lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân: Blog Anh Ba Sàm; Blog Cầu Nhật Tân; Blog Cu Làng Cát; Blog Dân Làm Báo;Blog Dân Oan Bùi-Hằng; Blog Giang-Nam Lãng-Tử; Blog Lê-Hiền-Đức; Blog Lê-Nguyên-Hồng; Blog Lê-Quốc-Quân; Blog Mai-Xuân-Dũng; Blog Người Buôn Gió; Blog Phạm-Hoàng-Tùng; Blog Phạm-Viết-Đào)

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam 50 Năm (1963-2013...)

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân; Trang Thơ Văn Ông Bút; Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính; Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính; Trang Thơ Văn Minh-Di; Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy; Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt; Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang; Trang Thơ Văn Lu-Hà; Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng; Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh; Trang Thơ Văn Quê-Hương; Trang Thơ Kita Kha; Trang Thơ Văn Mặc-Khách; Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi; Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh; Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc; Trang Thơ Văn Bình-Minh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn; Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn; Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406;Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu; Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh; Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện; Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái; Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước; Trang Thơ Văn Thanh-Sơn; Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm; Trang Thơ Văn ThụcQuyên; Trang Thơ Văn Minh-Vân; Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân; Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn;

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

Cây có cội, nước có nguồn. Toàn dân Việt-Nam ngàn đời ghi nhớ ân đức Quốc Tổ Hùng Vương

Thư Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa

lịch sử việt nam, lich su viet nam, lichsuvietnam

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc-Phòng Việt-Nam Cộng-Hòa- Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Đại Thần Tướng Việt Nam -

Tin Tức Thời Sự Việt Nam Và Quốc Tế

Bức Màn Bauxite Và Âm Mưu Tây Nguyên

Khối 8406

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

...

 Khai thác bô-xít ở Tây Nguyên: Bài toán về sự đánh đổi

Nhóm phóng viên Đài tiếng nói Việt Nam (VOV)

13-12-2008

(VOV) - Việt Nam là một trong những nước có trữ lượng bô-xít lớn của thế giới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để việc khai thác bô-xít mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực?

Ngày 1-11-2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 167/QĐ-TTg, phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bô-xít giai đoạn 2007–2015. Thời gian qua, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam cũng đã thăm dò, đầu tư một số công trình khai thác bô-xít, luyện alumin tại Tây Nguyên, và đang tiến tới triển khai một loạt các dự án, với tham vọng đưa nước ta trở thành cường quốc xuất khẩu nhôm.

Tuy nhiên, việc làm này đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học vì nguy cơ huỷ hoại môi trường và tác động tiêu cực đến văn hoá - xã hội Tây Nguyên.

Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để việc khai thác bô-xít mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực như giới khoa học đã cảnh báo?

Dưới đây là hai bài của Nhóm Phóng viên VOV

Bài 1 :

Lợi ích kinh tế và hậu quả môi trường

(VOV) - Việc khai thác chế biến bô-xít là hy vọng giúp tỉnh Đắk Nông thoát khỏi cảnh nghèo. Với Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam, đó là bước chuyển sinh tử trong sản xuất kinh doanh, khi trữ lượng than dần cạn kiệt. Nhưng…

Theo Bộ Tài nguyên - Môi trường, nước ta có trữ lượng khoảng 7 tỷ tấn quặng bô-xít, tương đương với 3,2 tỷ tấn quặng tinh, là một trong những quốc gia có trữ lượng bô-xít hàng đầu thế giới. Quặng bô-xít tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên, trong đó riêng tỉnh Đắk Nông đã chiếm hơn 60% trữ lượng.

Việc khai thác, chế biến nguồn tài nguyên này là hy vọng giúp tỉnh Đắk Nông thoát khỏi cảnh nghèo, trở thành một tỉnh công nghiệp. Với Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam, đó là bước chuyển sinh tử trong sản xuất kinh doanh, khi trữ lượng than dần cạn kiệt.

Tuy vậy, những hậu quả khi khai thác bô-xít dường như chưa được cả doanh nghiệp và các nhà quản lý quan tâm đúng mức. Trong khi đó, giới khoa học lại có đủ lý do để cảnh báo về một sự huỷ hoại môi trường không thể cứu vãn. Không những thế, những luận chứng về hiệu quả kinh tế của đại dự án bô-xít trên Tây Nguyên cũng gây ra không ít nghi ngờ.

Tiềm năng và tham vọng

Nhôm (aluminum) là kim loại nhẹ, ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong thế giới hiện đại. Nhôm hiện diện trong đời sống hàng ngày, từ đơn giản như giấy gói bánh kẹo, đến các vi mạch điện tử, hay chế tạo máy bay… Nhu cầu nhôm của thế giới những năm gần đây không ngừng tăng lên, khoảng 90 triệu tấn/năm, gấp 3 lần so với 10 năm trước. Nguồn nhôm nguyên được tổng hợp từ việc khai thác, chế biến quặng bô-xít trong tự nhiên. Bô-xít ở Đắk Nông chiếm hơn 60% trữ lượng bô-xít của cả nước, có hàm lượng tinh quặng tới 50%, mỏ lộ thiên trên các quả đồi, do vậy việc khai thác khá thuận lợi.

5 năm qua, Chính phủ đã cho phép Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) tiến hành thăm dò, đầu tư khai thác, chế biến quặng bô-xít ở Tây Nguyên. Theo quy hoạch, đến năm 2025, tại khu vực Tây Nguyên và Nam Trung bộ sẽ có 6 tổ hợp khai thác bô-xít, luyện alumin, 2 nhà máy điện phân nhôm, cùng hệ thống đường sắt Đắk Nông–Bình Thuận và cảng biển phục vụ xuất khẩu alumin, với tổng vốn đầu tư khoảng 200 nghìn tỷ đồng. Đến lúc đó, Việt Nam sẽ trở thành cường quốc nhôm, với sản lượng alumin hàng năm chiếm khoảng 1/5 của thế giới.

Hiện tại, TKV đang đầu tư xây dựng 2 tổ hợp bô-xít–alumin tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông), dự kiến hoàn thành trong 2 năm tới, với tổng sản lượng 1,2 triệu tấn alumin/năm. Ngay sau đó, một loạt các nhà máy sẽ được xây dựng, đồng thời với việc xây dựng tuyến đường sắt. Riêng tại tỉnh Đắk Nông, sẽ có 4 tổ hợp bô-xít–alumin, hàng năm sẽ đóng góp vào ngân sách Nhà nước 1.500 tỷ đồng. Các dự án này còn tạo việc làm cho hàng chục ngàn lao động địa phương, phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ khai khoáng, thay đổi mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, hứa hẹn đem lại diện mạo mới cho toàn vùng.

Cảnh báo quyết liệt của giới khoa học

Tuy vậy, kế hoạch khai thác bô-xít của TKV đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các nhà khoa học. Lý do là, TKV đã chưa tính toán hết những tác động tiêu cực của việc khai thác bô-xít đến môi trường, văn hoá, xã hội; chưa có lộ trình cụ thể về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ…

Về bài toán kinh tế bô-xít của TKV, Tiến sỹ Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam, cho rằng, đó là cách làm của “nhà nghèo”: vẫn chỉ dựa vào việc khai thác bán tài nguyên, mà chưa nghĩ ra cách sử dụng như thế nào để thúc đẩy các ngành sản xuất khác, xuất khẩu thêm nhiều sản phẩm. Mặt khác, trở thành "đại gia" nhôm, chúng ta sẽ phải chấp nhận “trò chơi kinh tế” về cung - cầu, giá cả, như đã từng diễn ra với cà phê, thép, hồ tiêu; và nhôm Việt Nam sẽ ra sao khi thị trường thế giới thay đổi?

Còn Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc Công ty năng lượng Sông Hồng, phản đối quyết liệt đại dự án bô-xít, gọi đây là cách làm "chẳng giống ai": Có quá nhiều tham vọng khi muốn đưa Việt Nam từ một nền kinh tế kém phát triển trở thành một cường quốc nhôm của thế giới, trong khi còn nhiều lĩnh vực khác cần ưu tiên đầu tư. Việc thực hiện Dự án quá nhiều rủi ro vì chưa có đánh giá chính xác về tài nguyên; còn kỹ thuật, công nghệ, thị trường thì hoàn toàn phụ thuộc nước ngoài. “Thứ nhất là chiếm dụng đất rất lớn nhưng hiệu quả tạo ra việc làm thì rất thấp, bình quân mất 2,5ha mới tạo ra được 1 chỗ làm việc. Nguy cơ thứ hai là bùn đỏ, chất độc hại không bao giờ phân huỷ, trong khi chúng ta lại chôn giữ ở đây, trên độ dốc khoảng 25%, thiệt hại vỡ đập không thể kiểm soát được. Thứ ba là làm mất nguồn nước hiện đang còn thiếu cho phát triển cây công nghiệp: riêng dự án Nhân Cơ tốn gần 15 triệu m3/năm, dự án Tân Rai là 18 triệu m3/năm, mà cả hai dự án không hề thấy có bảng cân đối nước, bao nhiêu nước dùng vào đây thì không hiểu cà phê với chè sẽ ra sao? Và thứ tư là nguy cơ làm thay đổi môi trường sinh thái, khâu khai thác lộ thiên này là một trong những công nghệ tàn phá môi trường mạnh nhất, đặc biệt là thảm động thực vật và gây xói mòn”- Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn phân tích.

Tiến sỹ Hà Huy Thành, Viện trưởng Viện nghiên cứu Môi trường Phát triển bền vững, không tin rằng dự án khai thác bô-xít có thể hoàn thổ, trả lại màu xanh cho Tây Nguyên như trước được. Và như vậy, sẽ không thể làm nông–lâm nghiệp trên những vùng đất đã khai thác bô-xít. “Chúng ta phải nhìn vào thực tiễn đã có như vậy mà cân nhắc thận trọng, tỷ mỷ hơn để dự án có thể bền vững: đó là phát triển đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngày hôm nay, nhưng phải làm sao cho thế hệ mai sau có cái để sống. Nếu đào cả tỉnh Đắk Nông lên, thì 50 năm nữa, tỉnh còn cái gì để phát triển; hay là thế hệ mai sau chỉ còn gặp được một vùng Quảng Ninh đen mù bụi than, và một Đắk Nông màu đỏ không phân huỷ?”- Ông Thành dẫn chứng từ thực tế hơn 100 năm khai thác vùng mỏ than Quảng Ninh.

Nghi ngờ bài toán kinh tế của TKV, lo ngại trước những hậu quả môi trường không thể kiểm soát khi khai thác bô-xít, các nhà khoa học đề nghị tạm dừng dự án này, thay bằng việc phát triển "Tây Nguyên xanh": trồng rừng, trồng cây công nghiệp.

Và cái lý của người bản địa

Liệu đây có phải là giải pháp tối ưu cho vùng đất mỏ bô-xít? Chúng ta cùng tìm hiểu thực tế ở tỉnh Đắk Nông.

Ông Nguyễn Văn Minh được coi là một nông dân sản xuất giỏi ở xã Kiến Thành, huyện Đắc R'Lấp, tỉnh Đắk Nông. Ông cho biết, khu vực này là vùng đất quặng, nên phải khéo chăm sóc cây trồng mới có thu. Với diện tích gần 5 héc-ta, ông trồng cà phê dưới chân đồi, tiếp đó là cao su, rồi trồng điều trên vùng đồi cao. Cố gắng lắm, cà phê mới cho năng suất 2 tấn rưỡi 1ha, còn 1 sào điều thì mỗi năm thu được khoảng chục triệu đồng. “Trồng 15 năm rồi đó, mà vì đất sỏi quá nên cây điều nó không tốt lên được. Cà phê thì nước tưới không đủ, năng suất kém!”–Ông Minh ngao ngán chỉ ra vườn nhà.

Đó cũng là tình trạng chung ở xã Nhân Cơ, huyện Đắk R'Lấp. Ông Lâm Trí Hy, Chủ tịch UBND xã, cho biết, phần lớn kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp. Xã có hơn 3 nghìn héc-ta cà phê, năng suất trung bình chỉ đạt 1tấn rưỡi 1 héc-ta, không bằng một nửa năng suất cà phê ở tỉnh Đắc Lắc. Đất đai không được ưu đãi, mà đời sống của nông dân thì thăng trầm theo sự thay đổi của thời tiết và giá cả nông sản: “Khu vực nào quặng ít, thì đầu tư trồng cây công nghiệp, hoặc một số cây ngắn ngày, thì cũng có thu, mặc dù không được tốt như ở Đắk Min hay các huyện khác. Chỗ nào mà quặng nhiều, nổi trên mặt đất thì mình trồng cây gì lên, sau đó nó cũng bị chết. Sản xuất nông nghiệp phập phồng là do thời tiết, khí hậu thay đổi nên năm được năm mất, và giá cả thị trường thì rủi ro nhiều, cứ hạ giá 3-4 năm, lên giá được 1 năm lại hạ giá; nên điều kiện phát triển nông nghiệp ở địa phương gặp nhiều khó khăn”.

Theo ông Trần Phương, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Nông, với 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh có chứa quặng bô-xít, việc phát triển nông nghiệp không phải là lợi thế của vùng đất này. Đắk Nông có 2 tiềm năng lớn: nguồn thuỷ điện khoảng 1.700 mw đã và đang được xây dựng; còn bô-xít nếu không khai thác, thì Đắk Nông cũng giống như người ngồi trên đống vàng mà vẫn đói. “Lợi thế nông nghiệp của Đắk Nông không phải tốt như Bình Phước, như Đắk Lắc, bởi vì các vùng mỏ khô cằn. Nếu bây giờ không khai thác được tiềm năng bô-xít này, và chỉ nhìn vào các loại cây nông nghiệp thì buồn lắm, Đắk Nông của 10 năm sau cũng giống như của hôm nay, vì không phát triển được. Nên việc khai thác bô-xít là nguyện vọng tha thiết của cả Đảng bộ và nhân dân Đắk Nông, nếu chúng ta biết khai thác hợp lý, sử dụng tốt, thì sẽ phát triển nhanh hơn, có thể theo kịp các tỉnh lân cận” - Ông Trần Phương bày tỏ.

Cho đến nay, cuộc tranh luận giữa doanh nghiệp, chính quyền, người dân địa phương và các nhà khoa học về “lợi” và “hại” của đại dự án bô-xít Tây Nguyên vẫn chưa có đáp số thống nhất. Đó là chưa kể đến những tác động xấu từ việc khai thác bô-xít đến đời sống xã hội, văn hoá… của không chỉ Đắk Nông mà cả khu vực Tây Nguyên./.

Nhóm phóng viên VOV

Bài 2 :

Bài toán giảm thiểu tổn thương đến văn hóa, môi trường và lợi ích của người dân.

(VOV) - Dù chưa có dự án bô-xít, hàng năm Đắk Nông cũng vẫn mất trên dưới 300 ha rừng. Cùng với việc mất rừng, văn hoá M'Nông đã bị mai một nhanh chóng.

Theo tính toán của tỉnh Đắk Nông, kế hoạch khai thác bô-xít ở tỉnh này sẽ tác động trực tiếp đến hơn 150.000 người dân. Ngoài cam kết ưu tiên giải quyết việc làm cho lao động địa phương, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam chưa tính hết những tác động tiêu cực đối với đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của các cư dân bản địa. Các nhà nghiên cứu bức xúc, người dân lo lắng: không chỉ huỷ hoại môi trường, đại dự án bô-xít còn xoá sổ một nền văn hoá cao nguyên M'Nông huyền thoại, đẩy người dân vào cảnh không có đất sản xuất.

Vậy đâu là giải pháp để việc khai thác nguồn tài nguyên này vừa phục vụ tốt mục tiêu phát triển kinh tế, hài hoà lợi ích của đồng bào, vừa giảm thiểu tối đa những tổn thương mà dự án này có thể gây ra cho môi trường và văn hoá Tây Nguyên.

Tổn thương cả một nền văn hoá bản địa

Đắk Nông, tỉnh phía nam Tây Nguyên, là địa bàn cư trú lâu đời của dân tộc M'Nông, quê hương anh hùng Nơ Trang Lơng, người tù trưởng đã lãnh đạo các dân tộc Tây Nguyên chống thực dân Pháp xâm lược những năm đầu thế kỷ 19. Văn hoá M'Nông là một phần không thể thiếu làm nên nền văn hoá Tây Nguyên huyền thoại, với những bộ sử thi đồ sộ, với không gian cồng chiêng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới. Cũng như văn hoá Tây Nguyên, văn hoá M’Nông gắn liền với các sinh hoạt cộng đồng, là văn hoá của làng, của rừng. Trước những dự án khai thác bô-xít đang triển khai tại Đắk Nông, các nhà nghiên cứu văn hoá lo ngại rằng, một cao nguyên M'Nông huyền thoại sẽ chỉ còn trong tiềm thức.

“Làng và rừng của làng là không gian xã hội, không gian sinh tồn của con người nơi đây; khi không gian ấy bị xâm phạm, bị biến dạng, bị mất đi, thì làng tan, văn hoá tan, con người trở nên lạc lõng, tha hoá. Thử đặt câu hỏi: nếu trên 2/3 diện tích tỉnh Đắk Nông sẽ bị “cạo sạch” rồi đào lên để lấy bô-xít, vốn có bao nhiêu rừng và đất của bao nhiêu làng, sự tan vỡ của các làng sẽ đưa lại hậu quả gì? Và rồi những người bị thu hồi đất sẽ đi đâu, tái định cư như thế nào, làm gì trên vùng đất mới của họ; và họ đứng đâu, làm gì trong các nhà máy hiện đại?”- Nhà văn Nguyên Ngọc bức xúc.

Những lo ngại của nhà văn Nguyên Ngọc chính là sự thật đã được kiểm chứng qua bài học về việc di dân, phát triển các nông lâm trường ở Tây Nguyên trong suốt 30 năm qua. Hiện nay, các bon làng đều ở xa rừng, hoặc buộc phải di dời ra khỏi rừng để có nhiều điều kiện nâng cao đời sống cho bà con. Dù chưa có dự án bô-xít, hàng năm, tỉnh Đắk Nông cũng vẫn mất trên dưới 300 ha rừng vì nạn đốt nương làm rẫy, chưa kể đến hàng chục ngàn héc-ta giao cho doanh nghiệp thực hiện các dự án nông lâm nghiệp. Cùng với việc mất rừng, văn hoá M'Nông đã bị mai một nhanh chóng.

Ông Điểu Trơh, Trưởng bon Bu Dấp, xã Nhân Cơ, huyện Đắk R'Lấp, cho biết: Những năm gần đây, các lễ hội truyền thống của người M'Nông chỉ được tổ chức khi có sự đầu tư tiền của Nhà nước, mang tính chất phục dựng hoặc cổ động cho một sự kiện của địa phương hay của quốc gia. Sự suy giảm văn hoá Mơ-nông cũng là điều mà các nhà khoa học trường Đại học Tây Nguyên khẳng định qua nghiên cứu thực tế tại huyện Đắc R'Lấp. Tiến sỹ Tuyết Nhung Buôn Krông, trưởng nhóm nghiên cứu, cho biết: ngày nay, chúng ta khó nhận biết các bon làng của người bản địa, và chỉ nhận ra họ qua màu da, tiếng nói, chứ không phải qua văn hoá vật thể như trang phục, đồ trang sức. “Thời gian gần đây, dân số tăng nhanh gấp 2,5 lần so với năm 1997, đã làm thay đổi toàn cục về kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường, xuất hiện nhiều thành phần dân tộc, thì văn hoá M'Nông đang bị pha tạp, mai một và trước nguy cơ hoàn toàn biến mất”

Như vậy, việc triển khai các dự án bô-xít ở Đắk Nông chỉ làm đẩy nhanh quá trình tác động đến nền văn hoá M'Nông, vốn đang bị xáo trộn và suy giảm nhanh chóng.

Nỗi lo sinh kế của người dân

Theo ông Lâm Trí Hy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Nhân Cơ, người dân tộc thiểu số tại chỗ thường sống tách biệt thành một cộng đồng. Do vậy nếu sắp xếp quy hoạch rõ ràng thì việc khai thác bô-xít không tác động nhiều đến nếp sinh hoạt của bà con. Điều lo nhất là đời sống kinh tế, vì đồng bào chưa biết cách sử dụng số tiền đền bù cho hợp lý.“Vừa qua, khi giải toả mặt bằng khu vực nhà máy, xã cũng tập trung các ban ngành đoàn thể vận động bà con sau khi được đền bù có tiền thì nên đầu tư sản xuất, không nên lãng phí. Nhưng nhiều người không tính toán đầu tư kinh tế, họ lấy tiền về sửa chữa nhà cửa, mua xe cộ, sắm sửa cho khang trang hơn” -Ông Lâm Trí Hy cho biết.

Để có mặt bằng cho dự án alumin, xã Nhân Cơ có hơn 200 hộ bị giải toả. Người được đền bù nhiều nhất tới 1 tỷ 700 triệu, người ít cũng có vài ba chục triệu đồng. Với người Kinh, đây là số tiền không nhỏ để đầu tư chăm sóc cây trồng. Với bà con các dân tộc tại chỗ, đa số các hộ nhận tiền đền bù đều đã mang xây dựng nhà cửa, sắm sửa đồ đạc trong gia đình.

Giống như các dự án tái định cư ở Việt Nam từ trước đến nay, trong dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV) chưa tính đến sinh kế của người dân, nhất là của người dân tộc thiểu số tại chỗ. Bên cạnh cam kết giải quyết việc làm cho một số lao động địa phương, nhà đầu tư này đã đưa 80 em sang Trung Quốc đào tạo cao đẳng, đại học về luyện kim, và tổ chức đào tạo trung cấp nghề cho gần 700 con em 2 tỉnh Đắk Nông, Lâm Đồng. Trong số này, con em người dân tộc thiểu số ở Đắk Nông chỉ đếm trên đầu ngón tay, vì mặt bằng dân trí thấp, rất ít người đáp ứng được yêu cầu tốt nghiệp lớp 9 trở lên.

Suy nghĩ về đời sống của người dân trong vùng dự án bô-xít, Tiến sỹ Đào Trọng Hưng, Viện khoa học và công nghệ Việt Nam, nói: “Sinh kế không chỉ là cái tạo ra việc làm trước mắt, cho một vài nghìn người đi học vào làm công nhân, mà lâu dài là các thế hệ sau sống như thế nào. Cả vùng Đắk Nông này mà bóc đi rồi hoàn thổ, cao su cà phê đang tốt như thế này, chặt hết đi thì sau đó chuyển đổi đất như thế nào? Tôi cho rằng cần phổ biến thông tin rộng rãi, rõ ràng, công khai, minh bạch và thảo luận với cộng đồng, với người dân”.

Là đơn vị quản lý đất đai tại địa phương, ông Trương Văn Hiển, Giám đốc Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đắk Nông, nêu ra 3 phương án trong việc hoàn thổ, sử dụng đất nông nghiệp sau khai thác bô-xít.

Phương án 1 nghiêng về phía người dân: là cho doanh nghiệp thuê đất khai thác quặng trong thời gian ngắn, hoàn thổ xong lại trả đất cho dân theo đúng diện tích, vị trí ban đầu. Phương án 3 là muốn đẩy nhanh quá trình tích tụ đất đai: thu hồi vĩnh viễn đất của chủ sử dụng cũ và đền bù toàn bộ thiệt hại cũng như hỗ trợ họ chuyển đổi ngành nghề; đất sau khai thác bô-xít sẽ quy hoạch lập các dự án nông lâm nghiệp, thu hút người dân vào làm công nhân. Phương án thứ 2 là thu hồi đất có thời hạn, chúng ta bồi thường cho dân, sau đó lại giao đất cho họ, nhưng không phải nguyên trạng, mà có sự điều chỉnh. Thứ nhất là sẽ quy hoạch, ví dụ như vùng này là trồng rừng, hay vùng này là cao su, cà phê… trên cơ sở đất - nước - khí hậu - cây trồng có lợi nhất. Thứ hai là điều chỉnh ưu tiên, ví dụ là những gia đình chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất, hoặc là người nhiều đất san cho người ít. Những người nhiều đất bị thu hồi, sau lấy ít thì được bồi thường chênh lệch bằng tiền, những hộ ít đất sau điều chỉnh được nhận nhiều thì phải bù thêm tiền”- Ông Trương Văn Hiển đề xuất.

Hoàn thổ, đánh giá tác động môi trường và... cân nhắc

Ông Bùi Quang Tiến, Giám đốc Công ty cổ phần Alumin Nhân Cơ, cho rằng với cách khai thác cuốn chiếu, việc hoàn thổ, trả lại đất cho dân sẽ rất nhanh chóng. Dự kiến bắt đầu khai thác bô-xít từ năm 2011, với công suất 300 ngàn tấn alumin, mỗi năm, tổ hợp này sẽ sử dụng từ 60 đến 80 héc-ta đất.

“Chúng tôi tính toán mùa mưa mà mưa quá thì sẽ không khai thác, như vậy là làm 8 tháng, mỗi tháng sử dụng khoảng 10ha, nếu gia đình nào có vài ha thì có thể từ tuần trước đến tuần sau là chúng tôi trả lại đất. Việc hoàn thổ không phải là cái gì quá khó khăn: lớp đất phủ trên mặt dầy lắm chỉ hơn 1m, chỉ cần dùng máy móc xúc ủi ra bên cạnh, lấy quặng xong là xúc trả lại. Một năm làm 80ha, mà cả vùng quy hoạch là 400 ngàn ha, dự án thực hiện rất lâu, nên không phải cùng một lúc mà bới hết cả lên, ảnh hưởng đến tất cả dân. Thực tế qua khoanh vùng thăm dò thời gian qua, những diện tích mà tỉnh yêu cầu TKV không làm rất nhiều: rừng cấm, rừng đầu nguồn, di tích lịch sử, khu vực quân sự…

“Bây giờ chúng ta chỉ làm ở những khu vực được phép, còn đồng bào vẫn ở đó. Mà theo đề án của Sở Tài nguyên- Môi trường, nếu tính toán tốt, thì đó là cuộc cải cách về cơ cấu cây trồng: lấy đất đi làm lại, quy hoạch tốt, chọn cây trồng thích hợp hơn, thì tôi nghĩ sẽ tạo sức mạnh mới về nông nghiệp”- Ông Bùi Quang Tiến lập luận.

Như vậy, với quy mô vừa phải, được thực hiện một cách thận trọng, bài bản, việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên có thể đảm bảo được lợi ích kinh tế và hạn chế những tác động tiêu cực đến người dân trong vùng. Thay vì triển khai một loạt các dự án lớn trên diện rộng, làm xáo trộn đời sống kinh tế, văn hoá xã hội, gây nguy cơ huỷ hoại môi trường, TKV nên tính toán bố trí các dự án cho phù hợp với điều kiện địa hình và dân cư ở các vùng bô-xít, cân đối đầu nguồn (khai thác quặng) và đầu cuối (điện phân nhôm).

Điều cần thiết là, TKV phải thực hiện ngay việc lập các dự án đánh giá môi trường chiến lược, tính toán những tác động của việc khai thác bô-xít đến môi trường, đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của người dân. TKV cũng phải đưa ra lộ trình cụ thể trong việc khai thác bô-xít, hoàn thổ tái định cư, định canh cho người dân trong vùng dự án.

Trong quá trình phát triển kinh tế, chúng ta luôn luôn phải giải bài toán về sự đánh đổi, nói cách khác là làm sao hy sinh những lợi ích nhỏ nhất để đạt được những lợi ích lớn nhất. Trong đó, nhất thiết lợi ích của quốc gia, khu vực và của nhân dân phải được coi trọng. Không thể vì muốn giảm suất đầu tư khai thác bô-xít, mà khi xây dựng một loạt các dự án lớn, đơn vị khai thác lại bất chấp các nguy cơ rõ ràng về môi trường, kinh tế, văn hoá xã hội. Cách làm hiện nay của TKV không chỉ làm các nhà khoa học bức xúc, mà khó có thể nhận được sự đồng thuận của người dân, dù họ đang sống nghèo trên vùng mỏ bô-xít./.

Nhóm phóng viên VOV

Bô-xít và hệ lụy môi trường ở Trung Quốc

Mỹ Loan 15-12-2008

Chính quyền các tỉnh Trung Quốc đã bắt đầu hướng đến việc điều chỉnh khai thác bô-xít khi môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ việc khai thác nguồn khoáng sản này. Ngày 10-12, trang web chính quyền tỉnh Hà Nam đưa tin tỉnh vừa ban hành quy định “Chấn chỉnh tình hình khai thác than và bô-xít” và “Quy hoạch và sử dụng nguồn bô-xít”. Theo đó, các doanh nghiệp khai thác bô-xít chính quy phải trả lại hiện trạng đất đai như ban đầu sau bốn năm khai thác, nếu không đáp ứng tiêu chuẩn này sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn. Một loạt biện pháp tương tự cũng được đưa ra tại những tỉnh tập trung mỏ than, bô-xít lớn ở Trung Quốc.

Hệ lụy môi trường

Là một nước sản xuất và tiêu thụ nhôm lớn nhất thế giới, cùng với tham vọng trở thành một trong những quốc gia sản xuất xe hơi và máy bay lớn trên thế giới, Trung Quốc đang trở thành một con hổ đói bô-xít để phục vụ ngành công nghiệp nhôm nội địa.
Vấn đề đặt ra ở đây chính là hệ sinh thái xung quanh những nơi khai thác quặng mỏ, đặc biệt là bô-xít, ở nước này đã bị hủy hoại nghiêm trọng. Theo Chinanews, nhiệt độ quanh khu vực quặng mỏ ở Thái Nguyên (Sơn Tây), Tịnh Tây (Quảng Tây) đã tăng cao một cách bất thường kể từ khi những mỏ khai thác bô-xít được dựng lên ở đây.

Nguồn nước xung quanh các khu vực này trở nên ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của hàng triệu người dân. Từ năm 2004-2008, chính quyền tỉnh Hà Nam đã đóng cửa hơn 100 mỏ khai thác bô-xít có quy mô nhỏ trong toàn tỉnh, trong đó lớn nhất là quyết định ngưng dự án khai thác bô-xít để sản xuất nhôm trị giá 1,5 tỉ nhân dân tệ ở huyện Nhữ An chỉ sau một năm đưa vào hoạt động do gây ô nhiễm nguồn nước xung quanh khu vực khá nặng nề.

Nhật Báo Quảng Tây cho biết vụ ô nhiễm do khai thác bô-xít gần đây nhất là ở mỏ bô-xít Tịnh Tây. Chỉ mới khai thác hơn một năm nhưng mỏ này đã làm nguồn nước xung quanh khu vực nhiễm màu đỏ quạch khiến người dân trong khu vực không thể sử dụng được nguồn nước để sinh hoạt, kéo theo là những chứng bệnh lạ.

Đóng cửa hơn 100 mỏ bô-xít

Năm 2004, tại Ấn Độ đã diễn ra phong trào chống các công ty khai thác bô-xít sau khi Chính phủ Ấn Độ, nước có trữ lượng bô-xít lớn thứ sáu thế giới, cấp giấy phép cho 13 công ty đa quốc gia vào khai thác quặng bô-xít tại bang Orissa. Các dự án khai khoáng đã ảnh hưởng tới 60.000 cư dân sinh sống trong vùng. Một diện tích đất nông nghiệp gần 1.000 ha đã hoàn toàn bị hủy hoại.

Theo Hiệp hội Bảo tồn sinh học nhiệt đới, những cảnh báo đã được đưa ra vào các năm 2006 và 2008 khi các công ty khai thác bô-xít lăm le tấn công những vùng thiên nhiên được bảo tồn tại Surinam và Jamaica, lần lượt xếp thứ 5 và 10 trong số những nước có nguồn quặng bô-xít dồi dào nhất.

Để hạn chế thực trạng khai thác bô-xít bừa bãi gây ảnh hưởng đến môi trường và duy trì nguồn bô-xít của quốc gia, từ năm 2006 Chính phủ Trung Quốc đã thực thi quy định về “pháp lệnh nguồn tài nguyên khoáng sản”.

Theo đó, các địa phương trên toàn quốc phải chấn chỉnh ngành khai thác mỏ, đặc biệt chú trọng đến việc khai thác bô-xít. China Daily cho biết từ năm 2005 đến nay, Cục Bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc đã xử lý hàng chục ngàn vụ gây ô nhiễm môi trường, trong đó đóng cửa hơn 100 mỏ khai thác bô-xít trên khắp đất nước.

Theo mạng bảo vệ môi trường Trung Quốc, cuối năm 2006 tỉnh Sơn Tây đã đưa ra quy định “quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản trong vùng, trong đó chú trọng đến tiêu chuẩn khai thác bô-xít trong vùng”. Nếu các doanh nghiệp khai thác bô-xít không đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, phục hồi đất đai và không đạt chuẩn sẽ bị cấm khai thác, nếu quy mô khai thác dưới 1.000 tấn sẽ bị đóng cửa hoặc không cấp phép khai thác mới.

Ngoài ra các tỉnh như Sơn Đông, Quý Châu, Hà Nam còn quy định các doanh nghiệp đạt chuẩn khai thác bô-xít phải có báo cáo đánh giá ảnh hưởng của môi trường địa chất xung quanh khu vực định khai thác, nếu đáp ứng được yêu cầu của cơ quan môi trường mới được cấp phép hoạt động.

Chuyển hướng ra nước ngoài

Theo trang web khai thác khoáng sản Trung Quốc, trữ lượng bô-xít đã được thăm dò của Trung Quốc đạt khoảng 200 triệu tấn, chỉ chiếm 2% tổng trữ lượng bô-xít của thế giới. Lượng bô-xít này phân bố trên 20 khu vực và tỉnh thành, phần lớn các mỏ bô-xít lớn tập trung ở các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Quý Châu và khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây.

Báo The Chinanews dẫn nguồn tin từ Tập đoàn Sản xuất nhôm Trung Quốc (Chinalco) cho biết nhằm đáp ứng nguồn cung ổn định cho các công ty sản xuất nhôm nội địa, hằng năm Trung Quốc phải nhập một lượng bô-xít khá lớn, chiếm 1/3 tổng trữ lượng bô-xít trong nước.

