp chiến lược nhuần nhuyễn về quân sự-kinh tế-chính trị. Nhưng sự phối hợp đó có thể chỉ để phục vụ cho nhu cầu của đàn anh nước lớn để:  

Chuyển vận hàng hóa xuất cảng từ lục địa Tây Nam Trung Quốc sang Thái, Lào, Việt Nam và quốc tế. Sản phẩm nhập cảng chiến lược của Trung Quốc là dầu khí, và Dung Quất sẽ là nguồn cung cấp quan trọng cho vùng nầy. Hàng ngày nhu cầu dầu thô cho vùng Vân Nam trên dưới một triệu thùng dầu và hàng trăm ngàn tấn hoá chất, nguyên vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất hoá chất ở đây. Mở được các thông lộ về phía Nam qua ngõ Việt Nam, Thái Lan và Cambodia sẽ hạn chế phí tổn rất lớn cho việc chuyển vận hai chiều so với việc xuyên qua lục địa Tây Đông để tiếp cận với thế giới bên ngoài qua ngõ Quảng Đông, Quảng Châu, Thượng Hải hay Hong Kong. Và còn biết bao lợi ích khác nữa cho Trung Quốc cả về kinh tế lẫn quân sự và chính trị khi vùng Vân Nam được khai thông về đường thủy, đường bộ và trực tiếp đổ ra biển qua những mắc xích kể trên.

Âm mưu Hán hoá Cao Nguyên Miền Nam

Qua những phân tích vừa nêu trên, chúng ta có thể hình dung một viễn ảnh khá rõ ràng là Trung Quốc đã thể hiện nhiều dấu hiệu chứng tỏ âm mưu thôn tính vùng đất trù phú của Việt Nam, và vùng đất nầy cũng là cột xương sống nối liền Bắc Nam. Một khi chiếm lĩnh vùng nầy dù dưới hình thức nào đi nữa, TQ sẽ nắm trọn khả năng khống chế Việt Nam. Và Việt Nam sẽ không có lựa nào khác là phải… tiếp tục đi theo “bảng chỉ đường của TQ” mà thôi.

Hiện tại, TQ đã phối hợp một cách gián tiếp với người Chăm ở cao nguyên Boloven bên Lào, bên Cambodia, và “nhập nhằng” tóm gọn hai dân tộc Chăm và Thượng làm một, dưới danh nghĩa Fulro/Chăm để khích động nhu cầu giành lại chủ quyền của vương quốc Champa do một nhóm người Chăm bên Pháp dưới quyền lãnh đạo của một tiến sĩ người Chăm cổ suý. Nhóm nầy cũng được sự hỗ trợ của thực dân Pháp vốn đã có quyền lợi tại vùng cao nguyên nầy hồi thời thuộc địa. Cũng cần nên biết thêm, người Thượng ở vùng Cao nguyên hiện tại đã được các hội thiện nguyện Hoa Kỳ yểm trợ dưới danh nghĩa DEGA.

Theo tin tức được loan tải trên mạng, họ đã hình thành tổ chức The Cham National Federation of Cambodia (CNFC) và đã được Liên hiệp Quốc công nhận qua Department of Economic and Social Affairs (DESA) dưới quy chế Tham Mưu (consultative status) kể từ năm 2009 nầy.

Một tổ chức thứ hai là The Overseas Cham Unity Organization (OCUO) cũng đang xúc tiến hồ sơ lên Liên Hiệp Quốc và Thụy Điển để ghi danh xin thành lập Chính phủ Lưu vong Chăm (Cham’s Government In Exile). Chính phủ nầy sẽ ở ngoài lãnh thổ truyền thống của Champa là miền Trung Việt Nam, mục đích nhằm duy trì sự hiện hữu của chính phủ hoàng gia Champa trước đây. Theo như dự định, chính phủ nầy sẽ phác thảo bản hiến pháp và triệu tập Đại hội để bầu ra Thủ tướng và các Bộ trưởng vào nội các chính phủ.

Qua các tin tức trên, chúng ta thấy rõ ràng là phải có bàn tay “lông lá” của TC mới có thể thực hiện được những dự tính thành lập chính phủ lưu vong của người Chăm. Theo một nguồn tin đáng tin cậy, chính phủ lưu vong ban đầu dự định đặt trụ sở tại đảo Hải Nam (TQ), nơi có một cộng đồng thiểu số Chăm nay gọi là Utsat cư ngụ. Cộng đồng người Chăm nầy theo sử liệu đã sang định cư tị nạn tại đây để chạy loạn vào thời Lưu Kỳ Tông, một ông vua tiếm ngôi không phải gốc Chăm đã có một thời áp dụng chính sách cai trị hà khắc với dân chúng Chăm năm 988 (theo Georges Maspero trong quyển sách Le Royaume de Champa). Nhưng sau đó, để tránh sự phản kháng của các thành viên LHQ khác, trụ sở dự định mới sẽ là Thụy Điển, nơi có một tiến sĩ người Chăm định cư để tạo danh nghĩa nhằm gây áp lực với Việt Nam cộng sản khi cần thiết.

Câu hỏi được đặt ra là TQ giúp người Chăm hải ngoại nhằm mục đích gì? Câu trả lời giản dị sẽ là, TQ muốn hoàn toàn khống chế Việt Nam trong lãnh vực kinh tế-quân sự-chính trị qua việc kiểm soát vùng Cao nguyên Trung phần. Nắm được Cao nguyên nầy, TQ sẽ biến vùng nầy thành một vùng “lệ thuộc” như miền đất Tây Tạng năm 1959. Đã siết được yết hầu của Việt Nam rồi, mặc nhiên TQ có toàn khả năng khống chế lãnh đạo hiện tại của Việt Nam trong mọi tình huống. Và biết đâu trong một tương lai không xa sau đó, Việt Nam có thể sẽ là một “tỉnh lẻ” của TQ?

Nếu viễn ảnh trên đây trở thành một sự thật thì rõ ràng, điều nầy sẽ không thể hiện tinh thần hội nhập và phát triển bền vững theo tinh thần của Liên Hiệp Quốc đề ra mà chỉ tô đậm thêm quán tính thần phục, nếu không nói là nô lệ của cường quyền để phục vụ cho nhu cầu kinh tế, chính trị, và quân sự của Trung Quốc hơn là tạo thêm phúc lợi cho người dân Việt.

Chúng ta phải làm gì trước chiến lược đen tối của Trung Cộng? Đây là câu hỏi được đặt ra… vấn đề “phải đoàn kết lại” để chống “Trung Cộng”. Câu hỏi được đặt ra cho tất cả mọi con dân Việt dù ở quốc nội hay hải ngoại. Đứng trước việc khai thác quặng mỏ bauxite trên, Việt Nam cộng sản trong một “chiêu thức” khác, qua tác động của những nhóm, hội đoàn ngoại vi… đã khơi dậy lòng yêu nước của người Việt khắp nơi trong đó có cả người Việt hải ngoại cùng nhau “đoàn kết” lại để “chống Trung Quốc”.

Đây là một chiêu thức độc đáo làm cho một số người Việt hải ngoại có thể “xiêu lòng” trước những lời chiêu dụ trên. Xin đừng quên: 84 triệu con dân Việt (trừ bớt số lượng đảng viên đảng cộng sản) đang còn chịu đựng ách thống trị hà khắc của một chế độ chuyên chính và độc tài, bóp nghẹt tất cả mọi khát vọng tự do dân chủ của người dân. Do đó, chúng ta cần phải cảnh giác để khỏi vướng vào vòng kim cô của Nghị quyết 36.
Nhiệm vụ chính yếu của chúng ta phải nhắm vào hai mặt có tính cách quyết định:

- Thứ nhất, tiếp tục vận động và phối hợp với những nhà dân chủ trong nước, chuyển tải tin tức cập nhật ngõ hầu cùng nhau đẩy mạnh tiến trình dân chủ cho Việt Nam.

- Thứ hai, kêu gọi sự yểm trợ của thế giới tự do qua chiến lược cụ thể của Trung Cộng nhằm tiến chiếm Việt Nam dưới một hình thức “thực dân” mới, không cần động binh để chiếm đóng như ngày xưa nữa.

Hai việc nầy cần phải được thực hiện song hành cùng một lúc và việc chính yếu cần phải làm là nỗ lực vận động để thúc đẩy tiến trình dân chủ cho Việt Nam. Đây phải là ưu tiên hàng đầu.

Thay lời kết

Qua những nhận định và phân tích vừa kể trên, quả thật chúng ta đã thấy thật rõ âm mưu thôn tính Việt Nam của Trung Quốc và quan tính thuần phục của Việt Nam hiện tại.

Đặc biệt qua sự kiện khai thác quặng bauxite ở Tây nguyên, không còn gì để chối cãi nữa là Việt Nam hoàn toàn thụ động trước tiến trình chiếm cứ vùng Cao nguyên miền Nam Việt Nam của Trung Quốc. Việt Nam hòan toàn nằm trong gọng kềm của Trung Quốc qua các mắc xích phân tích trên và lộ trình biến cải Cao nguyên thành một Tây Tạng thứ hai sẽ là một hiện thực trong một tương lai không xa.

Để kết luận, xin mượn lời nói đầu của Báo Sinh Viên Yêu Nước mới vừa được thành hình ở VN vào ngày 23-2-2009: Chúng tôi đã từng cùng các bạn xuống đường tham gia các cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền của đất nước. Đã từng chua xót, chảy nước mắt khi thấy lòng yêu nước cũa mình bị nhà nước Việt Nam ngăn chận. Có đất nước nào trên thế giới nầy mà lòng yêu nước của nhân dân bị ngăn cấm? Có đất nước nào mà lòng yêu nước của nhân dân bị chế độ coi là tội phạm?Có đất nước nào mà lòng yêu nước của nhân dân phải đồng nghĩa với yêu kẻ xâm lược? Và có đất nước nào mà kẻ xâm lược được ca ngợi và bảo vệ? Còn người yêu nước thì phải ngồi tù?”

II- KIẾN NGHỊ, KHÁNG THƯ

Thư gửi Bộ Chính Trị  v/v cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Nguyễn Trọng Vĩnh 27-02-2009

Kính gửi: Các đồng chí uỷ viên Bộ Chính Trị,

Đồng kính gửi: Thủ Tướng và các Phó Thủ Tướng Chính Phủ.

Kính thưa các đồng chí,

Lâu nay tôi không có thông tin, mãi đến gần đây được đọc thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng trăm ý kiến không đồng tình của các nhà khoa học, cán bộ và người dân ở khắp Bắc - Trung - Nam, tôi mới biết ta đồng ý cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Nguy hiểm quá ! Tôi cũng thấy những nguy hại như mọi người đã phát biểu: tàn phá môi trường sinh thái, xâm hại rừng nguyên sinh, nguy hại cho đời sống của đồng bào dân tộc người Thượng, lưu độc cho các dòng sông phát nguyên hoặc chảy qua Tây Nguyên, ảnh hưởng rất xấu cho đời sống của người dân Nam bộ sống dọc hai bờ sông Đồng Nai, có thể ảnh hưởng đến các công trình thuỷ điện phía Nam.

Điều đáng lo hơn cả là an ninh quốc gia. Chúng ta đều biết Trung Quốc xây dựng căn cứ hải quân hùng mạnh ở Tam Á đảo Hải Nam, nói thẳng ra là không phải để chống kẻ thù xâm lược nào, mà là đe dọa Việt Nam và sẵn sàng chờ thời cơ thôn tính nốt Trường Sa của chúng ta, sau khi đã nhanh tay chiếm Hoàng Sa từ tay Chính quyền Sài Gòn. Nay lại để Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên thì sẽ có năm, bảy nghìn hoặc một vạn công nhân hay quân nhân Trung Quốc đến cư trú và hoạt động tại đây, sẽ hình thành một "thị trấn Trung Hoa", một "căn cứ quân sự" trên địa bàn chiến lược vô cùng xung yếu của chúng ta (vũ khí đưa vào thì không khó gì). Phía Bắc nước ta, trên biển có căn cứ hải quân hùng mạnh, phía Tây Nam nước ta có căn cứ lục quân trang bị đầy đủ thì độc lập, chủ quyền mà chúng ta đã phải đổi bằng hàng triệu sinh mạng cùng xương máu sẽ như thế nào ?!

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta có đầy đủ căn cứ lịch sử và pháp lý, còn Trung Quốc thì không. Vậy mà báo chí Trung Quốc dựng ra chứng cứ, luôn công khai xí hai quần đảo đó là của họ. Quốc vụ viện Trung Quốc (chính phủ) công khai công bố quyết định lập huyện Tam Sa. Trung Quốc có nhiều hành động rất công khai mà lại dỗ chúng ta im lặng không đưa vấn đề ra công khai, thật là vô lý.

Chúng ta muốn sống hòa bình hữu nghị với Trung Quốc, tôi cũng muốn thế. Nhưng hữu nghị cũng phải đấu tranh thích hợp để bảo vệ lợi ích chính đáng của Tổ Quốc ta. Nếu lãnh đạo chưa tiện lên tiếng công khai thì cứ để báo chí, các nhà khoa học lịch sử đưa ra chứng lý, cứ để cho quần chúng biểu tình hoà bình, phản đối khi lãnh thổ Quốc gia bị xâm phạm, không nên dập đi tinh thần yêu nước của họ.

Đành rằng các đồng chí có quyền, muốn làm gì cũng được, quyết định thế nào cũng được, nhưng cũng nên quan tâm dư luận, lắng nghe những lời phân tích lợi, hại, phải, trái mà suy nghĩ cân nhắc. Từ xưa đến nay, ở triều đại nào cũng vậy, chủ trương, chính sách ích quốc, lợi dân thì được dân ủng hộ, chủ trương chính sách sai trái tổn quốc, hại dân thì dân oán. Dân oán, mất lòng tin thì khó yên ổn và thịnh vượng được. "Quan nhất thời, dân vạn đại", "vua cũng nhất thời, dân vạn đại".
Thưa các đồng chí,

Trên đây là những lời nói thẳng, tâm huyết của một đảng viên già 70 tuổi Đảng, đã gần đất xa trời, mong được các đồng chí xem xét.

Kính chào,

Nguyễn Trọng Vĩnh

Địa chỉ: Phường Kim Liên, Quận Đống Đa, Hà Nội

Thư gửi Quốc hội  v/v cho Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Nguyễn Trọng Vĩnh

Kính gởi Chủ tịch và các Đại biểu Quốc hội.

Kính thưa các vị,

Về vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, nhiều nhà khoa học đã phân tích rất kỹ về nhiều mặt cho thấy rằng không những đã không mang lại hiệu quả mà lại gây tác hại vô cùng to lớn về mọi mặt: kinh tế, xã hội, đời sống và an ninh quốc phòng lâu dài không thể cứu vãn được như sau:

Trên đất ba-zan rất quí của Tây Nguyên, chúng ta đương có những vùng rộng lớn về cà phê, chè và nhiều loại cây trồng khác, vừa là nguồn xuất khẩu quan trọng, vừa là nguồn sinh sống của hàng triệu đồng bào Kinh, Thượng và còn có cơ phát triển nữa, mặc dầu nguồn nước khan hiếm.

Nay nếu đào bới hàng vạn ha đất ba-zan, xâm hại cả rừng nguyên sinh khai thác bô-xít để luyện thành a-luy-mi-na, sẽ hút cạn hết nguồn nước (60 m3 cho một tấn a-luy-mi-na), tiêu thụ một lượng điện rất lớn, đầu tư kinh phí rất lớn cho quãng đường 270 km để chuyên chở a-luy-mi-na xuống cảng biển bán giá rẻ, vừa là cách làm kinh tế không hiệu quả, vừa là một sự phá hoại không tiền khoáng hậu! Hết nước, thì cà phê có tồn tại và phát triển được không? Các loại cây trồng khác có phát triển được không? Sẽ không còn nguồn xuất khẩu cà phê, chè, cao su… Cuộc sống của hàng triệu đồng bào bị đảo lộn sẽ vô cùng khốn khó.

Từ trên cao, hàng vạn khối bùn đỏ chứa hóa chất độc hại sẽ theo sông, theo mưa trút xuống hạ du, hàng triệu đồng bào miền Nam Trung Bộ và miền Đông Nam Bộ là người hứng chịu thì sẽ ra sao ?! Nghiêm trọng nữa là về an ninh quốc phòng, chúng ta sẽ thường xuyên chịu sức ép giữa hai căn cứ quân sự của nước ngoài như tôi đã trình bày với Bộ Chính Trị và Chính Phủ trong thư trước.

Khai thác bô-xít, tàn phá môi trường sinh thái Tây Nguyên và môi trường sống của hàng triệu đồng bào, là đại hiểm họa đối với dân với Nước, là tội lỗi. Các thế hệ mai sau sẽ nghĩ gì về thế hệ cầm quyền hiện nay.

Thưa Chủ tịch và các Đại biểu Quốc hội,

Tôi tin rằng, với lương tâm và trách nhiệm với Đất nước các vị sẽ không thể đồng tình với chủ trương sai trái trên đây. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nước, tôi tha thiết mong Chủ tịch và các vị Đại biểu Quốc hội có quyết định sáng suốt, dừng ngay dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên để tránh cho dân tộc một tai họa khôn lường.

Kính chào

Nguyễn Trọng Vĩnh

Cán bộ lão thành 93 tuổi, 72 năm theo Đảng làm cách mạng
Địa chỉ: Nhà 23, Ngõ 5, Phố Hoàng Tích Trí, Kim Liên,
Đống Đa, Hà Nội. ĐT: 04.35770135

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter