s

lich su viet nam - lịch sử việt nam

Trang Chính

Blog Cá Nhân:

Blog Anh Ba Sàm:

Blog Cầu-Nhật-Tân:

Blog Cu-Làng-Cát:

Blog Dân Làm Báo:

Blog Dân Oan Bùi-Hằng:

Blog Giang-Nam Lãng-Tử:

Blog Lê-Hiền-Đức:

Blog Lê-Nguyên-Hồng:

Blog Lê-Quốc-Quân:

Blog Mai-Xuân-Dũng:

Blog Người Buôn Gió:

Blog Phạm-Hoàng-Tùng:

Blog Phạm-Viết-Đào:

Danh Nhân Lịch Sử Việt Nam

Death By China:

Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Văn Hóa

Ngàn Năm Thăng Long (1010 - 2010)

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Tộc Việt

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

Lịch Sử Việt Nam Cộng Hòa (1946-2014...)

Quân Sử Việt Nam

Thiên Tài Quân Sự Việt Nam

Thần Việt Điện Tân U Linh Việt Điện 2010

Thời Sự Quốc Tế  

Tóm Tắt Lịch Sử Việt Nam

- Lịch Sử Việt Nam Phần 1 từ khởi đầu đến năm 1955

- Lịch Sử Việt Nam Phần 2 từ 1955 đến 1973

- Lịch Sử Việt Nam Phần 3 từ 1973 đến 2014

Trang Cá Nhân

Trang Thơ Văn nguyễn-duy-ân:

Trang Thơ Văn Ông Bút:

Trang Thơ Văn Đặng-Quang-Chính:

Trang Thơ Văn Trần-trung-Chính:

Trang Thơ Văn Minh-Di:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Quang-Duy:

Trang Thơ Văn Lưu-Nguyễn-Đạt :

Trang Thơ Văn Trần-Văn-Giang:

Trang Thơ Văn Lu-Hà:

Trang Thơ Văn Lê-Anh-Hùng:

Trang Thơ Văn Dạ-Lệ-Huỳnh:

Trang Thơ Văn Quê-Hương:

Trang Thơ Kita Kha:

Trang Thơ Văn Mặc-Khách:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Khôi:

Trang Thơ Văn Điệp-Mỹ-Linh:

Trang TL Nguyễn-Việt Phúc-Lộc:

Trang Thơ Văn Bình-Minh:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Nhơn:

Trang Thơ Văn Bút Xuân Trần-Đình-Ngọc:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Thái-Sơn:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Văn-Tín:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Thu-Trâm 8406:

Trang Thơ Văn Mai-Hoài-Thu:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Thị-Thanh:

Trang Thơ Văn Nguyễn-Chí-Thiện:

Trang Thơ Văn Phạm-Ngọc-Thái:

Trang Thơ Văn Phan-Văn-Phước:

Trang Thơ Văn Thanh-Sơn:

Trang Thơ Văn Vĩnh-Nhất-Tâm:

Trang Thơ Văn ThụcQuyên:

Trang Thơ Văn Minh-Vân:

Trang Nhật-Hồng Nguyễn-Thanh-Vân:

Trang Thơ Văn Đặng-Huy-Văn:

 

Đang xem báo quân sự quốc phòng việt nam - lichsuvietnam

 

 

Trang Nhà Quân-Sự Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa - Quan Su Viet Nam - Lichsuvietnam - Thập Nhất Đại Thần Tướng Việt Nam -

Lịch Sử Cuộc Chiến Đấu Của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa

40 Lần Quân Lực Một Cựu Chiến Binh Viết Cho Đời Lính

Giao Chỉ - San Jose 2006

Tôi đã từng đọc biết bao lần về lịch sử Ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi lần đọc là một lần khắc khoải, nhưng rồi bụng lại bảo dạ, thôi không than thở nữa. Cho đến lần này vào dịp 40 lần Quân Lực 19 tháng 6 năm 2006, xin gửi đến các chiến hữu một chút tâm sự.

Cũng như quý vị, chúng tôi không thích cái ý nghĩa nguyên thủy của Ngày Quân Lực mà ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ đã khoe rằng, ông là cha đẻ. 

Chẳng phải bây giờ mới nói ra cái chuyện cũ kỹ đó, chúng tôi đã từng viết ra cảm nghĩ ray rứt ngay từ 40 năm về trước.

Số là ngày xưa, ngay sau khi đảo chính ông Diệm, tôi là sĩ quan đại diện Quân Khu I từ miền Đông lên họp Tổng Tham Mưu về đề tài đi tìm một ngày ghi dấu cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Anh em trong ủy ban các cấp ngồi bàn thảo. Lấy biết bao nhiêu ngày tháng lịch sử từ Bắc vào Nam, từ 1950 đến 1965 để đưa ra lựa chọn. 

Suốt cả chiều dài của lịch sử đều là những ngày tháng có liên quan đến việc hình thành quân đội quốc gia, nhưng chẳng chọn được ngày nào cho trọn vẹn ý nghĩa. Cái đắng cay của vấn đề là giai đoạn trước di cư 54, nghị định văn thư và hồ sơ thành lập đơn vị Việt Nam đều bằng tiếng Pháp và từ Bộ Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh đưa xuống. Lệnh cho thành lập các BVN gọi là các tiểu đoàn Việt Nam cũng bằng Pháp văn. Lệnh cho Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam vào Điện Biên Phủ cũng do tướng Pháp ký. Tiểu đoàn trưởng cũng là người Pháp.

Tìm đọc lịch sử Quân Đội Quốc Gia trước thời 1954, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tại Sài Gòn chưa tìm được một ngày cho đủ ý nghĩa của Quân Lực. Sau 1954 thì cũng có một số ngày tháng được trình lên để duyệt xét. Bản phúc trình có ghi lại một số dữ kiện mà ký ức mòn mỏi của tôi còn hình dung được một vài chi tiết như sau:

Thời kỳ 46 - 47, quân đội Liên Hiệp Pháp bắt đầu tuyển mộ tân binh Việt Nam, các đơn vị bổ túc ra đời, các đại đội nhảy dù lính Việt do sĩ quan Pháp chỉ huy. Hiệp ước Hạ Long ngày 6 tháng 6-1948, vua Bảo Đại nhân danh Quốc Trưởng ký với Pháp có điều khoản thành lập Quân Đội Quốc Gia. 

Ngày 1 tháng 6-1949, khóa sĩ quan Việt Nam đầu tiên mở ra tại Huế. Bốn tiểu đoàn Việt Nam thành lập. Trong Nam là tiểu đoàn 1 Bạc Liêu và tiểu đoàn 3 Rạch Giá. Ngoài Bắc, tiểu đoàn 2 Thái Bình và tiểu đoàn 4 Hưng Yên. Tiểu khu Hưng Yên ngày đó là thời kỳ các sĩ quan trẻ gặp nhau. Trung úy Nguyễn Văn Thiệu, trung úy Cao Văn Viên và đại úy Trần Thiện Khiêm. Sau này trở thành tổng thống, thủ tướng và đại tướng tổng tham mưu trưởng. Đến khi tập hợp vào miền Nam, Quân Đội Quốc Gia gia tăng dần lên 60,000 quân nhưng chưa có được một ngày quân lực mang ý nghĩa rõ ràng.

Phía chính phủ trước đó thì đã có ngày Quốc Khánh 26 tháng 10 tổ chức duyệt binh hàng năm ghi dấu Đệ Nhất Cộng Hòa của tổng thống Ngô Đình Diệm.

Sau đó là đến thời kỳ đảo chính và những năm xáo trộn giữa các tướng lãnh với cả chục lần binh biến. Tuy nhiên, sau cùng miền Nam đã gượng gạo nhận ngày cách mạng 1 tháng 11 làm ngày Quốc Khánh mới.

Tiếp theo, với sức ép của Hoa Kỳ và đòi hỏi của dân chúng, các vị tướng lãnh của thời kỳ hỗn loạn chính trị ở miền Nam đã miễn cưỡng lập ra một chính phủ dân sự tạm thời với cụ Phan Khắc Sửu làm quốc trưởng và ông Phạm Huy Quát làm thủ tướng. Tuy nhiên, các vị chính khách dân sự này không đủ bản lãnh để lãnh đạo đất nước trong một hoàn cảnh rất đen tối và phức tạp. Biết bao nhiêu tranh chấp giữa các đảng phái, các tôn giáo và rất nhiều khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ngày một gia tăng và Mỹ ào ạt đổ quân vào Việt Nam để chặn đứng làn sóng đỏ.

Thêm vào đó, quốc trưởng và thủ tướng lại bất đồng ý kiến nên nội các dân sự bèn tuyên bố bỏ cuộc, trao quyền lại cho các tướng lãnh. Các tướng lãnh niên trưởng của chúng ta rất vui mừng họp bàn để nhảy ra chính trường gọi là nhận trách nhiệm lịch sử. Một cách hết sức khách sáo, các xếp vẫn nói là muốn rửa tay chính trị, không ham quyền lực nhưng tình thế bắt buộc phải ra nhận lãnh. Nhân danh quân đội, các đàn anh niên trưởng của chúng tôi vẫn đeo sao trên cổ áo, ngồi hội nghị tranh cãi suốt ba ngày, đưa ông Thiệu, ông Kỳ ra cai trị đất nước gọi là ngày quân đội đứng lên làm lịch sử 19 tháng 6-1965.

Tôi còn nhớ, hôm đó tôi ngồi trên máy bay vận tải C130 của Hoa Kỳ bay từ Sông Bé về Sài Gòn. Chuyện như đùa mà là sự thật. Một viên đạn lẻ loi của địch dưới đất bắn lên lúc phi cơ mới cất cánh, thủng sàn tàu và xuyên qua hàm anh đại úy ngồi cạnh chúng tôi. Khi phi cơ đáp khẩn cấp xuống Biên Hòa, đưa vào bệnh viện thì anh bạn qua đời.

Không bao giờ tôi quên được ngày 19 tháng 6 đó. Tình cảm chân thành với quân đội thì luôn luôn gắn bó, nhưng bảo cái ngày đó là ngày toàn quân đứng lên làm lịch sử thì thưa Thiếu Tướng, Chủ tịch Ủy ban Hành pháp Trung ương, việc này chỉ có các xếp làm với nhau chứ đâu có ăn nhập gì đến toàn quân. Đang nằm ở chiến hào Sông Bé mà lại đứng lên là ăn pháo địch hay là bị bắn sẻ chết ngay, chứ đứng lên làm lịch sử chỗ nào.

Với bút hiệu Lính Chiến, tôi viết báo Chính Luận của Từ Chung trên mục Một tuần vòng chân trời quân sự. Tôi đã đưa quan điểm như trên. An Ninh Quân Đội của Quân Khu ở Thủ Đức đã mời Thiếu tá Vũ Văn Lộc lên hỏi thă mục “Một khỏe. 

Gặp anh bạn quen nói rằng, thôi ông ơi, ông làm ơn nghỉ viết lách cho chúng tôi nhờ. Thời ông Diệm lên thì có 26 tháng 10. Đến thời ông Minh thì 1 tháng 11. Bây giờ ông Kỳ thì chọn 19 tháng 6. Tuy nhiên, ngày đó các xếp đã chọn thì cứ coi như một hẹn ước giữa anh em mình. Bàn làm gì chuyện xa xôi cho thêm phiền. Ông thông cảm với tôi để rồi mời ông về lại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương để làm lịch sử của riêng ông. Viết lách làm gì cho rắc rối.

Đó là anh bạn đại úy An Ninh Quân Đội Thủ Đức đã nói chuyện với tôi đầu năm 1966. Năm đầu tiên có Ngày Quân Lực. Cho đến năm nay là vừa đúng 40 năm. Đúng như vậy, anh bạn cũ nhân danh An Ninh Quân Đội ngày xưa tra vấn tôi, nay đã qua đời. Nhưng lời chiến hữu nói ra vẫn còn ở lại.

Quả thật, 19 tháng 6 hàng năm đối với chúng tôi chỉ là một ngày hẹn ước để gặp nhau. Người tự nhận là khai sinh cho 19 tháng 6 là ông thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ nay đã quay lưng lại anh em. Vị chủ tịch ký giấy ban hành nghị định 19 tháng 6 là trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, nay đã trở thành người thiên cổ.

Vậy thì, nếu đã nhìn thấy những cay đắng của lịch sử như thế thì cái ý nghĩa của ngày 19 tháng 6 của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm ở chỗ nào.

Từ 40 năm trước, tôi đã bình phẩm về sự lựa chọn của ông tướng tàu bay có vẻ chơi ép anh em. Ngày ông xuất chính ra làm quan thủ tướng mà bảo rằng toàn quân phải nhớ mãi về sau thì nghe sao lọt tai.

Nghĩ như thế mà sao mỗi năm đến 19 tháng 6 vẫn thấy lòng rung động. Kỷ niệm 19 tháng 6 lần thứ nhất vào năm 1966 làm trong Bộ Tổng Tham Mưu. Năm sau 1967, duyệt binh lớn ở đường Trần Hưng Đạo. 

Rồi từ đó mỗi năm là có Ngày Quân Lực. Lúc làm quy mô, lúc thì thu hẹp. Cho đến năm 1973, sau khi vừa ký hiệp định Paris thì Tổng Tham Mưu tổ chức một cuộc duyệt binh vĩ đại đã được ghi vào bộ hình lịch sử ngày nay vẫn còn có dịp coi lại trên DVD.

Năm đó chúng tôi tham dự trong ủy ban tổ chức tại Bộ Tổng Tham Mưu. Xin nhắc lại một vài kỷ niệm đáng ghi nhớ.

Trước đó một tuần, anh hùng quân đội từ các đơn vị được chào đón tại thủ đô, dẫn đi thăm các danh lam thắng cảnh và các công xưởng quân đội. Các đoàn thể và thương gia khoản đãi đại tiệc suốt tuần. Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và phái đoàn chính phủ lên làm lễ tại Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. 

Khu Nghĩa Trang Quân Đội vào đầu tháng 6-1973 đã là nơi yên nghỉ gần 15 ngàn chiến sĩ, chiếm một nửa toàn thể khu vực dự trù cho 30 ngàn phần mộ. Các trận đánh khốc liệt từ 1968 Mậu Thân đến 1972 Mùa Hè Đỏ Lửa đều có đại diện Hải Lục Không Quân về nằm dưới lòng đất lạnh.

Tiếp theo ngày 19 tháng 6-1973, các đơn vị Hải Lục, Không Quân, các quân đoàn, các binh chủng, địa phương quân, nhân dân tự vệ, xây dựng nông thôn, thiếu sinh quân và nữ quân nhân đều có mặt tham dự một cuộc diễn hành lịch sử được coi là xuất sắc nhất. Và cũng thật đau thương, đây là cuộc diễn hành cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. 

Đoạn phim được dân Hà Nội coi lén sau 1975 hết sức trầm trồ là đoàn diễn hành nữ quân nhân. Nhịp bước quân hành của các thiếu nữ trong quân phục đã làm cho rung động cô sinh viên văn khoa Nông Thị Thanh Nga. Sau khi xem diễn hành ở đường Trần Hưng Đạo, cô ghi tên vào học niên khóa 1973 - 1974 để sau này ra trường trở thành thiếu úy huấn luyện viên cho đến lúc tan hàng tháng 4-1975.

Ngày nay cô thiếu úy của quân đội Sài Gòn trở thành quả phụ bán hàng rong ở vỉa hè chợ Tân Định. Hàng năm đem vàng hương lên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nhớ về ngày 19 tháng 6.

Nhưng bây giờ chúng ta hãy trở lại với Ngày Quân Lực năm 1973. Sau buổi diễn hành, tổng thống đãi tiệc buổi trưa các anh hùng quân đội tại Dinh Độc Lập. Buổi chiều thủ tướng khánh thành khu triển lãm của Hải Lục Không Quân và các công xưởng tiếp vận. 

Buổi tối là cuộc rước đuốc và xe hoa. Hàng ngàn ngọn đuốc sáng rực đô thành Sài Gòn hoa lệ tưởng chừng như hòn ngọc viễn đông sẽ vĩnh viễn sống mãi với Việt Nam Cộng Hòa. Cùng buổi tối, đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng tiếp tân tại Bộ Tổng Tham Mưu. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, phó tổng thống Trần Văn Hương, thủ tướng Trần Thiện Khiêm, toàn thể nội các, ngoại giao đoàn, phái đoàn quốc hội và các anh hùng quân đội tham dự đêm văn nghệ của biệt đoàn trung ương.

Ngày vui quân lực của cả một thời xưa xa cách 40 năm tưởng chừng như mới hôm qua.

Bây giờ năm 2006 đã trải qua 40 năm quân lực. Nếu ngày 19 tháng 6-1975, đất nước mà còn giữ được thì Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa sẽ có lễ khánh thành đợt sau cùng với Nghĩa Dũng Đài hoàn tất cao ngất từng không, rực rỡ hàng đèn hai bên lối đi. Khu mộ chí tướng lãnh nằm ở vòng trong, rồi đến sĩ quan các cấp và hàng binh sĩ.

Vành khăn tang đã khắc lên các chiến tích anh hùng một thuở. Ba chục ngàn ngôi mộ dành riêng cho đến ngày 30 tháng 4 đã lấp đầy 16 ngàn tử sĩ. Tính đến năm 2006, các gia đình đã cải táng di chuyển lối 8,000 và vẫn còn lối 8,000 ngôi mộ với cỏ gai lấp đầy lối vào.

Ngày 19 tháng 6 năm nay 2006, chỉ còn một số thương phế binh Biệt Khu Thủ Đô lên tảo mộ chui, được đến đâu hay đến đó. Các di vật của Liên Đội Chung Sự và của quân lực đã thu về Viện Bảo Tàng tại San Jose.

Nhân dịp này, xin kể câu chuyện sau cùng để quý vị nghe về chuyện người lính già đến thăm Viện Bảo Tàng vào tuần lễ của Quân Lực lần thứ 40.

Đầu tháng 6-2006, chúng tôi có hai người khách lạ đến thăm. Đúng là hai bố con ông cựu chiến binh. Người cha là trung úy Huỳnh Kim Quang, gần 68 tuổi đi với cô con gái Amy Kim Huỳnh. Cháu cho biết năm nay 24 tuổi.

Mới vừa gặp chúng tôi là ông cựu chiến sĩ Kim Quang gốc Rạch Giá nói chuyện ồn ào. Ông mặc quần áo như dân lao động không nhà, nói lớn tiếng nhưng hơi lộn xộn. Phải thật kiên nhẫn và chú tâm mới hiểu được câu chuyện của người lính già Thủ Đức một thời được biệt phái về dạy hoc. Ông vẫn yêu quân đội nên bắt con chở từ Orange County lên San Jose xem Viện Bảo Tàng.

Ông có mấy món đồ cũ nên cố đi tìm được bà trung tá Hạnh Nhơn giới thiệu để đem đến tặng cho chúng tôi. Ông nói rất lung tung, lãng đãng và không thèm nghe người đối thoại. Chờ một lúc ông mệt nghỉ, chúng tôi quay qua cô con gái rất xinh đẹp từ lâu vẫn ngồi bình tĩnh xem cha nói chuyện với thiên hạ.
Nhờ hỏi chuyện đứa con, chúng tôi mới biết ông Quang hoàn toàn điếc 100% nên không thể đối thoại. Hai vợ chồng quê ở miền Tây có 3 con trai. Vì chỉ là cấp úy biệt phái nên ông đi cải tạo hơn một năm rồi về vượt biên rất sớm. Định cư ở Arizona, hai vợ chồng tần tảo làm việc chân tay sanh thêm được một đứa con gái là Amy. Mẹ cháu chết được 4 năm, gia đình dọn về Orange County.

Amy Kim Huỳnh có lẽ là đứa con gái hiếu thảo nhất của người cựu chiến binh Huỳnh Kim Quang mà chúng tôi biết được. Cháu nói được Việt ngữ do người mẹ truyền lại. Hoàn toàn tự túc trong những năm đại học. Từ khu nội trú của đại học, mỗi tuần em về chở ông già mất vợ đi chợ. Mấy đứa con trai thì đã có gia đình riêng phải lo. Tất cả chỉ còn chờ Amy Kim.

Hè năm nay, cháu Kim vừa hoàn tất 4 năm đại học sẽ học thêm lên chương trình cao học. Được nghỉ mấy ngày con gái hỏi bố muốn con chở đi đâu. Bố con giao thiệp bằng bút đàm Anh ngữ. Bố Kim Quang chợt nhớ về quân đội bèn yêu cầu con chở lên San Jose xem Viện Bảo Tàng. Đứa con gái rất lo ngại nhưng rồi cũng phải theo ý bố.

Ôi cái phòng triển lãm góc đường Park của chúng tôi mời chào bao nhiêu chiến sĩ anh hùng ở San Jose chẳng anh nào thèm đến coi, bây giờ lại có ông lính giáo chức biệt phái, tai điếc đặc đòi con gái lái xe nửa ngày đường đến thăm viếng.

Cháu Amy chưa bao giờ nghe đến IRCC và Viện Bảo Tàng VNCH là cái gì. Hai mươi bốn năm sinh ra và trưởng thành ở Arizona nào đâu biết chuyện Việt Nam. Bố bắt con gái thuê một cái xe Van thật lớn, đem tất cả đồ đạc bỏ lên xe dù là chỉ đi có mấy ngày. Con gái nói là bố cháu không yên tâm để đồ đạc tại cái Apartment Housing một phòng ở Santa Ana.

Thuê xong xe mất hết buổi sáng, cháu lên đường buổi trưa. Amy chưa từng đi xa trên Freeway, chưa từng đi San Jose nhưng rồi cũng tìm đến IRCC thì đã 6 giờ chiều. Cha con tìm Motel nghỉ qua đêm. Sáng đến IRCC quá sớm, cũng chưa ai mở cửa. Ông bố bèn viết lệnh xuống mấy chữ Golden Gate. 

Con gái lại chở bố đi San Francisco. Hai bố con đi thăm thành phố nổi danh của miền viễn Tây, chiều về kẹt xe tìm đến IRCC lại gần 7 giờ. Bố giận con không thèm nói chuyện. Con gái viết xuống mấy chữ giãi bày, bố vất đi không đọc.

Sáng sớm hôm sau, khi chúng tôi đến sở thì đã thấy hai cha con ông khách lạ ngồi chờ từ bao giờ.

Nghe hết câu chuyện đầu đuôi, tôi hết sức thương cảm. Câu chuyện rất tầm thường về một đứa con gái sinh tại Hoa Kỳ mà vẫn còn tình thương với ông bố cựu chiến binh tỵ nạn, với ước mong lẩm cẩm đòi đi cả vạn dặm đường thăm hình ảnh của chiến trường xưa.

Tôi nói với cháu rằng, bố của con xem chừng hơi bất thường. Cô gái Việt Nam bình tĩnh trả lời là không, bố cháu rất OK. Chỉ vì quá nhớ những kỷ niệm xưa nên tinh thần không ổn định.

Hỏi rằng, nhân ngày Father''s Day cháu muốn nói với cha điều gì thì nói đi. Cô sinh viên mới ra trường quay lại nói với bố rằng, con muốn bố có ngày Father''s Day vui vẻ, có chuyến đi thăm Viện Bảo Tàng thật vui.

Đứa con lên tiếng, ông bố nhe răng cười vì không nghe được nên ông đọc mấy vần thơ hết sức lạc đề. Lại nói cháu viết xuống đi. Cháu Amy viết xuống đưa cho bố đọc. Ông lính cũ liếc qua tờ giấy rồi tiếp tục đọc nốt vần thơ.

Cô gái nhỏ nói với tôi, bác viết cho ba con mấy chữ bằng tiếng Việt. Bảo ba đừng giận con nữa vì hôm qua con đi lạc nên đến đây trễ, Bảo Tàng Viện đóng cửa rồi.

Tôi viết mấy hàng chữ Việt ngữ cho người bố. Ông đọc xong mỉm cười.

Tôi dẫn hai cha con thăm một vòng chỗ triển lãm Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Như vậy là ngày 19 tháng 6 lần thứ 40 năm. Tổng thống, thủ tướng và ông tổng tham mưu trưởng cũng không hiện diện. Chỉ còn mình tôi đại diện Bộ Tổng Tham Mưu tiếp phái đoàn khách quý. Người lính cũ chỉ là sĩ quan biệt phái, tai điếc mà đầu óc đã phiêu bồng lãng đãng tìm về quân lực. Đứa con Việt Nam sinh ở Arizona học nói Việt ngữ qua lời ru của bà mẹ đã qua đời. Chở người cha ngơ ngẩn đi tìm chiến hữu.

Trước khi về, ông trung úy Quang Rạch Giá hỏi thăm tôi về đại tá Anh Việt Trần Văn Trọng, vốn là người chiến hữu đồng hương. Tôi nói rằng bác Trọng hiện đang nằm nhà thương khu trọng bệnh không thăm viếng được. Trung úy Quang nói rằng, như vậy thì để kỳ tới ông bắt con gái chở lên thăm. Tôi gật đầu nhưng biết trước rằng với bác Trọng và ông Quang thì e rằng sẽ không có lần sau.

Từ giã Viện Bảo Tàng dang dở, hai bố con lên xe trở về miền Nam.

Trên chiếc xe thuê phía sau chở đầy quần áo cũ, phía trước có tờ giấy chữ của con gái hỏi bố, qua hình thức bút đàm bằng Anh ngữ. Bố ơi, bây giờ bố muốn đi đâu?

Xin các bạn cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa hãy trả lời cho cháu Amy. Bây giờ các bác muốn đi đâu?

Ngày Quân Lực 40 năm sau mà chúng ta vẫn còn thấy được đứa con gái chăm sóc cho bố già cô đơn như vậy thì thực là quý hóa biết chừng nào.

Giao Chỉ - San Jose 2006

Kính Mời Quý Độc Giả Ủng-Hộ Trang Nhà Quân-sự Quốc-Phòng Việt-Nam. Chân Thành Cảm Tạ 

 

 

 

Flag Counter