Chính vì nhu cầu tiêu thụ quá lớn, nên ngay từ năm 2006 Chính phủ Trung Quốc đã “bật đèn xanh” cho các doanh nghiệp sản xuất nhôm đổ bộ khai thác bô-xít ở nước ngoài theo kế hoạch “quốc tế hóa chiến lược kinh doanh” cho các doanh nghiệp.

Năm 2006, Chinalco đã giành được hợp đồng trị giá 3 tỉ USD đầu tư phát triển mỏ bô-xít ở vùng Aurukun phía bắc Cape York, Úc. Mỏ này có trữ lượng lên đến hàng trăm triệu tấn. Trung Quốc để mắt đến Úc bởi đất nước này có trữ lượng bô-xít chiếm 22% trữ lượng của thế giới. Theo Cri.com, các đối tác mà Trung Quốc đã và đang nhắm đến là VN và Brazil.

Mỹ Loan (Theo Tuổi Trẻ)

Thông báo số 17/TB-VPCP:

Kết luận của TTg Nguyễn Tấn Dũng về thăm dò, khai thác bauxite, sản xuất alumin và luyện nhôm

Phó Chủ nhiệm VPCP Văn Trọng Lý 13-01-2009

Ngày 5-1-2009, tại Văn phòng Chính phủ, TTg Nguyễn Tấn Dũng đã chủ trì cuộc họp về thăm dò, khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm. Tham dự có các PTTg: Nguyễn Sinh Hùng, Trương Vĩnh Trọng, Hoàng Trung Hải và Nguyễn Thiện Nhân, lãnh đạo các Bộ: Công thương, TN&MT, KH&ĐT, NN&PTNT, KH&CN, GTVT, Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh: Đắk Nông, Lâm Đồng, Gia Lai; VPCP và Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam.

Sau khi nghe Bộ Công thương báo cáo, ý kiến của lãnh đạo các Bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, TTg Nguyễn Tấn Dũng đã có ý kiến kết luận như sau:

1. Việc khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại Tây Nguyên là phù hợp với chủ trương của Đảng và Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit giai đoạn 2007–2015, có xét đến 2025 đã được TTg CP phê duyệt tại QĐ số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01-11-2007. Các Bộ, ngành, địa phương, Tập đoàn Than và Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Hóa chất Việt Nam và các cơ quan liên quan có trách nhiệm triển khai thực hiện Quy hoạch đã được duyệt.

2. Giao Bộ Công thương chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị báo cáo để Chính phủ trình, xin ý kiến Bộ Chính trị cho tiếp tục thực hiện việc thăm dò, khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm. Báo cáo cần tập trung nêu rõ các nội dung sau:

- Các chủ trương của Bộ Chính trị và Chính phủ về phát triển công nghiệp khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm.

- Nội dung chủ yếu của Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit giai đoạn 2007–2015, có xét đến 2025.

- Các dự án đầu tư thăm dò, khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm đang triển khai và hình thức thực hiện; các dự án dự kiến hợp tác với phía đối tác nước ngoài để triển khai.

- Ảnh hưởng môi trường trong khai thác, tuyển rửa quặng bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm và các giải pháp khắc phục.

- Chương trình đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho trước mắt và lâu dài phát triển ngành công nghiệp khai thác bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm.

- Kiến nghị Bộ Chính trị cho phép tiếp tục triển khai các dự án theo Quy hoạch được duyệt.

3. Giao PTTg Hoàng Trung Hải chủ trì, tổ chức Hội thảo khoa học về việc thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bauxit và ảnh hưởng môi trường trong khai thác, tuyển rửa quặng bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại các tỉnh Tây Nguyên, các giải pháp khắc phục ô nhiễm môi trườngvới thành phần tham gia, gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, ngành, địa phương liên quan; các nhà khoa học và hoạt động xã hội; các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

4. Trong thời gian chưa hoàn thành việc tổ chức Hội thảo khoa học, Bộ Thông tin và Tuyền thông chỉ đạo các phương tiện thông tin đại chúng không đưa tin về ảnh hưởng môi trường trong khai thác, tuyển rửa quặng bauxit, sản xuất alumin và luyện nhôm tại các tỉnh Tây Nguyên.

VPCP xin thông báo để các Bộ, cơ quan liên quan biết, thực hiện./.

Nhóm Man cộng Hà Nội đang thực hiện kế hoạch tàm thực của Tầu cộng

Lý Đại Nguyên 03-02-2009

Trong thư đề ngày 14-01-08, cựu tướng Võ Nguyên Giáp gửi Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việt cộng để góp ý về dự án bauxite Tây Nguyên. Theo ông Giáp thì: “Đầu tháng 11-2008 một số nhà khoa học và quản lý có tên tuổi đã gửi kiến nghị đến lãnh đạo Đảng và nhà nước đề nghị cho dừng các dự án này để nghiên cứu, xem xét lại, cân nhắc lợi hại một cách toàn diện. Tuy nhiên, các dự án này vẫn được triển khai, trong tháng 12-2008, đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên đã có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại dự án)… Về quy mô, quy hoạch khai thác bô-xít Tây Nguyên từ nay đến 2025 là kế hoạch lớn, giá trị ước tới gần 20 tỷ đô la Mỹ, sẽ tác động sâu sắc nhiều mặt còn hơn cả các công trình kinh tế lớn đã có ở nước ta... Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Tôi đề nghị thủ tướng cho dừng triển khai các dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên và báo cáo Bộ Chính Trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định”.

Đã quá muộn rồi cựu đại tướng Giáp ơi! Bức thư ông gửi ra đúng vào ngày Nguyễn Tấn Dũng họp chính phủ để đưa ra kết luận rằng: “Việc khai thác bauxite, sản xuất và luyện nhôm là phù hợp với chủ trương của đảng Cộng Sản Việt Nam”. Đích ra, chỉ vì nhu cầu sản xuất kỹ nghệ máy bay và phi thuyền của Trung cộng rất cần tới nhôm khai thác tại Việt Nam. Nên hồi cuối tháng 5-2008 Hồ Cẩm Đào chủ tịch Trung cộng đã triệu Tổng bí thư Man cộng Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh để đưa ra quan hệ 2 đảng và 2 nước trở thành “đối tác chiến lược toàn diện”. Rồi bắt Chủ tịch Quốc hội Việt cộng, Nguyễn Phú Trọng sang xác nhận điều hứa đó. Cuối cùng ngày 20 đến 23-10-2008, nhân dịp dự hội nghị ASEM tại Bắc Kinh, Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng Việt cộng phải gặp giới lãnh đạo

Trung cộng để ký kết các văn kiện nhằm“cụ thể hoá mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” ấy. Qua đó, cuối năm 2008 phải hoàn tất cắm mốc biên giới Việt-Hoa, hợp tác khai thác nguyên nhiên liệu dưới biển, trên đất và các quyền lợi kinh tế trọng yếu khác.

Tóm lại đây là văn tự bán nước Việt Nam mà bọn Man cộng Hà Nội đã ký với Tầu cộng Bắc Kinh. Những vùng đất biên giới mà Tầu cộng lấn chiếm của Việt Nam từ nay đã được hợp thức hoá. Các vùng hải đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà Tầu cộng đánh chiếm của Việt Nam thì bọn Man cộng Hà Nội mặc nhiên coi đó là của Trung cộng, nên chúng mới công khai kêu gọi các công ty khoan dầu ngoại quốc hợp tác khai thác, không thèm cho Việt Nam dự phần. Trắng trợn nhất là việc khai thác các mỏ bauxite Tây Nguyên ở Bảo Lộc và Đắc Nông đã trao độc quyền cho Trung cộng đem người Tầu sang khai thác và đem quân đội Trung cộng sang đồn trú để canh giữ, không cho bất cứ người Việt Nam nào được bén mảng tới, kể cả chính quyền, công an, quân đội Việt Nam. Đây là một thứ “Tô giới của Tầu trên đất Việt”. Giống như tô giới của người Tây trên đất Tầu ở Thượng Hải xưa. Trên danh nghĩa, khu vực này bọn Man cộng Hà Nội trao cho ủy viên BCT, bộ trưởng CA là tướng Lê Hồng Anh phụ trách Trưởng ban Chỉ đạo phát triển Tây Nguyên. Nhưng dư luận trong nước ngờ rằng tay này là người Nam bộ gốc Tầu Minh hương, đã được Trung cộng cấy vào cộng đảng VN từ lâu, nên mới được trao cho việc chỉ đạo làm ăn sinh tử độc quyền này của họ, chứ không cho phép đảng và nhà nước Việt cộng trao cho phó thủ tướng Hoàng Trung Hải, hay chính quyền địa phương, hoặc một vị tướng quân đội nào khác, đứng ra quản lý, để nắm vững kỹ thuật khai thác, tránh gây độc hại môi trường, và số lượng sản phẩm để định giá thương mại.

Chính vì đây là vấn đề “bán nước Việt cho kẻ thù truyền kiếp Tầu” nên bọn Man cộng Hà Nội rất sợ phản ứng của Thanh niên, Sinh viên và nhất là Quân đội, vì đó thuộc về Tinh thần Truyền thống của Việt tộc chống Đế quốc Tầu. Đã là người Việt Nam, còn có tâm thức Việt Nam, trong người còn chút Di thức Việt tộc, thì ngay như người cộng sản gộc Võ Nguyên Giáp, cha, chú của bọn Man cộng Nông Đức Mạnh, Lê Hồng Anh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng… khi nhìn thấy bọn con cháu Man cộng vong bản của mình, cam tâm thực hiện kế hoạch “tàm thực” Việt Nam của Trung cộng, cũng phải đau lòng, lên tiếng can gián. Đừng nói gì đến những người trẻ tuổi còn đầy nhiệt huyết đã từng bất chấp đe dọa lao xuống đường lên án Trung cộng xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam hồi tháng 9-2008.

Để phòng ngừa biến cố loạn động lật đổ chính quyền, bọn Man cộng Hà Nội đã ra lệnh cho Ban Tuyên giáo Trung ương phải làm mọi cách để khống chế triệt để các cơ quan ngôn luận của Đảng, tìm cách bỏ tù những ký giả cứng đầu. Đồng thời thiết lập một bộ biên tập đặc biệt, viết ra những bài báo nhằm đánh phá các Tôn giáo đấu tranh ở trong và ngoài nước, gây mâu thuẫn nghi kị giữa những người dám đấu tranh đòi Dân chủ. Do đó mới có những bút hiệu như: Thích Viên Giáo, Thích Siêu Phương, Trần Đại Lĩnh, Như Thuyết, Tâm Nguyện, Trần Lý, Tâm Không, Thấu Tâm Can, Võ Văn Hàm… và nhiều nhóm xuất hiện trên mạng tự nhận là chống cộng cực đoan, nhưng trong đó chủ điểm là dùng ngôn ngữ độc địa chống phá các tôn giáo, chống hết người này tới người khác, rồi gây ra các cuộc binh, chống lẫn nhau trong giới chống cộng hải ngoại một cách hăng say cuồng nhiệt. Khiến cho dư luận trong và ngoài nước rơi vào trận hỏa mù, không còn kịp nhận ra những việc làm lén lút mờ ám của bọn Man cộng Hà Nội đang tiếp tay thực hiện kế hoạch từ từ xâm lăng của Tầu cộng tại Việt Nam.

Chính vì vậy mà Ban Tuyên giáo Trung ương mới được làm kẻ có công đầu trong chiến dịch thôn tính Việt Nam của Trung cộng. Trưởng ban Tuyên giáo là Tô Huy Rứa đã được Hội nghị Trung ương khóa 9 nâng cấp thành ủy viên Bộ chính trị thứ 15. Trước Đại hội X, vai trò của Ban Tư tưởng Văn hóa vẫn do một ủy viện Bộ chính trị đầy quyền lực đảm trách, nay coi như đã lỗi thời, hết xài. Nên cộng đảng đã hạ xuống thành Ban Tuyên giáo Trung ương do một ủy viên Trung ương điều khiển. Đến giờ, nhờ công tác khống chế dư luận hữu hiệu đã đưa Ban Tuyên giáo trở lại Bộ chính trị. Xem vậy sự tồn tại của chế độ độc đảng, độc tài toàn trị Việt cộng có còn duy trì lâu nữa hay không, đều trông cậy vào Ban Tuyên giáo Trung ương có đủ mưu lược khống chế nổi dư luận trong, ngoài nước hay không? “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng”. Nay thì những người làm truyền thông và đấu tranh cho tự do dân chủ đã biết thật rõ, những sự đánh phá lẫn nhau giữa những người chống cộng ở trong và ngoài nước đều do Ban Tuyên giáo Trung ương sách hoạch, khiến chúng ta quên đi những việc buôn dân, bán nước của bọn Man cộng Hà Nội, giúp chúng dựa hẳn vào Bắc Kinh, và nương vào chính sách thuận thảo với Trung cộng của Mỹ mà tồn tại.

Little Saigon ngày 03-02-2009.

Bô-xít và Tây Nguyên, đôi điều cần nói thêm

Hoà Vân 05-02-2009

Ngày 4-2-2009, nhân buổi họp báo đầu năm của Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời một câu hỏi của báo Tuổi Trẻ liên quan đến vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Chúng tôi đăng lại dưới đây (xem khung) toàn văn câu hỏi và câu trả lời, và xin có đôi điều thiết nghĩ cần nói thêm.

* Thưa Thủ tướng, vừa qua đại tướng Võ Nguyên Giáp có một bức thư gửi Thủ tướng về vấn đề khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Xin hỏi Thủ tướng đã nhận được bức thư này?

- Thư của đồng chí Võ Nguyên Giáp tôi đã nhận được. Khai thác bô-xít Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đã được nêu trong nghị quyết đại hội X của Đảng và Bộ Chính trị đã ba lần nghe, kết luận về phát triển bô-xít Tây Nguyên. Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bô-xít Tây Nguyên với tinh thần là phát triển hiệu quả, bền vững. Có ý kiến cho rằng khai thác bô-xít Tây Nguyên sẽ có vấn đề môi trường. Nội lực, tiềm năng đất nước trước hết là con người, thứ hai là đất đai. Hiện nay chúng ta đất chật người đông.

Còn khoáng sản không phải là vô tận, trong đó có dầu thô, thép, đồng, kẽm, đá vôi để sản xuất ximăng… Có những loại khoáng sản khai thác một số năm nữa sẽ không còn. Bây giờ chúng ta đã tìm được là bô-xít, theo tài liệu của Liên Xô để lại trước đây có 8 tỉ tấn, thuộc loại trữ lượng có cỡ của thế giới… Đương nhiên khai thác phải hiệu quả, có tính tới vấn đề môi trường.

Các đồng chí tin rằng trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện nay, cùng với những nhận biết của Chính phủ thì hoàn toàn có thể thực hiện đúng nghị quyết của Đảng là khai thác hiệu quả, làm ra bô-xít, làm ra nhôm nhưng vẫn bảo đảm được môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững, bảo đảm an ninh chính trị của đất nước. Ít hôm nữa sẽ có hội thảo do Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, trình bày với tất cả các nhà khoa học, các nhà báo quan tâm đến vấn đề bô-xít Tây Nguyên qua những vấn đề đặt ra, phương án khai thác thế nào, công nghệ thế nào để tạo sự đồng thuận.

VÕ VĂN THÀNH thực hiện (Tuổi Trẻ 5-2-2009)

1/ Trước hết là về hình thức. Trong báo cáo về “phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010”, được thông qua tại “Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam” (gọi tắt là Đại hội X), có một câu duy nhất nói về chuyện này như sau : “Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, như: lọc hoá dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hoá chất, xi măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo.”

Nhưng trong Báo cáo chính trị (có giá trị cao hơn Báo cáo kinh tế) thì việc khai thác bô-xít đã bị loại ra hoàn toàn. Trong báo cáo chính trị, câu tương đương với câu trên được viết như thế này: “Khẩn trương thu hút vốn trong và ngoài nước để đầu tư thực hiện một số dự án quan trọng về khai thác dầu khí, lọc dầu và hoá dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, hoá chất cơ bản, phân bón, vật liệu xây dựng. Có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô (người viết nhấn mạnh)”

Thế là thế nào ? Tại sao một “chủ trương lớn của Đảng” lại không được ghi trong Báo cáo chính trị ? Thậm chí, lại đi ngược với nó (xem câu in nghiêng trên)(1). Tại sao một “chủ trương lớn của Đảng” lại không được đưa ra bàn thảo rộng rãi như nhiều chủ trương khác trong lúc chuẩn bị đại hội, và cũng chỉ được ghi ngắn ngủi trong một câu nhỏ nằm giữa hàng trăm chi tiết khác của một tiểu mục (II, 1.2) của bản Báo cáo Kinh tế dài mấy chục trang chứ không được phát triển thêm tí nào ?

2/ Về nội dung, có thật Thủ tướng “tin” rằng trong điều kiện khoa học kỹ thuật hiện nay, có thể “làm ra bô-xít, làm ra nhôm nhưng vẫn bảo đảm được môi trường, bảo đảm sự phát triển bền vững, bảo đảm an ninh chính trị của đất nước” ? Làm ra "nhôm" hay mới chỉ là alumin? Và làm sao "bảo đảm được môi trường" khi người ta biết rằng nhà đầu tư nước ngoài đến từ một đất nước thuộc loại ô nhiễm nhất thế giới? Câu hỏi khác: bảo đảm thế nào, ai bảo đảm, có như việc "giám sát" công ty Vedan với dòng sông Thị Vải nay đã thành dòng sông chết hay không?

Ông Thủ tướng có đọc Kiến nghị về “5 nguy cơ và rủi ro”, mà một số nhà khoa học, chuyên gia kinh tế và văn hoá đã gửi cho các nhà lãnh đạo chính quyền sau khi đọc dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên của Tập đoàn Than - Khoáng sản ? Hay bài phân tích đầy tâm huyết, với rất nhiều luận cứ khoa học, nhiều kinh nghiệm thực tiễn của các nước đã hay đang sản xuất nhôm, của cựu đại sứ Nguyễn Trung ? Hay bài viết tập trung hơn vào các vấn đề văn hoá – xã hội – chính trị, của nhà văn hoá Nguyên Ngọc, một người rất am hiểu mảnh đất Tây Nguyên và những dân tộc sống trên đó, nói lên tiềm năng mất ổn định rất lớn của các dự án này, tại một “vùng đất rất nhạy cảm” ? Hay bài phản biện của tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, một chuyên gia của Tập đoàn Than và Khoáng sản (bài đăng hai kỳ trên VietnamNet) ?

3/ Một nội dung khác, không kém phần quan trọng, mà Thủ tướng không đề cập tới, và báo chí trong nước cũng không được quyền nói tới, hoặc nhiều lắm là chỉ đăng một câu viết bóng gió. Như câu : “Đó là chưa tính đến yếu tố nước ngoài tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường ở Tây Nguyên một khi họ đã vào sâu trên một vùng đất rất nhạy cảm như Tây Nguyên” trong bài đã dẫn của Nguyên Ngọc.

“Yếu tố nước ngoài” nói đây thực ra cũng chỉ là một bí mật kiểu “cứt mèo” cố giấu nhưng chẳng ai không ngửi thấy : một bộ phận cao cấp trong Đảng và chính quyền, vì những lý do thầm kín nào đó, đã chiều lòng các “đồng chí” ở Trung Nam Hải, lén lút cho các nhà đầu tư Trung Quốc quyền (độc quyền ?) khai thác bô-xít ở Tây Nguyên – dù Trung Quốc chưa hề đếm xỉa tới khía cạnh công nghệ “sạch” trong lĩnh vực này. Nói thẳng là bán đứng tài nguyên của dân tộc cho một quốc gia đang có nhiều tranh chấp chưa được giải quyết với nước ta. Xin mở ngoặc để nói ngay: Việt Nam cần xây dựng những mối quan hệ hữu hảo với ông bạn láng giềng, nhưng điều đó chỉ có thể thực hiện với sự đồng tình của người dân, và đòi hỏi những chính sách độc lập, khôn ngoan, được trình bày minh bạch trước công luận, thay cho những việc làm lúi xùi kèm theo những cấm kỵ đối với báo chí và những cuộc đàn áp người biểu tình phản kháng. (Đóng ngoặc).

Tây Nguyên không chỉ “rất nhạy cảm” về vấn đề dân tộc như Nguyên Ngọc đã chỉ rõ, mà như mọi người đều biết, là mảnh đất chiến lược mà người nắm quyền kiểm soát sẽ khống chế cả Đông Dương, mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đã chọn làm điểm thọc làm rung chuyển và sụp đổ chế độ miền Nam vào năm 1975. Ai bảo đảm những “công nhân” hay “kỹ sư” mà các công ty Trung Quốc cử sang khai thác bô-xít ở Tây Nguyên không phải là những người lính trá hình, ngoài công việc ở công trường còn có nhiệm vụ nắm những thông tin thiết yếu trong vùng, phục vụ những mục tiêu lâu dài hơn ?

Như chứng từ trong Thư bạn đọc Vĩnh Thanh trên mặt báo này cho thấy - điều mà Diễn Đàn đã viết trong khung kèm theo bài “5 nguy cơ và rủi ro” - dự án này đang “gây ra bức xúc, phẫn nộ ngay trong hàng ngũ Quân đội Nhân dân Việt Nam”. Vấn đề là những bức xúc và phẫn nộ ấy vẫn chỉ lọt ra xã hội qua những cuộc nói chuyện riêng tư, trong khi, như một chính khách Pháp từng nhận xét, chuyện quốc phòng, an ninh quốc gia là chuyện của quốc dân, “quá quan trọng để có thể chỉ phó mặc cho những người lính chuyên nghiệp”.

4/ Và đây cũng là điểm cần nói để kết thúc bài này. Việc nhà báo chỉ được quyền ghi nhận mà không thể chất vấn, phản bác tuyên bố của một nhà lãnh đạo cấp cao của chính quyền, một khi vị ấy đã viện dẫn một “chủ trương lớn của Đảng” - kể cả viện dẫn không đúng - việc đầy dẫy những biện pháp được đưa ra để buộc báo chí “đi đúng lề đường bên phải” thay vì tự do phản ánh mọi khía cạnh của đời sống kinh tế xã hội (dù “đen” hay “đỏ”), phản ánh trung thực tâm tư của người dân, chính là nguy cơ của mọi nguy cơ - suy thoái kinh tế, bùng nổ tham nhũng, mất ổn định chính trị…, cho tới nguy cơ đánh mất cả độc lập của Tổ quốc. Những cơ chế nghiêm chỉnh hơn cần phải được đặt ra và nhất là được tôn trọng, để tiếng nói của người dân, của các nhà khoa học, được tự do cất lên và phổ biến (không ai ngăn cản chính quyền có tiếng nói của mình!), và để xã hội dân sự có điều kiện buộc những nhà cầm quyền phải lắng nghe và có biện pháp đáp ứng những yêu cầu, đòi hỏi hợp tình, hợp lý.

Chuyện các dự án bô-xít ở Tây Nguyên không thể chỉ là chuyện trình bày các “phương án khai thác thế nào, công nghệ thế nào để tạo sự đồng thuận”.

Hoà Vân

(1) “alumin” cũng mới chỉ là một dạng quặng bô-xít được sơ chế, tức vẫn thuộc loại “tài nguyên thô” dùng để luyện nhôm, chưa nói tới những sản phẩm công nghệ sử dụng nhôm mới là những sản phẩm có “hàm lượng tri thức” và trị giá gia tăng cao, mà Việt Nam phải vươn tới.

Khai thác Bô-xít tại Tây Nguyên đe dọa tương lai Dân tộc tới mức độ nào ?

Hoàng Cơ Định 07-02-2009

Trong phiên họp báo chí đầu xuân vào chiều ngày 4-2-2009, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố: "Chính phủ đã phê duyệt một quy hoạch về bô-xít Tây Nguyên với tinh thần là phát triển hiệu quả, bền vững.... Sắp tới, Chính phủ sẽ chủ trì một hội thảo về khai thác bô-xít Tây Nguyên để trình bày với tất cả các nhà khoa học, các nhà báo quan tâm đến vấn đề bô-xít Tây Nguyên qua những vấn đề đặt ra, phương án khai thác thế nào, công nghệ thế nào để tạo sự đồng thuận."

Lời tuyên bố của ông Nguyễn Tấn Dũng cho thấy lãnh đạo đảng CSVN đã quyết định kế hoạch khai thác bô-xít tại Tây Nguyên rồi! Và vì thế, cuộc “hội thảo khoa học” chỉ còn làm công việc trấn an, hay đúng hơn là lừa bịp hoặc cãi bừa để hợp thức hoá một chuyện đã rồi.

Bô-xít là loại khoáng sản để chế tạo ra nhôm, một kim loại cần thiết và có giá trị trong đời sống hàng ngày. Nhưng cái giá để tạo ra kim loại nhôm không phải là từ quặng mỏ bô-xít mà từ điện năng để biến quặng thành kim loại. Đây là điều bất cứ một học sinh nào ở trình độ Trung học đều biết rõ. Với giá điện cực rẻ là 5 cents một kwh, muốn điện phân được 1 kg nhôm phải tốn gần 1 Mỹ kim, cho nên muốn sản xuất ra nhôm, trước tiên phải có một nguồn điện rẻ và phong phú. Về khía cạnh giá trị của quặng bô-xít thì ngược lại, đây là loại khoáng sản rất phổ thông, có thể nói gần như phổ thông nhất trong những loài quặng mỏ. Nhiều người Việt chưa bao giờ trông thấy mỏ sắt hay mỏ than, nhưng danh từ “Cao nguyên đất đỏ”, nguồn bô-xít tại VN, thì chẳng ai lạ gì. So với dầu thô, thường được mệnh danh là “vàng đen” thì bô-xít không thể nào được gọi là “vàng đỏ”. “Vàng đen” từ khai thác, vận chuyển tới biến chế đều dễ dàng và không có phần nào bị bỏ đi. Trong khi việc tinh luyện bô-xít để lấy chất Alumina dùng để chế ra nhôm, đã tạo ra một lượng phế liệu lớn gọi là “bùn đỏ” giết hại mọi cây cối và tràn lan khỏi vùng khai thác rất xa… Đây là lý do nhiều quốc gia phát triển đã dẹp bỏ việc khai thác bô-xít để chế tạo nhôm, trừ trường hợp nước Úc vì ở đây có những vùng hoang vu, không có dân cư hay cây cối, cũng không có mưa để làm trôi bùn đi nơi khác, vì vậy được dùng làm “bãi rác” chứa bùn đỏ.

Việt Nam hiện nay đang thiếu điện, nếu xây dựng thêm nguồn điện lực, thì còn nhiều nhu cầu khác quan trọng hơn là dùng để sản xuất nhôm, vì vậy mà chuyện khai thác bô-xít tại VN sẽ chỉ có thể tiến hành đến giai đoạn sản xuất Alumina. Trong khi nước ta đất hẹp người đông, lại mưa nhiều, phế liệu bùn đỏ sẽ là một đại họa cho môi trường sống của đồng bào. Thêm nữa, chất Alumina có giá trị thương mại không cao, cước phí chuyên chở tốn kém, khách hàng duy nhất để mua Alumina của VN là Trung Quốc và đến đây thì chúng ta đã đủ thấy lấp ló bộ mặt thật của bè lũ bá quyền Phương Bắc và những kẻ vì tư lợi và quyền lực chính trị sẵn sàng coi thường cả môi trường sống của Đồng bào và tương lai Dân tộc.

Việc khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, với khả năng tiêu diệt các ruộng vườn trong vùng, giết chết tiềm năng kỹ nghệ du lịch đồng thời hủy hoại môi sinh ở một địa bàn rộng lớn hơn trong nhiều thế hệ, sẽ làm nghèo đói hàng trăm ngàn người hay hơn nữa. Đổi lại, phương án này sẽ chỉ mang lợi nhuận về cho vài trăm cán bộ đang nắm chức quyền và các tư bản đỏ cấu kết với họ. Như vậy thì phải có thêm 1 yếu tố khác khiến các thủ lãnh đảng CSVN quyết định đem thảm họa kinh tế và môi trường này đến cho dân ta. Đó là để bầy tỏ và thực thi sự thần phục đối với Thiên triều Bắc Kinh.

Bằng việc khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, VN sẽ thành nguồn cung cấp Alumina cho Trung Quốc hiện đang cần rất nhiều nguyên liệu cho kỹ nghệ sản xuất nhôm. Nhưng sự thâm độc của Trung Cộng xa hơn là việc giải quyết nguồn cung cấp Alumina, vì Trung Cộng có thể có các nguồn cung cấp thuận lợi khác bằng đường biển từ Úc, Phi châu và Nam Mỹ… Nhưng khi VN lao vào khai thác bô-xít tại Tây Nguyên thì VN đã tự phá hủy ngành trồng tỉa của mình đồng thời thêm phụ thuộc vào Trung Quốc vì nếu TQ không mua Alumina thì dân Việt sẽ… ăn Alumina mà sống hay sao? Ấy là chưa kể khi khai thác bô-xít tại Tây Nguyên, liệu các lãnh đạo Hà Nội có thể ngăn cản được Trung Cộng đem hàng ngàn nhân viên tới đây hay không? Đây là cơ hội để Trung Cộng tăng cường guồng máy nhân sự của họ để chi phối nội tình Cambốt, Lào và VN, để mang tới Tây Nguyên những dụng cụ trang bị không ăn nhằm gì tới việc khai thác bô-xít và chỉ có giới quân sự và tình báo là biết cách sử dụng. Thật là nhất cử tam tứ tiện.

Trong việc khai thác bô-xít, không phải các lãnh đạo CSVN không biết những thiệt thòi và nguy cơ cho đất nước. Từ lá thư của tướng Võ nguyên Giáp đến phản ứng trên làng dân báo (bloggers) ngoài luồng, và nhất là bài viết rất giá trị của ông Nguyễn Trung, đã nêu lên mọi khía cạnh bất lợi của vấn đề, nhưng tiếc thay, các lãnh đạo đảng CSVN vẫn ngoan cố lao tới… Xét về khía cạnh khổ đau cho dân tộc, có thể nói màn bi kịch của thời Cải cách Ruộng đất sắp tái diễn. Cải cách Ruộng đất hồi đó không cần thiết cho việc kháng chiến chống Pháp, mà chỉ là thể hiện đầu óc lệ thuộc mù quáng của các lãnh đạo CSVN lúc bấy giờ đối với Trung Cộng, và của riêng ông Hồ Chí Minh đối với Mao Trạch Đông.

Hồi đó bà Cát Thanh Long là một chủ đồn điền ở Việt Bắc đã từng tiếp tế, nuôi dưỡng nhiều cán bộ CS nhưng vẫn bị CSVN giết chết để thi hành chính sách Cải cách Ruộng đất, để bầy tỏ sự thần phục đối với Trung Cộng… Ngày nay, chẳng có ai trong số đồng bào ta tại Tây Nguyên có công với CSVN bằng bà Cát Thanh Long xưa kia, vì vậy mà đất đai ruộng vườn của đồng bào sẽ bị hy sinh, xâu xé với lý cớ là để xây dựng khu kỹ nghệ và mở đường giao thông (như đã và đang xẩy ra ở biết bao nơi khác).

Ông Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố vào chiều ngày 4-2-2009 rằng: “Khai thác bô-xít là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”

Quả nhiên đây là một chủ trương lớn, vì là cơ hội cho người của Đảng và Nhà nước CSVN cướp đoạt tài sản của hàng trăm ngàn đồng bào cho đầy túi tham, và là cơ hội cho thành phần lãnh đạo tối cao bầy tỏ sự thần phục tuyệt đối trước quan thầy Bắc Kinh!

Việc biến Tây Nguyên thành nơi khai thác bô-xít cho Trung Cộng không còn là vấn đề tranh chấp tại biên giới, hải đảo hay hải phận, mà rõ ràng đây là hành động rước giặc vào trong nhà, rồi đưa dây cho chúng cột cổ!

Liệu câu hỏi "như thế nào mới là bán nước hại dân?" có còn cần đặt ra cho những người như ông Nguyễn Tấn Dũng và 14 tòng phạm thuộc Bộ Chính Trị đảng CSVN nữa không ?

Hoàng Cơ Định (hoangcodinh@jps.net)

Bô-xít và Tây Nguyên: Cần lên tiếng

Võ Thành Văn 07-02-2009

Vào đầu năm dương lịch 2009 ông Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gởi cho ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một bức thư can ngăn ngưng dự án khai thác bô-xít (bauxite) trên vùng Tây Nguyên. Sau đó tướng Giáp còn đề nghị ông thủ tướng báo cáo Bộ chính trị chỉ đạo tiến hành các nghiên cứu vĩ mô cần thiết làm căn cứ cho mọi quyết định, với lý do là tuyệt đại đa số các nhà khoa học và xã hội cảnh báo việc khai thác này sẽ gây ra ô nhiễm môi trường sinh thái và xã hội một cách nghiêm trọng về lâu về dài cho đất nước.

Trong thư tướng Giáp còn nhắc lại là vào thập niên 80, sau khi khảo sát đánh giá hiệu quả tổng hợp của các chuyên gia Liên Xô, khối COMECON (Hội đồng Tương trợ Kinh tế) đã khuyến nghị Việt Nam không nên khai thác bô-xít trên Tây Nguyên do những nguy cơ gây tác hại sinh thái lâu dài rất nghiêm trọng, không thể khắc phục được đối với chẳng những dân cư tại chỗ, mà còn cả dân cư và vùng đồng bằng Nam Trung Bộ. Vấn đề triển khai dự án bô-xít với những điều lợi hai ra sao mà phần lớn các chuyên gia đã phải lên tiếng can ngăn và đến nỗi ông đại tướng phải lên tiếng mặc dù chưa biết tiếng nói ông đại tướng ngày hôm nay nặng đến cỡ nào.

Trở lại thời gian trước đó, khi vấn đề khai thác bô-xít đã trở thành chủ đề được bàn tán xôn xao dư luận và có một loạt bài viết đánh giá dự án khai thác bô-xít trên Tây Nguyên lợi hại ra sao được đăng tải trên tờ Vietnamnet. Liên quan đến vấn đề này, ông Bộ trưởng Tài nguyên-Môi trường đã trả lời khi bị Quốc hội chất vấn: “Trước đây ta nhìn nhận tài nguyên bô-xít không như hiện nay, ít quan tâm từ khai thác đến nhập khẩu. Gần đây do bô-xít có giá trị cao nên các nước, nhất là doanh nghiệp trong nước mới quan tâm như thế. Tôi nghĩ nôm na vậy.”

Về phía lãnh đạo tỉnh Đắk Nông thì cho rằng nguy cơ môi trường trong các dự án bô-xít có hiện hữu nhưng không lớn. Đổi lại, bô-xít sẽ đem đến tăng trưởng kinh tế và việc làm cho người dân địa phương. "Mình không làm thì bô-xít vẫn là đất thôi". Những người hỗ trợ cho các kế hoạch khai thác bô-xít cho rằng những kế hoạch này giúp phát triển kinh tế trong khu vực và công tác khai thác sẽ sử dụng kỹ thuật hiện đại để giảm thiểu tối đa những hậu quả đối với môi sinh.

Tuy nhiên những người đưa ra các quyết định, các lựa chọn rất quan trọng về công nghệ kỹ thuật bô-xít-alumina lại không có kinh nghiệm gì về alumina-bô-xít Tây Nguyên (giám đốc Công ty bô-xít Nhân Cơ không trả lời chính xác được câu hỏi “bể bùn đỏ có tổng mức đầu tư là bao nhiêu?”, chỉ đưa ra con số “khoảng 200 tỷ đồng”, tức khoảng 12 triệu U$, thấp hơn 10-15 lần mức bình quân của thế giới; nhưng trên hội thảo cứ khẳng định bể chứa bùn đỏ khổng lồ rộng hơn 200ha “do nước ngoài thiết kế” là “rất an toàn”).

Theo ý kiến của nhiều nhà khoa học, quản lý, nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực thì việc khai thác bô-xít là:

- Không cần thiết,  vì nhu cầu về nhôm kim loại của VN không lớn, hàng năm VN chỉ cần nhập khẩu khoảng 100-150 nghìn tấn là đủ dùng (theo Bộ Công Thương).

- Một lựa chọn không thông minh. Vì phát triển một ngành sản xuất tiêu tốn nhiều nước ngay trên một địa bàn còn đang khát nước sẽ làm mất nguồn nước ngọt không có gì thay thế để phát triển các cây công nghiệp trên Tây Nguyên; và vì tất cả các dự án bô-xít đều nằm trong khu vực thượng nguồn lưu vực của sông Đồng Nai và Sêrêpốc nên sẽ làm mất nguồn nước cung cấp cho các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Sài Gòn.

- Không làm tăng ngân sách địa phương. Vì mục tiêu khai thác và chế biến bô-xít thành nguyên liệu thô để xuất khẩu, nên các dự án bô-xít không dẫn đến việc phát triển các dự án đầu tư có hiệu quả khác. Các khoản thuế nộp cho địa phương như thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường... là không đáng kể, và không đủ bù số tiền ngân sách các tỉnh sẽ phải chi ra để khắc phục suy thoái môi trường do khai thác bô-xít.

- Không an toàn về môi trường sinh thái. Môi trường đất bị chiếm dụng và môi trường sinh vật bị hủy hoại, chất thải bùn đỏ gồm các thành phần không thể hoà tan, trơ, không biến chất và tồn tại mãi mãi như Hematit, Natrisilico-aluminate, Canxi-titanat, Mono-hydrate nhôm, Tri-hydrate nhôm v.v… sẽ phải tồn trữ vĩnh viễn trên Tây nguyên dễ có nguy cơ bị trôi lấp, gây thảm họa về môi trường cho các tỉnh phía dưới.

- Không bảo đảm sinh kế cộng đồng của các đồng bào dân tộc thiểu số trên Tây Nguyên.

- Chiếm dụng phần lớn đất nông nghiệp nhưng các dự án bô-xít không mang lại chỗ làm việc cho đồng bào dân tốc thiểu số. Dự án bô-xít Nhân Cơ mới chỉ tuyển chọn được 2 (hai) con em đồng bào dân tộc tại chỗ đi đào tạo công nhân. Hiện dự án bô-xít Nhân Cơ đang gửi người đi đào tạo tại Trung Quốc, nhưng chủ yếu là con em của cán bộ trong công ty từ các tỉnh khác đến. Theo số liệu của Công ty Alumin Nhân Cơ, để triển khai dự án, số lượng lao động sẽ tập trung vào Tây Nguyên khoảng 3000 người, bao gồm kỹ sư, công nhân kỹ thuật (chủ yếu là người Trung Quốc) và một số ít còn lại là lao động từ ngoài Bắc vào. Đối với dự án Tân Rai (đang triển khai ở Lâm Đồng), tình trạng cũng tương tự, và nguy cơ còn hiện hữu hơn vì nhà thầu Trung Quốc đã thắng thầu. Việc người dân tộc trên Tây Nguyên sẽ bị đẩy ra ngoài cuộc sống xã hội ngay trên quê hương của mình, thay vào đó là làn sóng di cư mới của những lực lượng lao động có đủ trình độ từ Trung Quốc và các tỉnh ngoài Tây Nguyên đã trở thành hiện thực.

- Không phát triển bền vững Tây Nguyên. Tuy hiện nay hạ tầng cơ sở Tây Nguyên còn kém phát triển và trình độ của người lao động còn thấp nhưng thế mạnh của Tây Nguyên là đất đỏ bazan. Đây là nguồn tài nguyên rất quý, là nơi duy nhất có khả năng trồng cao su, cà phê, tiêu, điều, chè. Trong đó, tại các khu vực có mỏ bô-xít các cây trồng chủ lực là cà phê, điều, tiêu và cao su có năng suất bình quân tương đối cao và trình độ thâm canh và canh tác của người dân cũng rất chuyên nghiệp. Đây không chỉ đơn giản là “thế mạnh”, theo khái niệm của kinh tế thị trường, đất đỏ bazan của Tây Nguyên là “thế mạnh cạnh tranh cốt lõi”.

Cơ hội phát triển kinh tế của Tây Nguyên là nhu cầu tăng kim ngạch xuất khẩu cà phê, chè, điều, tiêu, cao su v.v… trong cân bằng ngân sách của Nhà nước đang ngày càng tăng. Trong hoàn cảnh VN đã gia nhập WTO, thị trường cho các sản phẩm cà phê, điều, cao su ngày càng được bảo đảm. Theo đánh giá của các chuyên gia, sản phẩm các cây công nghiệp trên vùng đất đỏ bazan có thể dần thay thế kim ngạch xuất khẩu của dầu thô (với trữ lượng có hạn và với sản lượng đang ngày càng giảm) của VN.

- Với lãnh đạo bình thường có trách nhiệm thì trước mắt chỉ biết dự án bô-xít sẽ giúp cho địa phương phát triển kinh tế, tăng thu nhập và tăng trưởng. Nhưng với hiện trạng tham nhũng là quốc nạn hiện nay thì khó ai bảo đảm là những cán bộ có dính tới dự án khai thác bô-xít tại vùng Tây Nguyên lại không vì tư lợi mà nhắm mắt ủng hộ mặc dù biết được dự án này về lâu dài sẽ gây nguy hại cho đất nước.

Dự án khai thác bô-xít Tây Nguyên không chỉ ảnh hưởng tới sự an nguy của người dân trong vùng và những khu vực hạ lưu sông Đồng Nai hôm nay mà nó còn kéo dài đến nhiều thế hệ, gây nên từ ung thư đến quái thai, dị tật. Mặc dù dự án đã bắt đầu khai triển, nhưng nhiều nhà khoa học, quản lý, nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan đến phát triển bền vững kinh tế-xã hội Tây Nguyên đã gửi tới lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ CSVN và các tỉnh đề nghị tạm dừng khai thác bô-xít trên Tây Nguyên để tiếp tục nghiên cứu.

Sự nghiêm trọng của vụ việc đã khiến tướng Giáp và một số nhà khoa học đã phải lên tiếng và báo động đến toàn dân. Tuy nhiên nếu đã thấy trước hậu quả lâu dài cho đất nước và một số lên tiếng vừa qua của tướng Giáp và một vài nhà khoa học chưa đủ thuyết phục được chính phủ CSVN ngưng dự án bô-xít thì tốt nhất tướng Giáp và những nhà khoa học, chuyên gia khác còn có lương tâm hãy tiếp tục lên tiếng nhiều hơn. Và hơn thế nữa, mọi người Việt yêu nước cần phải lên tiếng, không thể để những người chỉ vì đồng tiền cho vào túi riêng mà để lại tác hại cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai.

Những người đang cầm quyền phải có trách nhiệm tạm ngưng ngay dự án này, thuê thêm các chuyên gia khảo sát "độc lập", và trình bày trước toàn dân toàn bộ kết quả khảo sát. Không thể nhắm mắt làm càn để hốt bạc, rồi 10 năm nữa lại đổ thừa cho chất độc Da cam.

Nguyễn Tấn Dũng và kế hoạch khai thác quặng nhôm bauxite

Lâm Phong - Tâm Thức Việt Nam 09-02-2009

Trong cuộc họp báo đầu năm ngày 4-2-2009, thủ tướng CSVN biến thái Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố rằng việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước”, cho dù dự án này gặp phản đối từ nhiều phía. Người ta được biết rằng kế hoạch khai thác quặng nhôm bauxite đã được thực hiện theo quyết định số 167 ký ngày 1-11-2007 của thủ tướng chính phủ Hà Nội. Theo đó thì việc phân vùng, thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxite dự trù là trong giai đoạn từ 2007 đến 2015. Trong năm 2008, theo bản tin BBC thì có hai dự án khai thác bauxite và sản xuất nhôm công xuất tổng cộng 1.2 triệu tấn/năm được tiến hành tại Tân Rai (Lâm Đồng) và Nhân Cơ (Đắk Nông).

Nguyễn Tấn Dũng đã nói như vậy là để trả lời cho những ý kiến phản bác kế hoạch khai thác bauxite của một số nhân vật trong nước, như Võ Nguyên Giáp, như Nguyễn Trung cựu đại sứ CSVN tại Thái Lan và vài người trí thức khác. Những lý do chính đưa ra chống đối việc khai thác nhôm này thuộc hai loại. Một là sự huỷ hoại môi trường sinh thái trầm trọng. Hai là vấn đề lợi tức mà việc khai thác đưa lại là không đáng kể, do điều kiện thực tế kỹ thuật và hạ tầng cơ sở cũng như nhân sự Việt Nam, chưa nói đến sự lỗ lã vì tình hình cạnh tranh gay gắt trên thế giới về loại sản phẩm này mà Việt Nam khó có thể đương đầu. Tất cả đều được dẫn chứng bởi những con số và hình ảnh rõ ràng thu gom từ các nguồn tài liệu trên thế giới. Vì thế, trong buổi họp báo, Nguyễn Tấn Dũng đã hứa hẹn rằng là chính phủ sẽ tổ chức một cuộc hội thảo về các phương án khai thác "nguồn tài nguyên to lớn này một cách bền vững, hiệu quả, đảm bảo môi trường sinh thái và an ninh quốc gia".

Nghe thì hay lắm, chính phủ quan tâm lắng nghe mọi ý kiến đóng góp lắm. Nhưng chỉ suy nghĩ một chút thì thấy ngay đây là một trò diễn xuất khoả lấp. Bởi vì kế hoạch đã tiến hành rồi. Tiền của đã bỏ ra rồi, không lý sẽ ngừng tất cả lại vì những ý kiến sẽ đưa ra trong một cuộc hội thảo, sẽ tổ chức? Ngoài ra trong cuộc họp báo đầu năm khi NTD tuyên bố rằng là việc khai thác quặng mỏ bauxite tại Tây Nguyên là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước” thì điều này có nghĩa rằng là chuyện đã quyết định, không thể đảo ngược. Thực vậy, người ta biết rằng trong tháng 12-2008 “đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án)”. Đó là theo như bài viết phản đối kế hoạch của Võ Nguyên Giáp.

Nhân vụ khai thác quặng nhôm này, có thể nẩy ra một số câu hỏi.

Thứ nhất là tại sao những giới chức lãnh đạo đảng và nhà nước lại có thể cho tiến hành một kế hoạch đầu tư mà chỉ thấy sự thiệt hại cho môi trường và tiền bạc Việt Nam? Có người sẽ bảo rằng là tại vì lãnh đạo CSVN dốt. Đó chỉ là câu trả lời miệt thị cho sướng miệng, vui lòng, vì thù ghét CS. Ở vị trí lãnh đạo quốc gia, những người Cộng sản phương tiện không thiếu để có thể thuê mướn chuyên viên các loại từ khắp nơi nghiên cứu mà tìm ra lời giải để quyết định. Việc ký kết khai thác quặng nhôm này cũng như các giao kèo khai thác và mua hàng khác thất lợi cho đất nước, chỉ là vì một ưu tiên quan trọng hàng đầu là sự ủng hộ chính trị giúp củng cố quyền lực và đem lại tiền bạc cho lãnh đạo. Xây sòng bài và nơi giải trí, làm sân golf, mua máy bay mà không sử dụng hiệu quả, vân vân… cái lợi tối thiểu đầu tiên là tiền hoa hồng chạy vào túi, chưa nói đến các quyền lợi cổ phần chia chác ngầm bên trong.

Thứ hai là tại sao khai thác quặng nhôm mà phải nhờ đến công nhân Trung Quốc, trong khi Việt Nam người thất nghiệp không thiếu? Không thể nêu lý do Việt Nam không có công nhân đủ khả năng. Cho dù như vậy, thì việc đào tạo công nhân khai thác quặng mỏ không đòi hỏi các huấn luyện lâu ngày dài tháng một cách quá đáng. Người ta chỉ có thể cắt nghĩa rằng cái giao kèo cho công nhân Trung Quốc vào quặng nhôm lại cũng là một nguồn đem lại tiền bỏ túi cho giới chức trách nhiệm kế hoạch.

Kết luận là gì? Là những giới chức đương quyền tại Việt Nam đã và đang bán rừng bán biển, bán đất, và để mặc cho tài nguyên nhân lực Việt Nam bị khai thác hay phế bỏ tuỳ thích bởi các thế lực tài phiệt mọi nơi, dưới chiêu bài đầu tư phát triển, chỉ vì một mục tiêu duy nhất là đóng tròn vai trò đối tác. Hai chữ đối tác này chẳng qua là danh từ mới để chỉ những tay sai ở các nước tiểu nhược trong thế giới toàn cầu thương mại hiện nay. Bản chất không có gì khác so với vai trò thi hành nghĩa vụ quốc tế vô sản trong thế giới lưỡng cực đối đầu thời chiến tranh lạnh, giữa chủ nghĩa bành trướng thế giới đại đồng Cộng sản và thế giới tư bản.

Lâm Phong (ngày 9-2-2009)

Ngày mất nước còn xa không?

Trọng Tín 11-02-2009

Lá bài dùng chiến thuật hợp tác kinh tế để xâm thực đất đai, cũng như xây dựng những công trình mang tính quân sự chiến lược đã không phải được Trung Cộng áp dụng 1 lần mà rất nhiều lần trong quá khứ. Trong giai đoạn 1950-1970, Trung Cộng tỏ ra rất xăng xái khi giúp Việt gian Cộng sản (VGCS) mở đường, viện trợ vũ khí, viện trợ lương thực, viện trợ quân đội. Trung Cộng làm vậy vốn không phải vì tử tế gì với người dân Việt Nam mà vì mộng muốn làm bá chủ Đông Nam Á mà trước hết là thôn tính Việt Nam. Không những thế, qua cuộc chiến với Pháp rồi VNCH, Trung Cộng đã được nâng tầm trở thành 1 trong những trung gian ngoại giao quan trọng (như việc thay thế Đài Loan năm 1972 với tư cách là ủy viên thường trực LHQ). Trong những năm 60-70, một mặt Trung Cộng ra sức trang bị cho VGCS vũ khí, lương thực, người, mặt khác giả nhân giả nghĩa giúp VGCS xây dựng các công trình giao thông để rồi sau đó chính những con đường huyết mạch này trở thành tuyến đường cho Trung Cộng chớp nhoáng chiếm gọn 6 tỉnh biên giới.

Sách lược không thay đổi, chỉ có khẩu hiệu là mới, Trung Cộng ngày nay ra sức tuyên truyền cái gọi là hữu nghị hợp tác đôi bên cùng có lợi. Kỳ thực những ai chơi với Trung Cộng đều thấy rằng kẻ có lợi là Trung Cộng, bởi lẽ Trung Cộng có một lợi thế mà ai cũng biết, đó là hơn 1 tỷ con người đã bị nhồi sọ về tư tưởng bành trướng. Hơn thế nữa, người dân Hán trải qua ngàn đời sinh ra chỉ có biết đánh nhau, cướp đoạt, lừa gạt, xảo trá nên người Hán không từ bất cứ thủ đoạn nào kể cả nếm phân như Câu Tiễn, hoặc tàn ác như Tần Thủy Hoàng, tráo trở như Bàng Quyên và chúng gọi đó….. mưu kế. Gần đây, Trung Cộng dụ khị đám VGCS tạo ra những khu kinh tế mở ở các tỉnh phía Bắc, xây dựng những con đường huyết mạch để thông thương Quảng Tây-Quảng Đông, kỳ thực đây là một hình thức chuẩn bị để có những đợt xâm thực ồ ạt hoàn toàn "hợp pháp". Nhiều bài viết đã phân tích cho thấy họa Trung Cộng sẽ tràn ngập Bắc Việt như thế nào, thiết tưởng không cần phải nói thêm. Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó…

Ngày 4-2-2009 tên Việt gian Nguyễn Tấn Dũng mà nhiều nhà dân chủ cuội trong nước cũng như đám đấu tranh phèng la ở Hải Ngoại cho rằng thuộc phe cấp tiến, thậm chí còn có cả những thằng mặt người nhưng óc chó thì tung hô hắn là Gorbachev hay Yelsin gì đó đã tuyên bố cho phép Trung Cộng khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Đạt được mục đích này Trung Cộng có rất nhiều lợi thế:

Thứ nhất Trung Cộng thuộc loại quốc gia đang phát triển với 1 nền công nghiệp lạc hậu, thiên về khai thác môi trường tự nhiên để làm lợi tức nên bản thân nền công nghiệp của Trung Cộng rất khát nguyên liệu. Chưa hết, nhu cầu nguyên liệu của Trung Cộng còn phục vụ cho mục đích quốc phòng. Chúng ta đều biết hàng năm Trung Cộng bỏ ra đến 30% GDP để phát triển vũ khí. Cách đây không lâu những tờ báo như Asia Time đã đăng những bài báo thống kê rằng có quá nửa số dân Trung Cộng đang bị tác động đến sức khỏe bởi tình trạng ô nhiễm môi trường ở Trung Cộng, ô nhiễm nước sạch, ô nhiễm không khí, và ngay cả thức ăn cũng như thực phẩm hàng ngày; tình trạng này ngày càng diễn ra trầm trong. Với một cách thức sản xuất như vậy, việc Trung Cộng đến Tây Nguyên khai thác quặng bauxite sẽ để lại những hậu quả khôn lường tại miền cao nguyên. Như vậy Việt Nam sẽ rơi vào cảnh vừa bị tàn phá môi trường và tài nguyên đất nước lại mất về tay Trung Cộng tạo thêm sự trầm trọng về nạn xâm thực hàng hóa cũng như làm yếu đi khả năng cạnh tranh của các công ty trong nước nếu chưa nói là tiếp tay cho Trung Cộng sản xuất vũ khí đánh lại dân Việt.

Thứ hai, Trung Cộng đưa công nhân sang Việt Nam chứ không hoàn toàn thuê nhân công Việt Nam. Tại sao? Ai cũng biết những dự án khai thác kiểu này sẽ diễn ra trong nhiều năm, công nhân Tàu sẽ tăng dần số lượng theo tốc độ khai thác (hiện nay con số đã lên tới cả ngàn). Những chuyện gì sẽ xảy ra??? Tình trạng định cư dài hạn hợp lý của một số lượng lớn người Tàu kéo theo hàng loạt vấn đề xã hội nảy sinh tại Việt Nam vốn đã băng hoại đến tận gốc, ví dụ con hoang Tàu, nhà hàng Tàu, nhà ở cho Tàu v.v… Nhưng đó vẫn chưa phải là vấn đề cốt lõi. Thông qua cái gọi là khai thác quặng, tất nhiên phải xây dựng những công trình ngầm. Với lực lượng chủ yếu là công nhân Tàu thì việc Trung Cộng bố trí những công trình ngầm nhằm phục vụ cho mục đích quân sự là chuyện rất dễ dàng. Tây Nguyên, ngoài lý do là một miền cao nguyên phì nhiêu, nhiều khoáng sản, còn là 1 trong những vị trí rất chiến lược để khống chế toàn bộ Nam Bộ, xa hơn nữa là bàn đạp để tiến tới Cambodia.

Nhiều người Việt đã, đang và vẫn biết rằng Tàu là giặc, một kẻ thù truyền kiếp của người Việt. Từ ngàn xưa, lịch sử của dân tộc chúng ta là chống Tàu và cũng ngần ấy thời gian Tàu luôn tìm cách đồng hóa, cải biến và thôn tính người Việt. Người Việt đối với Tàu chưa bao giờ là bạn và sẽ là không bao giờ là bạn, bởi lẽ Tàu không bao giờ bỏ ý định thống trị người Việt và tinh thần của người Việt không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng vào những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 này, dân tộc Việt đã bị phản bội bởi 1 đám Việt gian đội lốt Cộng sản mà đứng đầu là Hồ Chí Minh. Chúng đã không ngừng chà đạp văn hóa dân tộc, giết hại người yêu nước, bào mòn tinh thần dân tộc trong ý thức của các thê hệ trẻ Việt Nam, tiếp tay cho ngoại bang mà chủ yếu là kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt có cơ hội thống trị Việt Nam 1 lần nữa. Tôi tha thiết kêu gọi sự cảnh tỉnh với tất cả các bạn trẻ còn dòng máu Việt chảy trong huyết quản hãy ý thức ngày hiểm họa của dân tộc đang đến gần. Ngày ấy không còn xa. Nếu chúng ta không làm được một việc, đó là đánh đuổi lũ Việt gian Cộng sản ra khỏi đất nước, giành quyền tự chủ lại cho dân tộc, một ngày kia con cháu chúng ta sẽ không còn được nghe những câu hò Nam ai Nam bình, những câu hát Quan họ, những điệu vọng cổ 6 câu, bởi vì chúng ta sẽ biến mất, dân tộc Việt Nam sẽ không còn tên trên thế giới này.

Trọng Tín (Kyoto)

Tây Nguyên Hán hóa

Trần Khải 11-02-2009

Như thế là bám chặt xong một bước Nam tiến cho nhà nước Trung Quốc: Thủ tướng chính phủ CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phát biểu với báo chí quốc nội rằng dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Việt Nam, và ông sẽ cho tiến hành dự án, mặc những ý kiến phản đối từ giới khoa học cũng như nhiều người dân tại Vùng Tây Nguyên -- bất kể các quan ngại về môi trường, hay quan ngại ảnh hưởng Trung Quốc tại vùng đất biên giới nhạy cảm. Có phải đây là một trong các bước của chính sách tằm ăn dâu, nhằm Hán hóa Tây Nguyên?

Bản Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc đăng ở trang mạng Bộ Ngoại Giao CSVN (http://www.mofa.gov.vn/vi/nr040807104143/nr 040807105001/ns080602092528) ngày 11-2-2009 đã nói minh bạch về dự án khai thác mỏ Tây Nguyên rồi.

Cần ghi nhận rằng Bản Tuyên bố chung khởi lên từ việc Tổng Bí thư CSVN Nông Đức Mạnh thăm Trung Quốc từ ngày 30-5 đến 2-6-2008 và đã họp với các lãnh đaọ CSTQ để dẫn tới các cam kết. Bản Tuyên bố chung còn cho thấy mô phỏng hai mô hình phát triển đảng, nhà nứơc, và xã hội quần chúng giữa hai nứơc, nghĩa là sửa soạn làm cho “đồng văn” tuy chưa là “đồng chủng”. Bản văn trích:

...4. Hai bên nhấn mạnh sẽ tiếp tục duy trì truyền thống tốt đẹp tiếp xúc mật thiết giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; tuyên bố thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo Việt Nam - Trung Quốc. Hai bên nhất trí phát huy đầy đủ vai trò của Uỷ ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc, quy hoạch tổng thể và thúc đẩy toàn diện sự hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực; xây dựng cơ chế giao lưu và hợp tác giữa các cơ quan Trung ương hữu quan của hai Đảng; đi sâu trao đổi về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và về xây dựng Đảng, quản lý đất nước; tiếp tục tổ chức tốt các cuộc hội thảo lý luận giữa hai Đảng; thúc đẩy hợp tác về đào tạo và bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý; thúc đẩy cơ chế hợp tác có hiệu quả giữa các bộ, ngành ngoại giao, quốc phòng, công an, an ninh; mở rộng hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, giáo dục...; triển khai mạnh mẽ giao lưu hữu nghị giữa thanh thiếu niên, các đoàn thể quần chúng và các tổ chức nhân dân; phối hợp tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

“5. Hai bên hài lòng trước đà phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước trong những năm gần đây; nhất trí tiếp tục thực hiện tốt Hiệp định về mở rộng và đi sâu hợp tác kinh tế thương mại song phương; khẩn trương bàn bạc, ký kết và thực hiện tốt “Quy hoạch phát triển 5 năm về hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc”, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm; nâng cao hơn nữa quy mô và mức độ hợp tác kinh tế thương mại. Hai bên đồng ý trên tinh thần bổ sung ưu thế cho nhau, cùng có lợi, cùng thắng, tích cực tìm kiếm những lĩnh vực tăng trưởng mậu dịch mới, duy trì kim ngạch mậu dịch song phương tăng trưởng nhanh; đồng thời áp dụng những biện pháp thiết thực và có hiệu quả để cải thiện cơ cấu mậu dịch, thực hiện phát triển cân bằng mậu dịch song phương. Hai bên tích cực ủng hộ và thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: Bô-xít Đắk Nông, các dự án trong khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai kinh tế” và các dự án lớn khác. Hai bên khẳng định tăng cường hợp tác trong các cơ chế kinh tế khu vực, liên khu vực và quốc tế như Tổ chức Thương mại thế giới....” (hết trích)

Điều quan ngại là nhiều chuyên gia đã lên tiếng phản đối dự án này từ lâu. Đài RFA hôm 9-2-2009 qua bài “Cương quyết khai thác bô-xít ở Tây Nguyên” đã ghi về các quan ngại chuyên môn, trích: “...Nhiều ý kiến lo ngại việc tiến hành dự án khai thác bô-xít có thể hủy hoại môi trường sống của vùng Tây Nguyên...   

Thủ tướng chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong tuần rồi phát biểu với báo chí trong nước rằng dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên là chính sách lớn của Việt Nam, và ông cương quyết cho tiến hành dự án, mặc dù lâu nay có nhiều ý kiến phản đối từ giới khoa học, cũng như nhiều người dân tại Vùng Tây Nguyên.

Lý do mà giới chuyên môn nêu ra là họat động khai thác quặng bô-xít sẽ tác động ảnh hưởng đến môi trường cũng như đời sống của cư dân địa phương; trong khi lợi ích kinh tế mà nguồn khóang sản thu được không kinh tế. Ngay cả một vị tướng nổi tiếng của Việt Nam là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, cũng gửi thư cho Thủ tướng chính phủ kêu gọi nên dừng dự án lại...

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, thuộc TKV (Tập đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam) là người có những ý kiến phản biện mạnh mẽ. Bài viết của ông Nguyễn Thanh Sơn sau đó được nhiều báo chí trong nước trích đăng. Ông Nguyễn Thành Sơn nêu ra bốn tác động bất lợi khi tiến hành dự án khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Một trong bốn điểm đó là lượng lớn bùn đỏ thải ra. Lọai bùn đỏ này được ví như bom bẩn vừa làm ảnh hưởng môi trường, vừa là một nguy cơ đe dọa mạng sống con người.

Ông Nguyễn Thành Sơn cho biết thông tin về quá trình tạo ra bùn đỏ và tác hại của nó: “Bùn đỏ chứa 70% nước và 30% chất thải quặng thì rất nguy hại về môi trường, vì 70% còn lại chức NAOH, sút.” Tiến sĩ Trần Bỉnh Chư, phó trưởng Bộ môn địa chất, thuộc Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội cũng có giải thích sơ lược về việc sử dụng hóa chất để tuyển quặng bô-xít từ đó có thể gây hại cho môi trường...” (hết trích).

Đặc biệt, nhà báo lão thành Bùi Tín từ Paris tuần này đã phổ biến bài viết nhan đề “Về những vụ án đầu Xuân: Chớ có nhầm, rồi hối không kịp!” đã cảnh báo thêm: “...Nếu 15 người tự cho mình toàn quyền cai trị đất nước vẫn đặt việc bảo vệ nhóm tội phạm trong vụ án PCI cao hơn cuộc sống của nhân dân, không mảy may nghĩ đến những thiệt thòi mà đất nước và nhân dân phải gánh chịu, họ sẽ phải trả giá cho lập trường sai lầm ấy. Hãy xem: cả tháng 1-2009, nguồn FDI (Foreign Direct Investment) đổ vào chỉ có 185 triệu đôla, bằng 11% tháng 1-2008, so với ODA Nhật hiện bị treo lên đến 900 triệu đôla.

“Họ có thể tạm giữ được ghế ở chóp bu, gây tiếp vô vàn tai hoạ cho đất nước, nhưng nền đất dưới ghế họ bám đã lung lay và còn lung lay dữ dội. Đầu Xuân này, vụ PCI cay đắng đã gõ cửa xông đất nhóm lãnh đạo chóp bu cộng sản. Các Vụ án lớn khác đang xếp hàng nối tiếp.

“Ngay trước mắt, vụ khai thác bô-xít ở Tây Nguyên đang nổ lớn. Tiến lùi đều khó. Ông tướng Giáp đã mang chút sức còn lại của tuổi 99 vào cuộc; nhiều trí thức có uy tín lên tiếng, như ông Nguyễn Trung vừa lên tận huyện Đắk Nông để cảnh báo về thảm hoạ môi sinh, như nhà văn Nguyên Ngọc gắn bó với Tây Nguyên dự báo bùn đỏ bô-xít sẽ tận diệt cuộc sống Tây Nguyên. "Vụ bô-xít" đang nổ lớn khi có tin hàng mấy trăm công nhân của Bắc Kinh hiện đã có mặt ở Đắk Nông để triển khai đào mỏ, mà quốc hội Hà Nội không hề hay biết. Vụ này đang nổ to thêm từng ngày khi Nhân Dân Nhật Báo Bắc Kinh đưa tin: năm 2008, Trung Quốc đã ra lệnh đóng cửa gần một trăm mỏ bô-xít trong vùng Thái Nguyên thuộc tỉnh Sơn Tây và trong huyện Tĩnh Tây thuộc tỉnh Quảng Tây, "vì quặng bô-xít tàn phá môi trường, còn gây nên nhiều bệnh lạ cực nguy hiểm cho con người". Giở lại Tuyên bố chung Trung - Việt (1-6-2008) nhân chuyến Nông Đức Mạnh sang Bắc Kinh, có ghi: "Hai bên tăng cường hợp tác trong các dự án như: bô-xít Đắk Nông...". Thế là rõ, Đắk Nông là đầu vị của hợp tác. Cái đểu giả kinh khủng của bọn bành trướng là đóng cửa hàng trăm mỏ bô-xít trên đất chúng vì tai hoạ môi sinh, rồi bắt buộc bộ hạ ở nước ta khai mỏ để cung cấp nguyên liệu cho chúng phát triển ngành nhôm cho công nghiệp hàng không, tàu chiến, tên lửa... Một kiểu xuất khẩu tai hoạ môi sinh theo tư duy Đại Hán, buộc các nhược tiểu dân tộc gánh thay. Hàng nghìn dân Tàu nữa sắp đến Đắk Nông, theo tôi biết, cầm chắc là số lao động của Tổng cục kinh tế Quân giải phóng, nghĩa là những chiến binh thực thụ. Bộ chính trị đang "rước voi dữ" vào nước ta, mà tổng Mạnh và thủ Dũng tỏ ra hăng hái nhất trong việc mời đón này. Nay mới biết, ông Dũng đã hạ bút ký Quyết định 167, phê duyệt quy hoạch khai thác mỏ bô-xít lớn Đắk Nông từ ngày 1-11-2007. Họ đã đi đêm với nhau từ lâu. Không cần súng đạn, quân bành trướng đã cắm chốt trên địa bàn chiến lược Tây Nguyên...” (hết trích)

Một hình ảnh thấy rõ trứơc mắt: Chúng ta đang chứng kiến Đảng CSVN rước voi dữ vào nhà. Tại sao như thế? Đây thấy rõ là thế cờ Tây Nguyên Hán hóa, một biến thể của vở Trọng Thủy -Mỵ Châu năm xưa.

Ai có thể ngăn chận diễn tiến này được? Đã tới lúc phải đưa câu hỏi này cho toàn dân suy nghĩ, và bắt tay biến đổi cuộc cờ.
http://anhduong.net

Vụ bô-xít: ai đã quyết, và ai sẽ phủ quyết?

Thiện Giao, phóng viên RFA 11-02-2009

Những ngày này, khi nói về bauxite và những dự án khai thác khổng lồ tại Việt Nam với sự hiện diện của người Nga và cả người Trung Quốc, giới quan sát đặt ra hàng loạt câu hỏi liên quan đến hệ quả của các chương trình đầy tham vọng này.

Chẳng hạn, trên blog của một blogger tên Linh, tác giả viết, rằng: “Chắc phải sớm đi Tây Nguyên,” trước khi “núi rừng bị cày nát,” trước khi xuất hiện “những dòng suối đỏ ngầu màu bùn và chất thải,” trước khi “những cánh đồng cà phê bị khát cháy vì thiếu nước,” và trước khi “mảnh đất giữa lòng Việt Nam bị một nhát dao xé nát ngang hông, chia Nam Bắc thành hai nửa.”

Một tác giả khác, tên là Võ Văn Thành, có bài phân tích được đăng trên blog của blogger Trung N., đặt vấn đề mang tính kinh tế. Ông Thành viết rằng, khai thác bauxite tại Việt Nam là “không cần thiết, vì nhu cầu về nhôm kim loại của Việt Nam không nhiều”, khai thác bauxite tại Tây Nguyên là một chọn lựa “không thông minh” vì có thể làm mất nguồn nước cung cấp cho Đồng Nai, Bình Dương, Sài Gòn; khai thác bauxite làm ảnh hưởng cuộc sống đồng bào sắc tộc thiểu số; và khai thác bauxite sẽ khiến “người dân tộc trên Tây Nguyên bị đẩy ra ngoài cuộc sống xã hội ngay trên quê hương của mình.”

Chủ trương lớn?

Đến ngày 5 tháng Giêng vừa qua, một nhân vật quân sự nổi tiếng Việt Nam, là đại tướng Võ Nguyên Giáp, gởi thư cho thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nhấn mạnh:

Việc xác định một chiến lược phát triển Tây Nguyên bền vững là vấn đề rất hệ trọng đối với cả nước về kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng.” Bức thư gởi người đứng đầu chính phủ cũng nhắc đến việc “trong tháng 12 năm 2008, đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đầu tiên có mặt trên công trường, (dự kiến cao điểm sẽ lên tới vài nghìn tại một dự án).” Ông Dũng trả lời tướng Giáp, thông qua phương tiện truyền thông, rằng “vấn đề khai thác bauxite tại Tây Nguyên là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước.

Những thông tin trên báo chí trong nước cho thấy bauxite không chỉ được khai thác ở Tây Nguyên. Cao Bằng và Bình Phước cũng sẽ là những cuộc chơi lớn. Và không chỉ người Trung Quốc, mà cả người Nga cũng sẽ dự phần trong các cuộc khai thác qui mô ấy.

Thủ tướng Dũng dường như cũng có lý cớ để khẳng định rằng “khai thác bauxite là chủ trương lớn của Đảng và Nhà Nước.” Hãy điểm qua một vài sự kiện của quá khứ:

Bản tin của Interfax ngày 27-10-2008 viết rằng, 2 phía Việt–Nga đã ký biên bản ghi nhớ về việc khai thác bauxite, như một phần của chương trình hợp tác lớn giữa 2 quốc gia, với sự chứng kiến của tổng thống Nga Dmitri Medvedev và chủ tịch Nguyễn Minh Triết nhân chuyến ông Triết sang Nga. Bản tin cũng nói, đại diện tập đoàn UC RUSAL của Nga cũng đã gặp ông Dũng trong chuyến sang Việt Nam, kể rằng, ông Dũng nói Việt Nam rất mong phát triển kỹ nghệ nhôm.

Bản tin của Bộ Ngoại Giao Việt Nam thì nói, hồi giữa năm ngoái, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, ông Nông Đức Mạnh, sang thăm Trung Quốc, cũng khẳng định 2 nước “tăng cường hợp tác trong các dự án” trong đó có dự án khai thác bauxite tại Đắk Nông!

Ai lợi, ai thiệt?

Trở ngược về thời điểm đầu năm 2007, chính thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 167, có nội dung “phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến sử dụng quặng bauxite giai đoạn 2007 đến 2015, có xét đến năm 2025.”

Nhiều ý kiến lo ngại việc tiến hành dự án khai thác bô-xít có thể hủy hoại môi trường sống của vùng Tây Nguyên. Câu hỏi đặt ra: ai sẽ hưởng lợi, và ai sẽ chịu thiệt thòi, một khi các dự án khai thác bô-xít khổng lồ ở Tây Nguyên, ở Đắk Nông, ở Cao Bằng, ở Bình Phước, chính thức đi vào hoạt động?

Trên blog của nhà báo Bùi Thanh, nguyên là phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ, vừa bị thôi việc gần đây, độc giả có thể tìm được phần nào lời giải đáp.

Bùi Thanh viết rằng: “Công ty phía Nga tham gia khai thác bô-xít tại Việt Nam là United Company RUSAL, một “tập đoàn tầm cỡ thế giới trong ngành công nghiệp nhôm với sản lượng nhôm và alumina tương ứng xấp xỉ 12% và 15% sản phẩm toàn cầu.” Còn phía Việt Nam thì có công ty cổ phần “An Viên (An Viên Group), hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực bất động sản, xây dựng, du lịch, khách sạn, khu vui chơi giải trí.”

Vẫn theo Bùi Thanh: “An Viên bao gồm một nhóm các nhà đầu tư đã và đang kinh doanh trên 9 tỉnh thành thuộc lãnh thổ Việt Nam. Một số dự án điển hình đã được thực hiện bao gồm: Khu Trung tâm Thương mại và văn phòng cho thuê Vincom Tower tại Hà Nội, Dự án Vinpearl Resort & Spa tại Nha trang, dự án khu du lịch và sinh thái An Viên tại Nha Trang… Từ năm 2008, An Viên bắt đầu quan tâm và bước đầu triển khai nghiên cứu dự án thăm dò bauxite tại khu vực Bình Phước… Đại diện An Viên Group ký Biên Bản Ghi

Nhớ là ông Phạm Nhật Vũ. Phạm Nhật Vũ chính là em trai Phạm Nhật Vượng, ông chủ Techno-com, Vincom.

Điều đáng ngạc nhiên ở đây là công ty An Viên đang từ kinh doanh bất động sản, khách sạn, du lịch giải trí… đã chuyển sang khai thác bauxite, với cú bắt tay với gã khổng lồ UC Rusal.

Vì vậy, sẽ rất khó cho tướng Giáp và các nhà khoa học, nhà báo đang đấu tranh không mệt mỏi vì một Tây Nguyên an lành, trước nguy cơ và hiểm họa môi trường không tránh khỏi do những dự án khai thác khổng lồ của “những anh bạn đói nguyên liệu nhôm” đến từ Matxcơva và Bắc Kinh…

Dư luận quan ngại

Về phương diện kỹ thuật, nhiều nhà khoa học trong nước đã và đang lên tiếng phản đối việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Xin dẫn lại những phát biểu của mốt số nhà khoa học đã từng phát biểu trên đài chúng tôi về vấn đề này.

Tiến sĩ Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Công ty Năng lượng Sông Hồng, là người có những ý kiến phản biện mạnh mẽ, nói rằng bùn đỏ thải ra trong quá trình khai thác bauxite được ví như “bom bẩn” đe doạ môi trường và mạng sống con người. “Bùn đỏ chứa 70% nước và 30% chất thải quặng thì rất nguy hại về môi trường, vì 70% còn lại chất NAOH, tức là xút.”

Tiến sĩ Trần Bỉnh Chư, phó trưởng bộ môn Địa Chất, thuộc Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội đặt câu hỏi về việc giải quyết chất thải sinh ra trong quá trình “làm giàu” bauxite: “Bô-xít có thành phần chính là AL2O3 cộng với một số hợp chất; mà muốn làm giàu lên thì phải sử dụng hóa chất để giải phóng, tức là tách các hợp chất ra; sau khi xử lý ra thì chất thải đó đổ đi đâu. Nếu tích lại mà thấm ra đất thì ảnh hưởng.”

Tiến sĩ Phạm Duy Hiển thì cảnh báo rằng, phá môi trường Tây Nguyên sẽ gây thiệt hại không chỉ cho Tây Nguyên: “Tây Nguyên được ví như mái nhà Đông Dương nên phải thận trọng. Phá môi trường vùng như Tây Nguyên thì sẽ gây ra những thiên tai lớn không chỉ Tây Nguyên mà còn những vùng dưới nữa.”

Xét đến khía cạnh văn hoá, thì nhà văn Nguyên Ngọc, người am hiểu văn hoá Tây Nguyên, tỏ ra đặc biệt quan ngại. Ông nói, khai thác bauxite tại Tây Nguyên đồng nghĩa với việc phá huỷ đơn vị xã hội cơ bản của địa phương này: “Xung quanh dự án bô-xít tại Tây Nguyên, hiện có rất nhiều lo lắng trong xã hội. Lo lắng về nhiều mặt, kể cả kinh tế, về mặt môi trường, xã hội, an ninh quốc phòng, v.v… Tôi thì tôi lo lắng về mặt văn hoá xã hội ở Tây Nguyên. Đây là một vùng văn hoá rất đặc sắc và độc đáo. Tây Nguyên trước hết là rừng. Văn hoá Tây Nguyên có thể nói là văn hoá rừng, là tinh hoa của sự gắn bó của con người với tự nhiên. Tự nhiên ở đây là rừng, “rừng của làng.” Đơn vị xã hội cơ bản của Tây Nguyên là làng, “làng rừng.” Có thể nói, đất và rừng là nền tảng văn hoá của Tây Nguyên.”

Nhà văn Nguyên Ngọc cũng nhận định, là nếu nền tảng “đất và rừng” mất đi, văn hoá Tây Nguyên sẽ tan: “Một xã hội, một dân tộc mà văn hoá bị tan đi, thì xã hội không thể ổn định, và thậm chí các dân tộc không thể tồn tại” : “Ở Đắk Nông chẳng hạn, bô-xít có tầng quặng mỏng, độ phân giải vì vậy rất rộng, chiếm 2/3 diện tích sẽ bị “bóc” rừng. Phá rừng, thì với Tây Nguyên, “tế bào cơ bản của xã hội,” hay “không gian sinh tồn của làng,” sẽ tan. Theo đó, con người cũng sẽ không tồn tại.”

Một chi tiết trong bức thư mà đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm nay gần 100 tuổi, gởi ông Nguyễn Tấn Dũng, có một chi tiết đáng để ý. Đó là: “…nên mời thêm các tư vấn chuyên ngành quốc tế có nhiều kinh nghiệm phối hợp với các nhà khoa học và nhà quản lý của nước ta cùng thẩm định cho khách quan… xem xét, cân nhắc kỹ càng, không thể chỉ dựa vào đề xuất của các Bộ hay tập đoàn kinh tế.”

Tiến sĩ Phạm Duy Hiển, cũng trong một phát biểu với đài chúng tôi, nói rằng vấn đề khai thác bauxite, chính phủ “đã quyết rồi thì khó thay đổi quyết định.”

Vấn đề đặt ra là, ai đã quyết định, và tiến trình đi đến quyết định ấy, diễn ra như thế nào? Người dân, thông qua Quốc Hội, có tiếng nói như thế nào trong những vấn đề liên quan đến chính họ? Và tất cả những chuyến đi Nga, đi Trung Quốc, của lãnh đạo Việt Nam, nhằm ký kết hoặc chứng nhận lễ ký kết các biên bản ghi nhớ khai thác bauxite, đã được công khai đến đâu?

Liệu có cơ hội cho một sự phủ quyết hay không? Nếu có, quyền ấy thuộc về ai?

Quy hoạch khai thác quặng bô-xít ở Đắk Nông : Sức ép của Trung Quốc và trách nhiệm của TBT Nông Đức Mạnh.

Nguyên Phong 11-02-2009

Mặc dầu bị kiểm duyệt và khiển trách, từ tháng 10-2008 đến nay, báo chí Việt Nam đã công bố nhiều phát biểu, kiến nghị của các nhà khoa học, nghiên cứu, văn hoá và cách mạng lão thành yêu cầu dừng ngay dự án khai thác quặng bô-xít ở Đắk Nông với Trung Quốc.

Những tài liệu được công bố đưa ra những luận cứ xác đáng cho thấy tai hại và nguy cơ về nhiều mặt của dự án này : phi kinh tế, tiếp tục bán rẻ tài nguyên, đi ngược chủ trương phát triển bền vững, gây ra những hậu quả ghê gớm là phá hoại môi trường (làm cạn kiện nguồn nước của một khu vực đang đứng trươc nguy cơ thiếu nước ; biến Đắk Nông thành một vùng bùn đỏ), huỷ diệt không gian sinh tồn, xã hội và văn hoá của đồng bào các dân tộc hiện đang sinh sống ở Đắk Nông (1) .

Điều mà các tài liệu ấy không dám nói tới hoặc chỉ nói bóng gió là nguy cơ về an ninh, quốc phòng : sự có mặt của nhân viên Trung Quốc (hiện là hàng trăm, sẽ lên tới từ 10.000 đến 20.000 người, có nhiều dấu hiệu chứng tỏ đây là những quân nhân mặc thường phục) tại «nóc nhà của Đông Dương», một khu vực mà ngay thời kỳ thịnh trị nhất của chế độ Pol Pot, Trung Quốc cũng chưa thể có mặt.

Trong cuộc họp báo ngày 4-2, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã biện minh cho dự án sai lầm nguy hiểm này bằng cách nói rằng dự án này “đã được nêu trong nghị quyết đại hội X của Đảng và Bộ chính trị đã ba lần nghe, kết luận về phát triển bô-xít Tây Nguyên”. Nhưng, như Hoà Vân đã chỉ rõ trong bài Bô-xít và Tây Nguyên (đã đăng trên Diễn Đàn), nếu trong báo cáo kinh tế được Đại hội X thông qua có một câu “căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, như : lọc hoá dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hoá chất, xi măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo”, thì chính Đại hội X ấy cũng đã thông qua Bản báo cáo chính trị (quan trọng hơn) trong đó không còn chuyện bô-xít nữa, mà thậm chí còn nhấn mạnh “có chính sách hạn chế xuất khẩu tài nguyên thô”.

Tìm lại các văn kiện của đảng Cộng sản Việt Nam trong 10 năm qua, càng thấy rõ phương án bô-xít Tây Nguyên này do Trung Quốc đề ra từ năm 2001 và liên tục làm sức ép đối với Việt Nam. Và trong việc này, trách nhiệm của cá nhân tổng bí thư Nông Đức Mạnh là không thể chối cãi.

Thật vậy, trong “Tuyên bố về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới giữa nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” công bố ngày 25-12-2000 (lúc đó tổng bí thư ĐCS VN là Lê Khả Phiêu, ĐCS Trung Quốc là Giang Trạch Dân) hoàn toàn không nói gì tới khai thác quặng bô-xít, mà thậm chí còn nhấn mạnh tới việc hợp tác khoa học kĩ thuật trong cả lĩnh vực “bảo vệ môi trường” (x. toàn văn tuyên bố trên mạng của Đại sứ quán VN tại Hoa Kì).

Lần đầu tiên danh từ bô-xít xuất hiện là ngày 3-12-2001 trong “Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh” (xem toàn văn : mạng của Đại sứ quán Việt Nam tại Hoa Kì) cụ thể là trong điểm thứ 6 :

“6- Hai bên xác định trong thế kỷ mới cần tiếp tục tăng cường và mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học-kỹ thuật và các lĩnh vực khác giữa hai nước theo phương châm bình đẳng, cùng có lợi, chú trọng hiệu quả, bổ sung ưu thế cho nhau, hình thức đa dạng, cùng nhau phát triển; tích cực khuyến khích và ủng hộ các doanh nghiệp hai bên khai thác thêm thị trường hàng hóa của hai nước, tăng cường đầu tư và hợp tác, mở rộng quy mô hợp tác kinh tế và kỹ thuật, thực hiện các dự án hợp tác đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội thiết thực. 

Nhân dịp này, hai bên đã ký Hiệp định khung giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về việc Trung Quốc cung cấp cho Việt Nam khoản tín dụng ưu đãi và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật giữa Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ; và nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắk Nông

Việt Nam nhiệt liệt chúc mừng Trung Quốc trở thành thành viên Tổ chức thương mại thế giới. Trung Quốc tích cực ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới.”

Trước hết, một nhận xét về hình thức : cả đoạn này nói về khuôn khổ chung hợp tác hợp tác “kinh tế, thương mại, khoa học kĩ thuật và các lĩnh vực khác”, nhưng bỗng nhiên lại gài một điểm cụ thể, và chỉ một điểm đó thôi “nhất trí sẽ tích cực thúc đẩy các doanh nghiệp hợp tác lâu dài trên dự án bô-xít nhôm Đắk Nông”. Có lẽ đây là một văn kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử ngoại giao quốc tế : tại bất cứ một trường ngoại giao nào, nếu một sinh viên viết một tuyên bố chung như vậy, chắc sẽ bị đánh trượt và đưa ra khỏi trường ngay lập tức.

Vậy mà văn kiện đó đã được kí kết và công bố. Điều chắc chắn là “dự án bô-xít nhôm Đắk Nông” này không do phía Việt Nam nêu ra, và “Bộ chính trị” chưa hề “nghe”, chứ chẳng nói gì là “kết luận”. Vậy thì đó là đề nghị của Trung Quốc. Câu hỏi đặt ra : tổng bí thư Nông Đức Mạnh có đọc thấy câu văn quái gở ấy trước khi đặt bút kí không ?

Bốn năm sau, tháng 11-2005, ông Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam. Thông báo chung công bố ngày 2-11-2005 (xem bản tin của VietNamNet) không thấy nói gì tới việc này (2) .

Tháng 11-2006, ông Hồ Cẩm Đào sang Việt Nam chuyến nữa. Lần này thông báo viết : “Từng bước cải thiện cơ cấu mậu dịch, cố gắng thực hiện phát triển cân bằng và tăng trưởng bền vững thương mại hai chiều. Tích cực ủng hộ và thúc đẩy doanh nghiệp hai nước hợp tác lâu dài và cùng có lợi trong các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, khai thác nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác. Khẩn trương bàn bạc và thực hiện các dự án lớn như bô-xít Đắk Nông…”. Một lần nữa, dự án Đắk Nông lại được nêu ra, và chỉ có nó được kể tên. Hai chữ “tích cực” của năm 2001 (khi ông Mạnh đặt bút kí lần đầu) nay được thay bằng “khẩn trương”. Thôi thúc như đòi nợ, hay mệnh lệnh, uy hiếp ? 

Tóm lại, do sự nhẹ dạ năm 2001, lãnh đạo ĐCSVN, đứng đầu là tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã tự đặt mình vào một thế lưỡng nan : chịu sức ép của Trung Quốc, thực hiện dự án Đắk Nông, thì sẽ phạm một sai lầm và tội ác to lớn, và sẽ mất hết uy tín trong dân và trong đảng, và sẽ bị cộng đồng quốc tế khinh bỉ ; huỷ bỏ dự án này, thì sẽ bị Trung Quốc trả đũa, thậm chí dùng những biện pháp săng-ta với những cá nhân lãnh đạo.

Tuy nhiên, trong mọi cuộc săng-ta, kẻ làm săng-ta cũng phải tính tới lợi ích xa hơn là lợi ích trước mắt. Nếu đủ sáng suốt, ông tổng bí thư, hay ít nhất các đồng chí của ông trong Bộ chính trị, cũng có thể kiên trì giải thích cho ông Hồ Cẩm Đào thấy bàn tay quá lộ liễu của Trung Quốc sẽ gây ra những phản ứng dây chuyền có thể làm cho họ mất cả chì lẫn chài.

Về phần công luận Việt Nam, tất nhiên không có cách nào khác hơn là nghiêm chỉnh tố cáo một sai lầm, một tội ác, ở thời điểm này, còn tránh được.

(1) Ngoài những bài đã đăng hay được giới thiệu trên Diễn Đàn, độc giả có thể đọc thêm bài của Nguyễn Trung trên Tuần Việt Nam và của Dương Thanh Tùng trên mạng của Cơ quan thanh tra Chính phủ.

(2) Theo những nguồn tin “nội bộ” đáng tin cậy, thì trong chuyến đi này, ông Hồ Cẩm Đào đã yêu cầu gặp toàn thể Bộ chính trị ĐCS Việt Nam. Tại cuộc gặp này, họ Hồ nói một câu đại ý : Trung Quốc không can dự vào việc sắp xếp nhân sự sắp tới của Đại hội X, nhưng chỉ yêu cầu “một điều”, là “không thay đổi tổng bí thư”. 5 tháng sau, ông Nông Đức Mạnh tái cử tổng bí thư ĐCSVN (tháng 4-2006).

Bauxite : Thế trận xôi đậu

Đỗ Thái Nhiên 13-02-2009

Ngày 04-02-2009, trong một cuộc họp báo diễn ra tại Hà Nội, thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước”. Nhà nước là con đẻ của đảng. Đảng là một tổ chức của tư nhân. Đảng và nhà nước không do người dân tự do bầu ra. Đảng và nhà nước hoàn toàn không đại diện cho người dân. Đảng và nhà nước hiển nhiên là một chế độ phi chính thống.

Vì vậy cái mà Nguyễn Tấn Dũng lớn tiếng gọi là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước” chỉ là một nhóm chữ trống rỗng. Nó triệt để vô nghĩa về măt pháp lý. Trên căn bản trống rỗng và vô nghĩa kia, CSVN vẫn liều lĩnh biến chương trình khai thác bauxite tại Việt Nam thành hành động cụ thể. Quặng bauxite được dùng để chế biến nhôm. Trung bình 4 tấn quặng bauxite sản xuất được một tấn nhôm và thải ra 3 tấn đất bùn đỏ, một loại chất thải hóa học cực kỳ độc hại đối với môi sinh.

Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu những suy nghĩ của cá nhân và đoàn thể cùng với những tin tức từ thực tiễn đời sống của các nơi trên thế giới đối với công việc khai thác bauxite. 

A. Chối bỏ bauxite trong suy nghĩ

1. COMECON (CMEA: Council Of Mutual Economic Assistance) là Hội đồng Tương trợ Kinh tế của 11 quốc gia trong khối Xã hội Chủ nghĩa. Hội đồng này do Liên Sô thành lập năm 1949, giải tán năm 1991. Thập niên 1980 mặc đầu Liên Sô rất cần quặng bauxite để nhanh chóng công nghiệp hóa quốc phòng, thế nhưng đại diện 11 quốc gia trong COMECON vẫn bảo cho CSVN biết là việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên Việt Nam chẳng những giết chết Tây Nguyên mà còn làm cho toàn vùng Nam Trung bộ thường xuyên đối đầu với hạn hán hoặc lũ lụt. Hồi bấy giờ Hà Nội nghe theo lời khuyên của COMECON.

2. Ngày 05-01-2009 tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư cho Nguyễn Tấn Dũng, nói rõ ý kiến chống lại việc CSVN mở cửa cho Trung Quốc vào Việt Nam khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Đầu thập niên 1980 tướng Giáp là đại diện của CSVN tai COMECON. Vì vậy ông Giáp là người có đầy đủ hiểu biết để nói về bauxite Tây Nguyên. Đặc biệt thư của tướng Giáp còn nhấn mạnh : “Trong tháng 12-2008 đã có hàng trăm công nhân Trung Quốc đến Tây Nguyên để bắt tay vào việc khai thác bauxite. Mỗi công trường bauxite sẽ có tới hàng ngàn công nhân”.

3. Ngày 22-10-2008 tỉnh Đắk Nông Tây Nguyên có tổ chức một cuộc hội thảo về bauxite Tây Nguyên. Tại cuộc hội thảo này, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Sơn, giám đốc công ty Năng lượng Sông Hồng, thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than & Khoáng sản Việt Nam cho biết: “Nhôm không là kim loại quý, chưa có quốc gia nào coi bauxite là khoáng sản chiến lược để dốc sức khai thác như Việt Nam. Công cuộc khai thác bauxite Tây Nguyên chỉ nhằm phục vụ các đại gia luyện nhôm nước ngoài vốn không muốn tốn nhiều chi phí cho việc khai thác”.

4. Vẫn từ cuộc hội thảo Đắk Nông, ông Nguyên Ngọc, cựu đại tá bộ đội CSVN, cựu tổng biên tập báo Văn Nghệ, phát biểu ý kiến: “Chúng ta đã hành động ở Tây Nguyên rất thản nhiên… Thậm chí, có thể nói chúng ta đã làm mọi việc ở Tây Nguyên như là trên một vùng đất không người”. Nguyên Ngọc không ngần ngại nhắc tới biến cố 30-04-1975 đi kèm với những chỉ trích nghiêm khắc : “Theo tôi, chúng ta đang đứng trước một quyết định mất còn. Và sẽ rất kỳ lạ nếu chúng ta làm chuyện quá ư to lớn này ở đây mà không hề nghĩ, không hề nhớ đến những gì đã diễn ra trong 30 năm qua. Những bài học lớn, sâu và cay đắng 30 năm ấy còn để lại, sờ sờ ra đấy, rất có thể lại dạy ta lần nữa; và thường vẫn vậy, lần sau bao giờ cũng nghiêm khắc hơn lần trước”.

Căn cứ vào nhiều góc nhìn khác nhau, quyết định được NguyễnTấn Dũng long trọng gọi là “chủ trương lớn của đảng và nhà nước” bị chống đối từ rất nhiều phía. Do giới hạn của một bài tiểu luận, bài này chỉ có thể trích dẫn bốn ý kiến chống đối điển hình.

B. Chối bỏ bauxite trong thực tiễn đời sống

Phản ứng của một số quốc gia trước những hậu quả tệ hại đối với môi sinh do bauxite gây ra.

1. Ấn Độ là nước có trữ lượng bauxite đứng thứ sáu của thế giới. Chính phủ Ấn Độ cấp giấy phép cho 13 công ty đa quốc gia khai thác bauxite tại tiểu bang Orissa. Công việc khai thác này đã gây tác hại cho 60.000 cư dân trong vùng. Đồng thời hủy diệt hoàn toàn 1000 ha đất canh tác. Năm 2004 dân chúng Ấn Độ nổi dậy thành một phong trào lớn chống đối những công ty khai thác bauxite trên lãnh thổ Ấn Độ.

2. Báo Chinanews của Trung Quốc loan tin: từ 2004-2008 cho đến nay, ví lý do bảo vệ môi sinh, Trung Quốc đã đóng cửa 100 mỏ bauxite thuộc tỉnh Hà Nam. Đặc biệt trong 100 mỏ kia có một mỏ chỉ hoạt động hơn một năm là phải đóng cửa, vì mỏ này đã làm ô nhiễm môi sinh trầm trọng hơn hẳn mức dự đoán.

Nhìn chung lại, ý kiến của khoa học gia cũng như ý kiến của các bậc thức giả cộng với thực trạng tệ hại của công việc khai thác bauxite tại Ấn Độ và nhất là tại Trung Quốc đã đưa dẫn công luận đi đến kết luận rằng: Sự việc Trung Quốc khai thác bauxite tại Tây Nguyên chắc chắn sẽ tạo ra những nguy hại cực kỳ nghiêm trọng.

Những nguy hại kia to lớn gấp nghìn lần mớ quyền lợi kinh tế được thổi phồng bởi chế độ Hà Nội. Khai thác bauxite bị chối bỏ trong suy nghĩ cũng như trong thực tiễn đời sống. Tại sao Nguyễn Tấn Dũng vẫn lớn tiếng khẳng định: “Việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước” ? Câu hỏi tại sao vừa rồi kéo theo một số câu hỏi tại sao khác:

- Thứ nhất: Tại sao Trung Quốc vào Việt Nam khai thác bauxite trong khi Bắc Kinh lại đóng cửa 100 mỏ bauxite trên lãnh thổ của Trung Quốc?

- Thứ hai: những công ty ngoại quốc khi vào Việt Nam kinh doanh như : Đại Hàn, Đài Loan, Nhật Bản, Mỹ, Pháp đều phải thuê mướn công nhân Việt Nam. Tại sao Trung Quốc lại được quyền sử dụng công nhân Trung Quốc?

- Thứ ba: ngày 04-02-2009, tại Hà Nội, Nguyễn Tấn Dũng long trọng cam kết trước báo chí rằng song song với sự việc Trung Quốc vào Tây Nguyên, “an ninh quốc gia vẫn được bảo đảm”. Tại sao không có những bảo đảm tương tự khi Đài Loan, Đại Hàn, Nhật Bản vào Việt Nam kinh doanh ?

Tại sao các vấn đề: “Bauxite, Trung Quốc và an ninh quốc gia” lại có liên hệ chặt chẽ với nhau? Phải chăng “Đừng nghe những gì CS nói, hãy nhìn kỹ những gì CS làm”. Phải chăng CS nói bảo đảm an ninh có nghĩa là CS thả nổi cho Trung Quốc được tự do tác yêu, tác quái tại Tây Nguyên ?

Tất cả những câu hỏi tại sao nêu trên, xin được trả lời như sau: Lịch sử bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc là lịch sử xâm lăng và chống xâm lăng. Có ba hình thức xâm lăng.

1. Xâm lăng thô thiển: Tàu kéo quân vào Việt Nam, chiếm đóng Việt Nam, đồng thời dùng “Hệ thống hành chánh thái thú” để trực tiếp cai trị Việt Nam. Đó là thời kỳ Bắc thuộc một, Bắc thuộc hai, Bắc thuộc ba. Đó là 1000 năm Tàu thuộc.

2. Xâm lăng tinh vi: Người Tàu nuôi và dạy CSVN thành một chế độ vừa triệt để độc tài đối với quần chúng Việt Nam, vừa triệt để tuân hành mọi loại mệnh lệnh của Trung Quốc. Thay vì trực tiếp cai trị Việt Nam bằng chế độ thái thú thời 1000 năm Tàu thuộc, từ 1954... cho đến nay người Tàu gián tiếp cai trị Việt Nam thông qua chế độ bù nhìn CSVN.

3. Xâm lăng xóa tên hay còn gọi là xâm lăng theo chiến thuật xôi đậu : Khu vực Thái-Mèo gồm các tỉnh Lào Cay, Yên Bái, Sơn La và Lai Châu. Thái-Mèo bắc giáp Trung Quốc, tây và nam giáp Ai Lao, đông nam giáp vùng Mường, Hòa Bình, đông giáp núi Phan Xi Păng. Ngày 29-04-1955 bằng sắc lệnh số 230/SL, Hồ Chí Minh thành lập khu tự trị Thái Mèo.

Năm 1962 Khu tự trị Thái Mèo đổi tên thành Khu tự trị Tây Bắc. Ngày 27-12-1975 qui chế tự trị bị bãi bỏ nhưng tinh thần tự trị vẫn còn nguyên. Có thể nói được rằng khu Thái Mèo là vùng trái độn dọc biên giới Việt Hoa. Nơi đây, thời bình, người Việt và người Hoa chung sống an vui. Thế nhưng, vào lúc Trung Quốc thực hiện âm mưu xâm lăng Việt Nam thì khu Thái Mèo tự trị là quả mìn gài sẵn trên lãnh thổ Việt Nam.

Hẳn nhiên chương trình thôn tính Việt Nam đòi hỏi Trung Quốc phải tạo ra càng nhiều khu tự trị càng tốt. Có hai loại khu tự trị cần tìm hiểu :

- Một là những khu tự trị tay sai của Trung Quốc : để thực hiện gian mưu này, Trung Quốc kích động, nuôi dưỡng và phát triển một số đối tượng đứng lên đòi hỏi quyền thành lập khu tự trị. Những đối tượng kia có thể là: đồng bào thượng Tây Nguyên, tổ chức Fulro Tây Nguyên, dân tộc Chàm Ninh Thuận, An Giang, Tây Ninh, dân tộc Khmer Krom Trà Vinh, Bạc Liêu và một số tỉnh thành miền Tây, Nam phần Việt Nam…

- Hai là những khu tự trị mà đa phần cư dân là người Hoa hay người Việt gốc Hoa : Ngoài Bắc có các tỉnh ranh giới Việt Hoa. Trong Nam có: Chợ Lớn, Rạch Giá, Bạc Liêu và rất nhiều địa phương miền Tây Nam phần Việt Nam. Nhằm tăng nhanh số lượng khu tự trị loại này, Trung Quốc với sự tiếp tay của chế độ Hà Nội đang nỗ lực gầy dựng những khu tự trị người Hoa dưới chiêu bài khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên.

Mỗi một mỏ bauxite với nhiều chục ngàn công nhân Trung Quốc sẽ là một khu tự trị của người Hoa… Trong tương lai, ngoài bauxite, Trung Quốc có thể lấy nhiều chiêu bài khác nhau để tạo ra nhiều khu tự trị loại một và loại hai trên khắp lãnh thổ Việt Nam.

Nếu đất nước Việt Nam là một đĩa xôi trắng thì mỗi khu tự trị vừa diễn tả là một hạt đậu đen. Chừng nào đậu đen đè bẹp xôi trắng về mặt số lượng và/hoặc về mặt thế lực chính trị, chừng đó đậu đen sẽ nắm quốc hội, sẽ chiếm giữ guồng máy quyền lực chính trị của Việt Nam.

Xin đừng quên rằng : Trung Quốc khởi sự đánh phá Việt Nam Cộng Hòa bằng cách nhào nặn ra Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Ngày nay mỗi hạt đậu đen là một Mặt trận Giải phóng Miền Nam năm xưa. Không cần một tiếng súng, chỉ cần lãnh thổ Việt Nam tràn ngập đậu đen. Quốc hội Việt Nam bị đậu đen nắm giữ.

Với hai yếu tố này, về mặt quyền lực chính trị cũng như về mặt cấu trúc hành chánh, Việt Nam đương nhiên biến thành một đơn vị hành chánh của quốc gia Trung Hoa. Quốc gia Việt Nam vĩnh viễn bị xóa tên trên bang giao quốc tế cũng như trên bản đồ thế giới.

Đó là ý nghĩa sau cùng của nhóm chữ “Xâm lăng theo chiến thuật xôi đậu”.

Vấn đề không là bauxite hay không bauxite. Vấn đề chính là bauxite chỉ là tấm màn thưa được CSVN dùng để che đậy kịch bản chế độ Hà Nội mở cửa cho người Tàu tiến vào lãnh thổ Việt Nam. Trên tay mỗi tên Tàu là một túi đậu đen. Sau lưng mỗi tên Tàu là một kẻ hầu cận mang nhãn hiệu cờ đỏ sao vàng.

1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9

 

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter